BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ NA
ĐỀ TÀI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC LY
HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ NA
ĐỀ TÀI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC LY
HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: CH23NC115
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Hồng Bắc
1.2.1. Nguyên tắc giải quyết ............................................................................11
1.2.2. Xác định năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng
dân sự của đương sự .........................................................................................12
1.2.3. Ủy thác tư pháp ......................................................................................13
1.3.Thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài ....................14
1.3.1. Xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam ...........................................14
1.3.2. Thẩm quyền xét xử của Tòa án theo cấp ................................................18
1.3.3.Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ ....................................................19
1.4. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về
thủ tục sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài .......................................19
1.4.1. Giai đoạn trước khi ban hành pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự năm 1989...............................................................................................19
1.4.2. Giai đoạn từ khi ban hành Pháp lệnh năm 1989 đến khi ban hành
BLTTDS 2004 ...................................................................................................20
1.4.3. Giai đoạn từ khi ban hành BLTTDS 2004 sửa đổi đến trước khi ban
hành BLTTDS 2015 ..........................................................................................22
1.4.4. Giai đoạn từ khi ban hành BLTTDS 2015 cho đến nay .........................23
Kết luận chƣơng 1 ...............................................................................................25
Chƣơng 2.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỦ
TỤC GIẢI QUYẾT SƠ THẨM VỤ VIỆC LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI .....................................................................................................................26
2.1. Thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài theo quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành ...........................................................26
2.1.1. Khởi kiện và thụ lý vụ án ........................................................................26
2.1.2. Chuẩn bị xét xử .......................................................................................31
2.1.3. Phiên tòa sơ thẩm ...................................................................................45
2.1.4. Những việc tiến hành sau phiên tòa .......................................................54
2.1.5. Một số vấn đề về ủy thác tư pháp trong giải quyết các vụ án ly hôn
1. BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
2. Luật HN&GĐ
Luật Hôn nhân và gia đình
3. LHYTNN
Vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
4.TAND
Tòa án nhân dân
5.TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
6. HĐXX
Hội đồng xét xử
7. VKS
Viện kiểm sát
8. LTTTP
cách tư pháp đến năm 2020. Bản thân là một công chức Tòa án, là người tiến hành
tố tụng, trực tiếp tham gia giải quyết các vụ việc tranh chấp, trong đó có cả vụ việc
ly hôn có yếu tố nước ngoài; Từ sau khi Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực, đã
có một số thay đổi trong thủ tục giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, cần
phải được đưa ra một cách hệ thống để thuận lợi cho việc học tập nâng cao kiến
thức và áp dụng trong quá trình công tác, tác giả thấy việc đi sâu nghiên cứu các
quy định giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài nhằm phản ánh thực trạng
giải quyết tại tòa án và tìm ra những tồn tại, bất cập của các quy định pháp luật khi
áp dụng trong thực tế và đưa ra những giải pháp hữu hiệu đóng góp vào quá trình
xây dựng pháp luật. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về giải
quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” để làm đề tài cho Luận văn
Thạc sỹ của mình.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, tại Việt Nam có một số công trình nghiên cứu đề cập đến
cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến ly hôn có yếu tố nước ngoài. Một số công
trình tiêu biểu như sau:
2
Về sách, báo:
- Sách tham khảo của Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc (năm 2006):
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội
nhập quốc tế”;
- Ly hôn có yếu tố nước ngoài và vấn đề thẩm quyền của Tòa án Việt Nam của
Tiến sĩ Đỗ Văn Đại, đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2009;
- Vài ý kiến về thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam đối với các vụ án
ly hôn có yếu tố nước ngoài của Th.S Nguyễn Hồng Nam, đăng trên tạp chí Tòa án
nhân dân, số 10/2009.
Các Luận án Tiến sĩ: Một số Luận án đề cập đến khía cạnh pháp luật nội dung
như:
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong
việc giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, quá trình phát
triển của Pháp luật tố tụng của nước ta, đặc biệt là quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự hiện hành về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại tòa án nhân dân (TAND). Từ
đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc
ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân.
Nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận cơ
bản về thủ tục giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Nêu lên
thực trạng của việc áp dụng các thủ tục giải quyết đó trong thực tiễn quá trình giải
quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân. Trên cơ sở đó đưa ra
những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam về thủ tục giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lý luận về
giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, các quy định của pháp luật Việt
Nam về thủ tục giải quyết tại tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện
hành. Đồng thời, luận văn nghiên cứu về thực tiễn giải quyết các vụ việc ly hôn có
yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam; Qua đó có những đề xuất giải pháp để hoàn
thiện pháp luật Việt Nam trong thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu tố
nước ngoài.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về các quy định của
Pháp luật Việt Nam trong giải quyết sơ thẩm các vụ việc ly hôn có yếu tố nước
ngoài tại Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các Nghị quyết hướng
dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (nghĩa là đi sâu nghiên cứu
về mặt Pháp luật tố tụng chứ không đi sâu nghiên cứu về Pháp luật nội dung).
4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp luận, phân
5
Chương 1. Lý luận chung về thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu
tố nước ngoài.
Chương 2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục giải quyết
sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ
tục giải quyết sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam.
6
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT SƠ THẨM VỤ VIỆC
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm về thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài
1.1.1.Khái niệm vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm vụ việc ly hôn
Cách gọi “vụ việc” trong quá trình tố tụng là từ ghép của “vụ án” và “việc”,
BLTTDS 2015 không có khái niệm chính thức về hai vấn đề này nhưng đã có quy
định: các tranh chấp tại các Điều 26, 28, 30, 32 và các yêu cầu quy định tại các Điều
27, 29, 31, 33 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Như vậy, có thể kết luận
được đặc tính của “vụ án” là có xảy ra tranh chấp còn “việc” không có tranh chấp,
chỉ là các yêu cầu để Tòa án công nhận như “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn,
thỏa thuận nuôi con, chia tài sản”, “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật”…
Ly hôn thực chất là mặt trái của quan hệ hôn nhân cũng là mặt không thể thiếu
khi quan hệ hôn nhân đó thực sự tan vỡ; ly hôn chỉ là giải pháp sau cùng khi không
còn khả năng hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng - mục đích hôn nhân không đạt được.
Ly hôn là một trong những quyền cơ bản của con người, việc Nhà nước thừa nhận
chế định ly hôn trong pháp luật là thể hiện sự đảm bảo cũng như tôn trọng quyền tự
do định đoạt của vợ chồng, giúp họ giải quyết những bế tắc, xung đột trong đời
sống hôn nhân. Nhà nước kiểm soát ly hôn bằng pháp luật, mặc dù Nhà nước thừa
trường hợp ngoại lệ thì cha, mẹ, người thân thích có quyền làm đơn xin ly hôn)2. Vợ
chồng khi yêu cầu ly hôn phải tuân theo các quy định của pháp luật và Tòa án là cơ
quan thực hiện việc quản lý nhằm đảm bảo việc ly hôn theo đúng trình tự, thủ tục để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể, cũng như nhằm mục đích bảo
vệ Nhà nước và xã hội. Theo Điều 3 Luật HN&GĐ 2014: “Ly hôn là việc chấm dứt
quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Vụ
việc ly hôn bao gồm cả vụ án ly hôn và việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn,
thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Đối với vụ án ly hôn, khi người khởi
kiện nộp đơn tại tòa án giải quyết ly hôn phải đảm bảo các điều kiện theo quy định
pháp luật (các điều kiện thụ lý) thì Tòa án sẽ nhận đơn và thực hiện các thủ tục tiếp
theo, như vậy từ thời điểm đó vụ án ly hôn được xác lập. Tương tự, đối với việc yêu
cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn: vợ
1
Lê nin, 1980,“Về quyền dân tộc tự quyết”, Toàn tập, tập 25, Nxb. Tiến bộ, Matxicova,tr335.
Xem thêm Khoản 2, Điều 51, Luật HN&GĐ 2014.
2
8
chồng có đơn yêu cầu công nhận, cùng ký tên và gửi đến tòa án để yêu cầu tòa án
công nhận.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm rằng: Vụ việc ly hôn là sự kiện phát sinh tại tòa
án do vợ hoặc chồng có đơn yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn và bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của mình hoặc yêu cầu công nhận sự thỏa thuận của các bên.
1.1.1.2. Khái niệm vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài:
Khoản 2 Điều 464 BLTTDS 2015 quy định: Vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
tố nước ngoài
1.1.2.1. Khái niệm thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực
hiện quyền tư pháp3. Tại Điều 6 Luật tổ chức Tòa án nhân dân cũng đã quy định chế
độ xét xử ở nước ta qua hai cấp: xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Theo Đại từ
điển tiếng Việt, sơ thẩm là “Xét xử lần đầu một vụ việc ở Tòa án cấp thấp”4 và là
giai đoạn đầu tiên giải quyết vụ việc ở Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế không phải
tòa án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm nào cũng phải thực hiện việc xét xử mà
việc giải quyết một vụ việc tại tòa án trải qua các giai đoạn, trình tự tố tụng nhất
định quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Theo trình tự giải quyết sơ thẩm, sau khi
Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, qua hòa giải các đương sự
không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ mở phiên tòa
để xét xử công khai vụ án. Cơ sở của thủ tục sơ thẩm vụ việc ly hôn chính là đơn
khởi kiện vụ án ly hôn hoặc đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Tuy nhiên, đơn đó chỉ được thụ lý sau khi đảm bảo
hình thức đơn, nội dung đơn và làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí. Quyền
và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc ly hôn sẽ phát sinh kể từ thời điểm Tòa
án thụ lý vụ án, việc dân sự (bao gồm vào sổ thụ lý và ra thông báo thụ lý) và giai
đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bắt đầu. Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc có
căn cứ và đảm bảo khách quan, chính xác thì các đương sự trong vụ án có nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Ở
nước ta, từ trước khi ban hành BLTTDS thì đã có nguyên tắc quy định các đương sự
phải cung cấp chứng cứ và Tòa án có quyền thu thập chứng cứ BLTTDS 2015 có
hiệu lực đã nâng vai trò của nghĩa vụ chứng minh của đương sự, đảm bảo cho việc
“tranh tụng” tại Tòa án. Quy định đó phù hợp với nguyên tắc ghi nhận trong Hiến
3
Điều 1, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014.
4
- Tòa án chỉ thụ lý giải quyết LHYTNN nếu quan hệ vợ chồng đó đã được
đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền Việt Nam theo pháp luật Việt Nam hoặc
đã được công nhận và ghi vào sổ hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch 2014 (nếu
kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài).
5
Điều 103 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
11
- Các tài liệu, giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp trong LHYTNN
phải được hợp pháp hóa lãnh sự để được công nhận và sử dụng tại Việt Nam.
- Việc tống đạt các giấy tờ, văn bản tố tụng của Tòa án, lấy lời khai, thu thập
chứng cứ đối với được sự hoặc tài sản ở nước ngoài … được thực hiện theo các
phương thức ủy thác tư pháp (UTTP) cho cơ quan có thẩm quyền của nước được
yêu cầu theo quy định của điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà Việt Nam tham gia hoặc
thông qua con đường ngoại giao. Việc tống đạt bản án, quyết định của Tòa án cho
đương sự ở nước được yêu cầu cũng thực hiện qua con đường UTTP.
- Vấn đề hòa giải trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài ít khi đặt ra, coi như
trường hợp không hòa giải được. Bởi trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, nếu
trong trường hợp hai bên đương sự đều có mặt tại Việt Nam thì việc hòa giải vẫn
tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự, tuy nhiên đối với một số vụ án mà có đương sự ở
nước ngoài, mặc dù Tòa án có thông báo cho đương sự về Việt Nam về phiên hòa giải
nhưng vì lý do nào đó đương sự sẽ không có mặt theo thông báo của Tòa, như vậy sẽ
thuộc trường hợp “ không tiến hành hòa giải được”(Điều 207 BLTTDS 2015).
- Tòa án không phải triệu tập đương sự ở nước được yêu cầu tham gia tố tụng
tại phiên tòa mà chỉ thông báo cho họ biết việc tòa án mở phiên tòa, phiên họp…
khi thông báo thụ lý.
- Việc giải quyết LHYTNN được thực hiện trên nguyên tắc: tôn trọng các
dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các
đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của
Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài (Điều 471 BLTTDS 2015).
Đây là một quy định được áp dụng tránh trường hợp các đương sự cố tình thay đổi
về quốc tịch, nơi cư trú … để trốn tránh việc xét xử của Tòa án, đồng thời nhằm
đảm bảo sự ổn định của quá trình tố tụng.
1.2.2. Xác định năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố
tụng dân sự của đương sự
Đương sự trong LHYTNN phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng
lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các
quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định, còn năng lực hành vi tố
tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy
quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự7. Theo quy định của pháp luật,
6
Trường Đại học Luật Hà Nội ( 2008), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, Tr.307.
7
Điều 69, BLTTDS, 2015.
13
một người được coi có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự khi từ đủ 18 tuổi trở
lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự. Việc xác định năng lực pháp luật tố tụng
dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài như sau:
- Trường hợp người nước ngoài có một quốc tịch thì tuân theo pháp luật của
nước mà người đó có quốc tịch.
- Trường hợp người nước ngoài là người không quốc tịch thì theo pháp luật
9
14
- Tống đạt cho đương sự đang cư trú ở nước ngoài các tài liệu như bản sao đơn
khởi kiện, giấy tờ do các đương sự khác cung cấp, các văn bản tố tụng của Tòa án
như giấy báo, quyết định, bản án và các văn bản khác.
- Lấy lời khai của đương sự và những người tham gia tố tụng khác.
- Thu thập chứng cứ ở nước ngoài, các tài liệu hoặc xác minh các tình tiết của
vụ việc.
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc tương trợ tư pháp: Được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Luật
tương trợ tư pháp (LTTTP), theo đó việc tương trợ tư pháp được thực hiện trên
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến
pháp, pháp luật của Việt Nam và ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên. Trong trường
hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có ĐƯQT về tương trợ tư pháp thì hoạt
động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái
pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. Việc Tòa án Việt
Nam UTTP cho Tòa án nước ngoài và ngược lại phải được lập thành văn bản và gửi
đến cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của ĐƯQT mà Việt Nam
ký kết hoặc gia nhập hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam. Văn bản UTTP
phải có nội dung theo quy định tại Điều 12 LTTTP, đồng thời gửi kèm theo văn bản
ủy thác tư pháp là các giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện ủy thác. Hiện
nay, Bộ Tư pháp Việt Nam là cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam nhận văn bản
ủy thác tư pháp ra nước ngoài và các tài liệu liên quan đến việc ủy thác tư pháp của
các tòa án địa phương.
1.3. Thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài
LHYTNN là một loại vụ việc phức tạp, bởi nó liên quan không chỉ một quốc
gia mà còn có thể liên quan đến nhiều quốc gia. Do đó, vấn đề quan trọng là vấn đề
và gia đình: “… Đối với trường hợp người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với
người nước ngoài mà việc kết hôn đó được công nhận tại Việt Nam, nay người Việt
Nam về nước và người nước ngoài xin ly hôn: a. Trong trường hợp người nước
ngoài đang ở nước ngoài xin ly hôn người Việt Nam mà người Việt Nam còn quốc
tịch Việt Nam và đang cư trú tại Việt Nam, thì Toà án thụ lý giải quyết…”.
Đồng thời tại phần 2.4, mục II Nghị quyết 01/2003 cũng đã hướng dẫn: “ Đối
với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người nước ngoài
đang cư trú ở nước ngoài: Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài,
nhưng người nước ngoài đã về nước mà không còn liên hệ với công dân Việt Nam,
16
nay công dân Việt Nam xin ly hôn, thì Toà án thụ lý giải quyết.” Như vậy, khi công
dân Việt Nam cư trú ở Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết ly
hôn. Người nước ngoài có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn.
Cùng với tinh thần đó, điểm d khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 đã luật hóa
quy định trên như sau: Tòa án Việt Nam giải quyết khi “Vụ việc ly hôn mà nguyên
đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam…”, vậy khi một bên sống tại Việt Nam thì
Tòa án có thẩm quyền giải quyết chứ không thuộc thẩm quyền riêng biệt như trường
hợp hai bên sống ở Việt Nam.
- Cả hai sống ở nước ngoài: Cũng như đã trình bày ở trường hợp một bên
sống ở Việt Nam, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn khi
một bên là công dân Việt Nam ngay cả khi cả hai vợ chồng không thường trú ở Việt
Nam và không phân biệt ai là nguyên đơn, ai là bị đơn. Tiêu chí để xác định thẩm
quyền của Tòa án Việt Nam là một bên trong vụ việc ly hôn có quốc tịch Việt Nam,
bất kể họ cư trú tại đâu. Mặc dù BLTTDS không nêu rõ yếu tố “công dân Việt
Nam”, nhưng có thể hiểu rằng yếu tố đó cần phải xác định tại thời điểm thụ lý vụ
việc để giải quyết. Bởi nếu trước đây họ là công dân Việt Nam, nhưng tại thời điểm
thụ lý họ không còn là công dân Việt Nam thì không thể căn cứ vào quy định đó để
xác định thẩm quyền.
công dân Việt Nam và không bên nào thường trú tại Việt Nam lúc giải quyết ly hôn.
Trước đây, BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) cũng có quy định
khi hai bên đều là người nước ngoài, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết ly
hôn khi bị đơn có tài sản ở Việt Nam, cụ thể điểm b, khoản 2, Điều 410 khi: “Bị
đơn là công dân nước ngoài, người không quốc tịch… có tài sản trên lãnh thổ Việt
Nam”. BLTTDS năm 2015 trên cơ sở kế thừa của BLTTDS năm 2004 đã quy định
tại điểm c khoản 1 Điều 469 “Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam” là vụ án
cũng thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam.
1.3.1.3. Ly hôn có hai bên là công dân Việt Nam
Có thể xảy ra hai trường hợp: một bên ở nước ngoài, một bên ở trong nước và
hai bên đều ở nước ngoài.
Trước khi có BLTTDS 2004 hệ thống văn bản pháp luật của nước ta không có
quy định nào để chứng tỏ rằng Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc
ly hôn trong hai trường hợp trên. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử, Tòa án Việt Nam
đã thụ lý giải quyết ly hôn khi một bên về Việt Nam ly hôn. Thời điểm BLTTDS
11
Khoản 25 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014
18
2004 có hiệu lực, theo điểm g khoản 2 Điều 410 BLTTDS chỉ cần: “Vụ việc ly hôn
mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam ” là Tòa án Việt Nam có thẩm
quyền giải quyết. BLTTDS 2015 kế thừa quy định trên của BLTTDS 2004, chỉ cần
nguyên đơn hoặn bị đơn là công dân Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền
giải quyết (điểm c khoản 1 Điều 469).
1.3.2. Thẩm quyền xét xử của Tòa án theo cấp
Trước đây, quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989
thì “Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án khi có đương sự là