Hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung tại Việt Nam - Pdf 12


Bộ Giáo dục v đo tạo Bộ T pháp

Trờng đại học luật H nội
Tạ thanh Bình

Hon thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán
trên thị trờng giao dịch tập trung
tại việt nam Chuyên ngành : Luật kinh tế
M số : 62 38 50 01 Luận án tiến sĩ
Ngời hớng dẫn khoa học: 1. TS Đinh Dũng Sỹ
2. TS Phạm Trọng Bình



Phản biện 1: Phản biện 2:
Phản biện 3:

Luận án đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà
nớc, họp tại trờng Đại học Luật Hà Nội. Vào hồi giờ ngày tháng năm 2008.
Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia và
Th viện Trờng Đại học Luật Hà Nội
Danh mục các công trình nghiên cứu

trờng diễn ra ngày càng phức tạp và đa dạng hơn, đặt ra nhiều yêu cầu cho
các cơ quan ban hành văn bản pháp luật phải liên tục có sự điều chỉnh và
bổ sung để thích ứng với sự linh hoạt của thực tiễn thị trờng. Đặc biệt, khi
thị trờng bớc vào giai đoạn có những chuyển biến đột phá về chất và
lợng (riêng trong năm 2006, giá trị vốn hóa toàn thị trờng đã đạt gần
30% GDP, vợt xa mức dự báo về giá trị vốn hóa toàn thị trờng tới năm
2010 là 15% GDP nêu tại Chiến lợc phát triển thị trờng chứng khoán đến
năm 2010), những đòi hỏi này lại càng cấp thiết. Điều này đặt ra yêu cầu
phải có những nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện những vấn đề lý
luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động giao
dịch trên thị trờng chứng khoán nói chung, trong đó trọng tâm là thị
trờng giao dịch tập trung, để tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm hoàn
thiện pháp luật điều chỉnh lĩnh vực kinh tế này một cách hiệu quả.
Trong dài hạn, xây dựng thị trờng chứng khoán phù hợp với định
hớng đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nớc là chủ trơng lớn của
Đảng và Nhà nớc ta nhằm tạo lập kênh huy động vốn dài hạn cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Định hớng này đã đợc
khẳng định nhất quán trong văn kiện Đại hội X của Đảng: "Khẩn trơng
nâng cấp và thực hiện các biện pháp đồng bộ để phát triển nhanh thị
trờng chứng khoán thành một kênh huy động vốn dài hạn quan trọng

2
trong nền kinh tế. Hình thành đồng bộ thể chế về thị trờng chứng khoán;
tăng cờng hỗ trợ của Nhà nớc về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đào tạo
nguồn nhân lực, phổ cập kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho công chúng
tham gia thị trờng này". Để thực hiện đợc mục tiêu đó, một trong những
giải pháp quan trọng là xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ và
hiệu quả cho sự vận hành của thị trờng. ở Việt Nam, thị trờng chứng
khoán vẫn còn là một định chế tài chính mới mẻ. Các vấn đề pháp lý điều
chỉnh hoạt động của thị trờng mặc dù đã đợc đề cập tại Luật Chứng

hoàn thiện pháp luật về thị trờng chứng khoán Việt Nam. Các công trình
nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh hoạt động
của thị trờng chứng khoán Việt Nam dới góc độ bao quát, tổng thể, từ đó
đa ra phơng hớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thị trờng chứng
khoán Việt Nam nói chung. Đây là những nền tảng cơ bản cho việc tiếp tục
nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về thị trờng chứng khoán ở những khía
cạnh hẹp hơn nh: pháp luật về công ty chứng khoán; pháp luật về hệ thống
đăng ký, lu ký, thanh toán bù trừ chứng khoán; pháp luật về giao dịch
chứng khoán
Với mục tiêu tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về thị
trờng chứng khoán nói chung và pháp luật về giao dịch chứng khoán nói
riêng, tác giả luận án sẽ tiếp cận vấn đề ở một góc độ đào sâu nghiên cứu
một cách cơ bản, toàn diện, mang tính hệ thống những vấn đề lý luận và
thực tiễn của pháp luật điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị
trờng giao dịch tập trung nhằm đa ra cơ sở khoa học, phơng hớng, giải
pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị
trờng tập trung ở Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và thực tiễn của các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng
khoán trên thị trờng giao dịch tập trung. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất
các phơng h
ớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng
khoán, góp phần vào việc đáp ứng tốt hơn yêu cầu hoàn thiện pháp luật về
chứng khoán và thị trờng chứng khoán tại Việt Nam.
Để đạt đợc mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể sau đây:

4
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh

phân tích về thị trờng giao dịch phi tập trung là để so sánh, làm rõ các vấn
đề cần hoàn thiện đối với thị trờng giao dịch tập trung.

5
Trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ luật học, không có điều kiện
và không thể giải quyết hết mọi vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động
giao dịch chứng khoán trên thị trờng giao dịch tập trung. Vì vậy, khi phân
tích thực trạng pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trờng giao dịch
tập trung ở Việt Nam, tác giả giới hạn phạm vi đánh giá thực trạng pháp
luật thông qua một số văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động giao dịch
của thị trờng giao dịch tập trung còn có những điểm hạn chế, bất cập, gây
ra những ảnh hởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của thị trờng
giao dịch tập trung. Các vấn đề pháp luật khác liên quan tới các lĩnh vực
hoạt động khác của thị trờng hoặc liên quan tới các hoạt động giao dịch
ngoài thị trờng tập trung nh thị trờng OTC hoặc thị trờng tự do là
những vấn đề cần đợc tiếp tục nghiên cứu sâu ở các công trình nghiên cứu
khoa học pháp lý khác.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận án sử dụng phơng pháp luận biện
chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Luận án sử dụng các phơng pháp nghiên cứu khoa học nh: phơng
pháp tổng hợp, phân tích, phơng pháp thống kê, phơng pháp so sánh luật
học, phơng pháp logic và lịch sử, nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn
6. Những điểm mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới sau:
- Luận án nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản
về pháp luật điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trờng
tập trung để tìm ra những nét đặc thù về mặt pháp lý của giao dịch chứng
khoán so với các giao dịch dân sự, thơng mại khác, trên cơ sở đó tìm ra nét

lý luận về pháp luật điều chỉnh các giao dịch
chứng khoán trên thị trờng giao dịch tập trung

1.1. Tổng quan về giao dịch chứng khoán trên thị trờng giao
dịch tập trung
1.1.1. Khái niệm thị trờng giao dịch tập trung
1.1.1.1. Khái niệm thị trờng chứng khoán
Sau khi nghiên cứu các quan điểm, khái niệm về thị trờng chứng
khoán hiện nay, tác giả luận án rút ra nhận xét: dới góc độ pháp lý, khái

7
niệm thị trờng chứng khoán có những đặc trng pháp lý cơ bản của hàng
hoá giao dịch trên thị trờng, đó là: thị trờng chứng khoán là nơi diễn ra
các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán. Chứng khoán đợc
hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu
có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyền
sở hữu. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng
khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng.
1.1.1.2. Thị trờng giao dịch tập trung - khái niệm và nguyên tắc hoạt động
Thị trờng giao dịch tập trung là thị trờng mà các giao dịch đợc tổ
chức tập trung theo một địa điểm vật chất dới dạng các Sở giao dịch
chứng khoán, tại đó ngời mua và ngời bán (hay đại diện và những nhà
môi giới của họ) gặp nhau để tiến hành giao dịch. Thị trờng giao dịch tập
trung vận hành trên cơ sở những quy luật của mọi thị trờng hàng hoá khác
nh quy luật cung cầu và quy luật giá trị. Tuy nhiên, do chứng khoán là
hàng hoá giao dịch trên thị trờng là loại tài sản đặc biệt nên thị trờng
giao dịch tập trung còn vận hành trên cơ sở các nguyên tắc đặc thù khác,
đó là nguyên tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai.
1.1.2. Giao dịch chứng khoán trên thị trờng giao dịch tập trung
1.1.2.1. Khái niệm giao dịch chứng khoán

nhân tố rủi ro rất đặc thù so với các giao dịch dân sự thơng mại khác, đó
là rủi ro hệ thống. Do vậy, pháp luật phải quan tâm điều chỉnh nhằm kiểm
soát và hạn chế tối đa khả năng xảy ra rủi ro trên thị trờng chứng khoán.
(3) Chủ thể giao dịch không xác định do việc giao dịch không đợc
tiến hành trực tiếp giữa các bên mà thực hiện thông qua hệ thống giao dịch
điện tử tại Sở giao dịch chứng khoán. Do vậy, khác với các giao dịch dân sự
thơng mại thông thờng, việc thực hiện giao dịch chứng khoán nhắm tới chủ
thể đích danh là những giao dịch có tính chất đặc thù và phải có cơ chế kiểm
soát đặc biệt để không vi phạm nguyên tắc bình đẳng của thị trờng.
(4) Xung đột lợi ích đan xen phức tạp trong giao dịch, bao gồm nhiều
dạng: xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia giao dịch với nhau, xung
đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia giao dịch và các tổ chức trung gian thị
trờng, xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia giao dịch và các tổ chức
cung ứng dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên thị trờng. Do vậy, phải xử lý hài
hòa các mối xung đột về lợi ích nhằm đảm bảo tối đa tính công bằng, công
khai và minh bạch của thị trờng.

9
1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh giao dịch
chứng khoán trên thị trờng giao dịch tập trung
1.2.1. Nguồn của pháp luật về giao dịch chứng khoán
Ngoài các quy phạm pháp luật chuyên ngành và các quy phạm pháp
luật chung có liên quan tới giao dịch chứng khoán, quy chế của các tổ chức
tự quản và các quy phạm quy tắc và tập quán có vai trò đặc biệt quan trọng
và có tính bổ trợ cho các quy phạm pháp luật trong việc điều chỉnh các
hoạt động của thị trờng chứng khoán. Quy chế của các tổ chức tự quản và
các quy phạm quy tắc và tập quán đợc coi là những nét đặc thù riêng
trong việc quản lý bằng pháp luật đối với thị trờng chứng khoán so với các
lĩnh vực pháp luật khác của nền kinh tế.
1.2.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về giao dịch chứng khoán

gian đáo hạn dới 1 năm), còn hàng hóa của thị trờng chứng khoán là các
chứng chỉ ghi nhận đầu t hoặc nợ dài hạn.
1.2.2.3. Pháp luật về chủ thể tham gia giao dịch
Chủ thể của giao dịch chứng khoán là nhà đầu t (ngời mua hoặc
ngời bán chứng khoán). Ngoài ra còn có một chủ thể đặc thù trong mọi
giao dịch chứng khoán trên thị trờng tập trung: đó là các công ty chứng
khoán nhà trung gian môi giới giao dịch. Chính chủ thể này làm nên sự
khác biệt giữa giao dịch chứng khoán trên thị trờng chứng khoán tập trung
và giao dịch chứng khoán trên các thị trờng khác.
Pháp luật về chủ thể tham gia giao dịch bao gồm:
a). Pháp luật về công ty chứng khoán: pháp luật của hầu hết các nớc
đều dành cho công ty chứng khoán một sự kiểm soát và điều chỉnh đặc biệt
so với các chủ thể tham gia thị trờng khác, đặc biệt là các quy định nhằm
kiểm soát khả năng xảy ra xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán và
khách hàng. Nhìn chung, pháp luật về chứng khoán của các nớc đều quy
định những nguyên tắc tổ chức và hoạt động đối với các công ty chứng
khoán nhằm mục đích: (i) bảo vệ nhà đầu t; (ii) bảo đảm sự công bằng,
hiệu quả và minh bạch của thị trờng và (iii) giảm thiểu rủi ro hệ thống
trên thị trờng.
b). Pháp luật về nhà đầu t, gồm các chủ thể:
- Nhà đầu t cá nhân: là đối tợng đợc pháp luật quan tâm bảo vệ
nhất do họ thờng đợc coi là đối tợng đầu t không chuyên nghiệp với
quy mô vốn đầu t thấp và dễ bị tổn thơng trớc những biến động của thị

11
trờng. Do vậy, một số nớc có những đạo luật chuyên biệt nhằm bảo vệ
quyền lợi của các nhà đầu t cá nhân bên cạnh việc bảo vệ thông qua các
đạo luật chung về hoạt động của thị trờng chứng khoán khác.
- Nhà đầu t có tổ chức bao gồm các quỹ đầu t, quỹ hu trí, công ty
tài chính, công ty bảo hiểm, các ngân hàng, các quỹ đầu t Đây chủ yếu

ngành. Tuy nhiên, xu hớng liên kết giữa các hệ thống bù trừ và thanh
toán của các thị trờng với các hệ thống/thị trờng khác đang đặt ra yêu
cầu phải có những điều chỉnh pháp lý phù hợp.
- Thời điểm chuyển quyền sở hữu trong giao dịch: việc xác định thời
điểm chuyển quyền sở hữu trong một giao dịch chứng khoán có ý nghĩa rất
quan trọng vì nó gắn với việc xác định thời điểm nhận quyền và gánh chịu
rủi ro đối với chứng khoán. Theo quy định hiện hành của Việt Nam về thời
gian thanh toán chứng khoán, một giao dịch chứng khoán đợc coi là đã
hoàn tất vào thời điểm ngày thứ 3 kể từ ngày giao dịch (ngày T+3).
1.2.2.5. Pháp luật về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp liên
quan tới giao dịch chứng khoán
(i). Pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về giao dịch chứng khoán
Là một lĩnh vực kinh tế có nhiều nét đặc thù nên các vi phạm pháp
luật trên thị trờng chứng khoán cũng có nhiều nét đặc thù so với các vi
phạm pháp luật về kinh tế khác: thứ nhất, rất khó hoặc không thể xác định
đợc ngời bị hại và mức độ thiệt hại một cách cụ thể; thứ hai, việc xác
định chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm rất phức tạp; thứ ba, vi phạm từ
các giao dịch chứng khoán qua mạng Internet ngày càng lớn, khiến hệ
thống pháp luật các nớc đứng trớc thách thức của các xung đột pháp lý
ngày càng nhiều.
Các điểm đặc thù trên chi phối nội dung pháp luật về xử lý vi phạm
giao dịch trên thị trờng chứng khoán gồm: một là, xét về quan điểm quản
lý, pháp luật về xử lý vi phạm cần đợc xây dựng chủ yếu dựa trên quan
điểm phòng bệnh hơn chữa bệnh. Một hệ thống pháp luật về thị trờng
chứng khoán xây dựng dựa trên chính sách quản lý nặng về trừng phạt
hành vi vi phạm sẽ không thích hợp và không hiệu quả. Hai là, xu hớng
hạn chế hình sự hóa các vi phạm về chứng khoán đang ngày càng trở nên
phổ biến. Ba là, vai trò của cơ quan quản lý thị tr
ờng trong xử lý vi phạm
pháp luật về chứng khoán là đặc biệt quan trọng và ngày càng đợc nhấn

- Toà án xét xử các vụ tranh chấp có liên quan đến chứng khoán phải
có các thành viên đặc biệt hoặc đợc xét xử tại các Tòa án đặc biệt.

14
Chơng 2
thực trạng Pháp luật về giao dịch chứng khoán
trên thị trờng giao dịch tập trung tại việt nam
Không nh lịch sử hình thành và phát triển thị trờng chứng khoán các
nớc trên thế giới, nơi khung pháp lý đợc xây dựng sau khi thị trờng chứng
khoán đã có một thời gian dài đi vào hoạt động, khung pháp luật về thị trờng
chứng khoán của Việt Nam đợc hình thành trớc và là cơ sở cho sự ra đời
của thị trờng chứng khoán. Từ những văn bản đầu tiên cho đến những bớc
phát triển đột phá qua việc ban hành Luật chứng khoán 2006 cho thấy quá
trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật chứng khoán đã tạo dựng cơ sở pháp
lý ngày càng vững chắc cho sự phát triển của thị trờng theo các định hớng
cơ bản là: gia tăng hàng hoá có chất lợng cho thị trờng; khuyến khích và
phát triển cơ sở nhà đầu t; phát triển các định chế tài chính trung gian; tăng
cờng tính công bằng, công khai và minh bạch của thị trờng.
Bên cạnh những u điểm, pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị
trờng giao dịch tập trung còn tồn tại những hạn chế, bất cập, thể hiện ở
các nội dung cơ bản sau:
2.1. Pháp luật về tổ chức thị trờng giao dịch chứng khoán tập trung
2.1.1 Pháp luật về mô hình tổ chức thị trờng giao dịch tập trung
Xuất phát từ quan điểm loại bỏ sự can thiệp trực tiếp của cơ quan
quản lý Nhà nớc trong quá trình xây dựng và vận hành các thị trờng giao
dịch chứng khoán, đồng thời tăng cờng vai trò tự quản của các Trung tâm
giao dịch chứng khoán trong hoạt động của mình, Trung tâm giao dịch
chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã đợc chuyển đổi thành Sở giao
dịch chứng khoán theo Quyết định số 599/2007/QĐ-TTg ngày 11/5/2007
của Thủ t

phiếu, trái phiếu Chính phủ mà cha tạo lập đợc hành lang pháp lý phù
hợp để khuyến khích sự phát triển của trái phiếu công ty, một loại hàng hoá
rất quan trọng và phổ biến trên thị trờng chứng khoán.
Hai là, phạm vi các loại chứng khoán theo quy định của pháp luật
đợc phép giao dịch trên thị tr
ờng tập trung còn quá hẹp. Khung pháp lý
cho việc giao dịch các chứng khoán phái sinh hầu nh cha đợc xây dựng.
2.3. Pháp luật về chủ thể tham gia giao dịch
2.3.1. Pháp luật về công ty chứng khoán
Luật Chứng khoán đã có những điểm tiến bộ cơ bản để tiệm cận với
thông lệ pháp luật quốc tế trong việc quản lý các công ty chứng khoán

16
nhằm: (i) bảo vệ nhà đầu t; (ii) bảo đảm sự công bằng, hiệu quả và minh
bạch của thị trờng; (iii) giảm thiểu rủi ro hệ thống trên thị trờng. Bên
cạnh những u điểm nêu trên, pháp luật về công ty chứng khoán của Việt
Nam hiện hành vẫn còn một số hạn chế cơ bản sau: Thứ nhất, các quy định
pháp luật về phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động của công ty
chứng khoán còn cha đầy đủ và rõ ràng, đặc biệt là trong bối cảnh Bộ quy
tắc đạo đức nghề nghiệp cho ngời hành nghề kinh doanh chứng khoán
cha đợc thiết lập tại Việt Nam. Thứ hai, pháp luật cha có hớng dẫn cụ
thể về việc cho phép công ty chứng khoán triển khai các dịch vụ về giao
dịch ký quỹ. Đây sẽ là một trở ngại cho sự tăng trởng của thị trờng chứng
khoán trong giai đoạn tới. Thứ ba, các quy định pháp luật về cơ chế giải thể,
phá sản công ty chứng khoán cha rõ ràng.
2.3.2. Pháp luật về nhà đầu t
Pháp luật về chứng khoán và thị trờng chứng khoán đóng một vai trò
quan trọng trong việc tạo nên sự gia tăng mạnh mẽ về số lợng nhà đầu t
trên thị trờng chứng khoán trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, khi nghiên
cứu về tác động của các quy định pháp luật tới việc phát triển cầu đầu t

2.5.1. Pháp luật về xử lý vi phạm về giao dịch chứng khoán
Các quy định về thanh tra và xử lý vi phạm tại Luật Chứng khoán
2006 đã thiết lập đợc những bớc tiến lớn trong việc nâng cao khả năng
xử lý các vi phạm pháp luật về chứng khoán, đảm bảo duy trì thị trờng
công bằng và minh bạch. Bên cạnh những u điểm, pháp luật về xử lý vi
phạm các giao dịch trên thị trờng chứng khoán còn tồn tại những bất cập
nh sau: Một là, cha có các chế tài hình sự để phòng ngừa và xử lý các
hành vi vi phạm trong hoạt động giao dịch trên thị trờng giao dịch tập
trung. Hai là, thực tiễn giao dịch trên thị trờng chứng khoán đã xuất hiện
những vi phạm pháp luật xuyên biên giới nh
ng cha có chế tài xử lý. Ba
là, không có quy định nào trong Luật Chứng khoán cho phép ủy ban Chứng
khoán Nhà nớc có vai trò và khả năng tham gia tố tụng, đặc biệt là vi phạm
pháp luật hình sự trong lĩnh vực chứng khoán. Trong khi đó, việc thừa nhận
vai trò của cơ quan quản lý nhà nớc chuyên ngành trong lĩnh vực thị trờng
chứng khoán trong các thủ tục tố tụng là một thông lệ thờng thấy trong pháp
luật về thị trờng chứng khoán của các nớc trên thế giới.
2.5.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan tới giao dịch
chứng khoán
Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán hiện
nay đợc quy định tại Điều 131 Luật Chứng khoán. Ngoài quy định tại

18
Luật Chứng khoán, hiện nay cha có văn bản pháp quy nào hớng dẫn thi
hành các vấn đề về giải quyết tranh chấp liên quan tới giao dịch chứng
khoán. Chính vì vậy, pháp luật liên quan tới việc giải quyết các tranh chấp
về giao dịch chứng khoán trên thị trờng tập trung hiện còn tồn tại nhiều
bất cập, thể hiện qua các nội dung sau: Thứ nhất, về thẩm quyền giải quyết
tranh chấp. Khác với quy định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP và Nghị định
144/2003/NĐ-CP, ủy ban Chứng khoán Nhà nớc không còn là cơ quan có

hội nhập tài chính quốc tế
Bốn là, hoàn thiện theo hớng minh bạch, đơn giản, dễ áp dụng
3.2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về giao dịch chứng
khoán trên thị trờng giao dịch tập trung
Luận án đa ra các giải pháp chủ yếu sau:
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về tổ chức thị trờng giao dịch tập trung
- Đối với pháp luật về mô hình tổ chức thị trờng giao dịch tập trung:
Thứ nhất, cần sớm đa dạng hoá sở hữu của Sở giao dịch chứng khoán
để trở thành một tổ chức tự quản đúng nghĩa theo mô hình thành viên hoặc
mô hình công ty cổ phần nh thông lệ quốc tế.
Thứ hai, trong mô hình phát triển tiếp theo của Sở giao dịch chứng
khoán, cần khẳng định quan điểm cổ phần hoá Sở giao dịch chứng khoán gắn
với mục tiêu niêm yết Sở giao dịch chứng khoán.
Thứ ba, tiến tới hợp nhất Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội để tăng tính cạnh
tranh trong bối cảnh cạnh tranh tài chính khốc liệt trên thế giới và khu vực.
- Đối với pháp luật về phạm vi tổ chức của thị trờng giao dịch tập trung:
Một là, cần ban hành cơ chế pháp lý nhằm đẩy mạnh việc quản lý
công ty đại chúng, yêu cầu các công ty cổ phần đáp ứng tiêu chuẩn công ty
đại chúng phải đăng ký hồ sơ công ty đại chúng theo quy định tại Luật
Chứng khoán 2006.
Hai là, sớm đa chứng khoán của công ty đại chúng vào đăng ký và
lu ký tập trung theo quy định của Luật Chứng khoán; xây dựng khung
pháp lý cho hoạt động giao dịch chứng khoán của các công ty đại chúng
cha niêm yết, theo đó chứng khoán của các công ty này phải giao dịch tại
các công ty chứng khoán.
Ba là, chấn chỉnh hoạt động phát hành chứng khoán nhằm kiểm soát
chặt hoạt động chào bán chứng khoán một cách công khai, minh bạch.

20

khoán có vốn nớc ngoài dới nhiều hình thức sở hữu khác nhau nh công ty
liên doanh, công ty cổ phần và công ty 100% vốn nớc ngoài, đặc biệt là việc

21
cho phép tham gia của bên nớc ngoài đầu t vào các quỹ mạo hiểm thành
lập theo mô hình quỹ thành viên hoặc mô hình quỹ mạo hiểm thành lập theo
pháp luật nớc ngoài. Trong dài hạn, Nhà nớc cần có những chính sách rõ
ràng về thu hút vốn đầu t gián tiếp từ nớc ngoài nh một hớng chiến lợc
trong phát triển kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
3.2.4. Hoàn thiện pháp luật về cơ chế giao dịch
Một là, sửa đổi các quy định về bảo đảm ký quỹ giao dịch để tăng
tính linh hoạt, phù hợp với sự phát triển của thị trờng
Hai là, xây dựng cơ sở pháp lý cho việc tiến hành các giao dịch
chứng khoán qua Internet
Ba là, xây dựng khung pháp lý cho thị trờng giao dịch trái phiếu
chuyên biệt, thị trờng giao dịch chứng khoán phái sinh
Bốn là, bổ sung các quy định liên quan đến việc chuyển nhợng cổ
phiếu niêm yết không thông qua Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao
dịch chứng khoán
3.2.5. Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm và giải quyết tranh
chấp liên quan tới giao dịch chứng khoán
- Về pháp luật về xử lý vi phạm về giao dịch chứng khoán: Một là, cần
có những chế tài hình sự áp dụng cho các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
chứng khoán và thị trờng chứng khoán. Hai là, cần thể chế hoá nội dung
hợp tác quốc tế trong cỡng chế thực thi các hành vi vi phạm về chứng khoán
nhằm giải quyết có hiệu quả các vi phạm pháp luật xuyên biên giới.
- Về pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan đến giao dịch chứng
khoán: cần mở rộng thẩm quyền của các cơ quan quản lý chuyên ngành trong
việc giải quyết tranh chấp liên quan tới giao dịch chứng khoán.
Kết luận

của thị trờng Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan các
thiếu sót bất cập của hệ thống này nh: (i) Pháp luật về mô hình thị trờng
giao dịch chứng khoán tập trung tuy đã quy định cho Sở giao dịch chứng
khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán một địa vị pháp lý độc lập, tự chủ
song vẫn cha đáp ứng đợc mô hình của một tổ chức tự quản đúng nghĩa
theo thông lệ quốc tế. Phạm vi tổ chức của thị trờng giao dịch tập trung
còn hẹp do khung pháp lý hiện hành còn hạn chế khả năng thu hẹp thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status