Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại toà án nhân dân tỉnh vĩnh phúc (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ THU HƢƠNG

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÖC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ THU HƢƠNG

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự

Điều ước quốc tế

HĐTTTP

Hiệp định tương trợ tư pháp

Luật HN&GĐ

Luật Hôn nhân và gia đình

HN&GĐ

Hôn nhân và gia đình

NĐ-CP

Nghị định của Chính phủ

NQ-HĐTP

Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

TAND

Tòa án nhân dân

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao


2.1. Khái quát chung về thực trạng giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. ........................................................................26
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước
ngoài. ...................................................................................................................30
2.2.1. Khởi kiện và thụ lý vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài. ........................................ 30
Khởi kiện vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài................................................................... 30
2.2.2. Thời hạn xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài .............................................. 40
2.2.3. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong
giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài................................................................... 42


2.2.4. Phiên tòa sơ thẩm và các thủ tục sau phiên tòa xét xử vụ án ly hôn có yếu tố
nước ngoài.......................................................................................................................... 51
2.2.4.1. Về thời gian mở phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa. ................................ 51
2.2.4.2.Về xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự. ................52
2.2.4.3. Về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa. ........................................................53
2.2.4.4. Nghị án và tuyên án. ...............................................................................57
2.2.4.5. Về việc thông báo sửa chữa, bổ sung bản án. ........................................58
2.2.4.6. Về thủ tục cấp trích lục bản án, bản án của Tòa án. ..............................59
2.2.5. Một số vấn đề trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cần rút kinh nghiệm. ............................................................... 60
2.2.6. Một số vấn đề về ủy thác tư pháp trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu
tố nước ngoài. ......................................................................................................62
2.2.6.1.Việc ủy thác thu thập chứng cứ. ........................................................................... 62
2.2.6.2. Về các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho
đương sự ở nước ngoài...................................................................................................... 66
2.2.6.3. Về thời gian thực hiện ủy thác tư pháp. .............................................................. 68
2.2.6.4. Về kinh phí thực hiện ủy thác tư pháp................................................................. 69
2.2.6.5. Về địa chỉ của đương sự ở nước ngoài. .............................................................. 70
Tiểu kết Chƣơng 2 ...................................................................................................72

bản án hoặc quyết định của Toà án.
Vĩnh Phúc là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ của
Thủ đô, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa các tỉnh phía Tây Bắc với Hà
Nội và đồng bằng châu thổ sông Hồng, do vậy tỉnh có vai trò rất quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế khu vực và quốc gia. Cùng với sự phát triển các quan
hệ hợp tác, giao lưu quốc tế của cả nước thì vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài
cũng ngày càng gia tăng và phổ biến ở Vĩnh Phúc.
Theo pháp luật Việt Nam, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyềngiải
quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, đối với trường hợp giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài pháp luật điều chỉnh quan hệ này không chỉ đơn thuần là các văn bản luật
trong nước mà bên cạnh đó nó còn được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp quốc tế
có liên quan như: ĐƯQT, HĐTTTP, Tập quán quốc tế.


2
Ở Việt Nam, trước năm 1959 do vấn đề giao lưu quốc tế chưa phát triển,
chúng ta chưa xác định được tầm quan trọng của quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước
ngoài nên các quy định của pháp luật về vấn đề này chưa được luật quan tâm điều
chỉnh. Xã hội ngày càng phát triển, quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài cũng
ngày càng gia tăng thì đòi hỏi pháp luật điều chỉnh quan hệ này ngày càng cấp thiết.
Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước
ngoài nên lần đầu tiên Luật HN&GĐ năm 1986 đã có những quy định điều chỉnh
quan hệ này; đây là sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật nước ta trong quan hệ
HN&GĐ có yếu tố nước ngoài. Cùng với Luật HN&GĐ năm 1986 thì các văn bản
pháp luật tiếp theo lần lượt ra đời và điều chỉnh quan hệ này; đó là kết quả cao của
quá trình pháp điển hoá những quy định của pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố
nước ngoài của Việt Nam.
Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ đời sống kinh tế, xã hội của đất nước,
quan hệ hợp tác giao lưu quốc tế cũng ngày một phát triển hơn, tính chất các vụ án
ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp hơn thì pháp luật điều chỉnh các

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề rộng, do vậy trong luận văn này
tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề như lý luận về giải quyết ly hôn có yếu
tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc, bên cạnh đó tác giả đưa ra một số kiến nghị về bổ sung,
sửa đổi một số quy định của pháp luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Tuy nhiên, để luận văn có độ sâu, rộng cần thiết, trong một chừng mực nhất định,
tác giả cũng đề cập đến một số quy định trong tư pháp quốc tế về lĩnh vực HN&GĐ
có yếu tố nước ngoài nói chung; các văn bản pháp luật liên quan để so sánh và đưa
ra những kết luận, kiến nghị có tính tham khảo nhất định.
Đối với các vấn đề khác như thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, công tác
thi hành án dân sự, thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án ly hôn
có yếu tố nước ngoài tác giả không đề cập nghiên cứu trong luận văn này.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn.
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật. Đặc biệt là về quan hệ ly hôn
có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế.
Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp khoa học chuyên
ngành như: phương pháp lịch sử; phương pháp logíc; phương pháp phân tích;


5
phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp để làm sáng tỏ các nội dung cần
nghiên cứu.
5. Những đóng góp về khoa học của luận văn.
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về ly
hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn giải quyết, xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn có
yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc.

1.1. Một số khái niệm cơ bản, đặc điểm, thẩm quyền và trình tự, thủ tục
giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm ly hôn
Ly hôn là hiện tượng xã hội gắn liền với quyền tự do hôn nhân. Quyền ly
hôn là quyền cơ bản được luật pháp quốc gia và quốc tế công nhận. Tuy nhiên,
quyền ly hôn là quyền riêng tư. Có việc ly hôn hay không trước hết phải dựa trên sự
tự nguyện của ít nhất một bên vợ hoặc chồng. Nhà nước bằng pháp luật không thể
cưỡng ép nam nữ kết hôn, do vậy cũng không thể bằng pháp luật bắt buộc họ phải
tiếp tục chung sống khi đời sống chung vợ chồng thực sự không còn, mục đích của
hôn nhân không đạt được. Vì thế ly hôn là một giải pháp cần thiết để chấm dứt quan
hệ hôn nhân thật sự tan vỡ trên cơ sở thực tế và về mặt pháp lý. "Ly hôn là một mặt
của quan hệ hôn nhân. Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan
hệ vợ chồng, thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân
nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ”1.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân (trong đó có ly hôn)
là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc. Trong từng giai đoạn phát triển của
lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước,
bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà
nước. Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan
hệ vợ chồng, đồng thời xác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mới được
phép xóa bỏ (chấm dứt) quan hệ hôn nhân. Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định
trong pháp luật của Nhà nước. Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện)
được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án
mới được xử cho ly hôn.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, tr.251.
1


7



8
1.1.2. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài thực chất là giải pháp để chủ thể trong quan hệ
hôn nhân có yếu tố nước ngoài lựa chọn để yêu cầu Tòa án giải phóng cho bản thân
khỏi cuộc sống hôn nhân thực sự không tồn tại trên thực tế, hôn nhân không có
hạnh phúc. Bởi vậy, ly hôn không phải hoàn toàn mang nghĩa tiêu cực mà nó còn
mang một ý nghĩa tích cực, đó là bảo vệ quyền tự do của con người, giúp con người
thoát khỏi những ràng buộc trong quan hệ hôn nhân thật sự tan vỡ.
Quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là“Quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít
nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng
căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát
sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” (khoản 25
Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014).
Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là:
“1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người
nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam
vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của
nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì
giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo
pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” (Điều 127 Luật HN&GĐ năm 2014).
Như vậy, theo các quy định trên, ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể hiểu bao
gồm các trường hợp sau:
- Trong vụ án ly hôn có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài. Khoản

dụng pháp luật thì áp dụng pháp luật là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng
nhất, phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong thực tế
thông qua hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền.
“Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành


10
nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể,
đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể”3
Từ định nghĩa về áp dụng pháp luật như trên, ta thấy, áp dụng pháp luật có
các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà
nước.Điều đó được thể hiện qua chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục tiến hành hoạt
động áp dụng pháp luật và kết quả của quá trình áp dụng pháp luật. Cụ thể:
+ Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó cũng chỉ được
phép áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật.
Chẳng hạn, trong hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước thì chỉ Toà án mới có
quyền xét xử để định tội và định hình phạt cho người phạm tội cũng như để giải
quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình…chỉ Uỷ ban nhân dân mới có
quyền xem xét để cấp giấy khai sinh cho trẻ em, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho người sử dụng… Chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật chủ yếu là các
cơ quan, tổ chức nhà nước, song cũng có thể là chủ thể được Nhà nước trao quyền
hoặc cho phép.
+ Trong quá trình áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể
nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để ban hành ra những
mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các
tổ chức và cá nhân có liên quan. Các mệnh lệnh, quyết định này luôn thể hiện ý chí
đơn phương của chủ thể có thẩm quyền, được xây dựng trên cơ sở pháp luật, căn cứ

của nó.
+ Khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể không vi
phạm pháp luật mà chỉ vì lợi ích chung của xã hội.
+ Khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành
tích theo quy định của pháp luật.
+ Khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của
các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật.
+ Khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể nào đó theo
quy định của pháp luật. Hoạt động chứng thực của Uỷ ban nhân dân, của cơ quan
công chứng nhằm tạo ra cơ sở pháp lý cho các giấy tờ, văn bằng nhất định… là sự
áp dụng các quy định của pháp luật công chứng trong thực tế.


12
1.1.4. Khái niệm áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Từ khái niệm áp dụng pháp luật đã nêu ở trên thì có thể định nghĩa áp dụng
pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài là hoạt động có tính tổ chức, quyền
lực nhà nước, do Tòa án và cá nhân có thẩm quyền áp dụng các quy phạm pháp luật
hiện hành giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Toà án là cơ quan
duy nhất có thẩm quyền giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn. Khi giải quyết các vụ
án ly hôn Tòa án phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm
trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tòa án tiến hành
các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục và những nguyên tắc cơ bản được quy
định trong luật tố tụng dân sự như nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng4.
Vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng phát sinh tại Tòa án từ khi vợ, chồng
hoặc cả hai vợ chồng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thuộc ít nhất một
trong các trường hợp: một bên chủ thể là người nước ngoài; giữa công dân Việt
Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật

ngoài nơi công dân đó đang cư trú nếu đương sự là công dân Việt Nam đang ở nước
ngoài. Thực tế giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh
Vĩnh Phúc trong những năm qua cho thấy: không có trường hợp khi đương sự ở
nước ngoài có đơn xin ly hôn nhưng đơn của họ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự
hay chưa được xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước
ngoài nơi công dân đó đang cư trú nhưng Tòa án vẫn phải xem xét giải quyết. Ví dụ
trường hợp công dân Việt Nam ra nước ngoài du lịch rồi ở lại sinh sống ở nước
ngoài trái phép, họ không về Việt Nam để giải quyết ly hôn mà gửi đơn về Việt
Nam qua đường bưu điện hoặc qua thân nhân của họ ở Việt Nam. Do họ ở nước
ngoài là bất hợp pháp nên đơn của họ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, chưa được
xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi công dân
đó đang cư trú.Trường hợp này thực tiễn xét xử thì sau khi nhận được đơn của họ
và trên cơ sở yêu cầu của đương sự Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ
viết, chữ ký trong đơn với tài liệu mẫu (nếu có), nếu xác định là đúng thì Tòa án
vẫn giải quyết cho ly hôn. Như vậy việc giải quyết này đã góp phần tháo gỡ vướng
mắc trong việc để án tồn đọng, kéo dài.
- Việc tiến hành các bước tố tụng như lấy lời khai của đương sự, tống đạt
các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, việc điều tra, xác minh,
thu thập chứng cứ ở nước ngoài phải được thực hiện qua các phương thức tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, con đường ngoại
giao, Tòa án UTTP theo quy định chung của Tư pháp quốc tế.


14
- Thủ tục hòa giải và mở phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ trong vụ
án ly hôn có yếu tố nước ngoài đối với đương sự đang ở nước ngoài, tại TAND tỉnh
Vĩnh Phúc thường không tiến hành được do vắng đương sự ở nước ngoài. Tuy
nhiên đối với đương sự ở nước ngoài về nước trong thời gian Tòa án ấn định hòa
giải và mở phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ thì Tòa án vẫn tiến hành hòa
giải đối với họ theo thủ tục chung.

Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, gồm những
trường hợp sau đây:
+ Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
+ Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ
chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến
hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
+ Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các
đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
+ Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó
xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc
công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó
xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ
quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.
Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định trên, Tòa
án áp dụng các quy định tại Chương III của BLTTDS để xác định thẩm quyền của
Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Theo qui định tại khoản 3, 4 Điều 35 Chương III BLTTDS năm 2015 thì:
Những tranh chấp, yêu cầu mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải
UTTP cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước
ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Trừ trường hợp Tòa án nhân dân
cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải
quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và


16
con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú
ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên

6

7

Khoản 2 Điều 123 Luật HN&GĐ năm 2014.


17
những khó khăn trong quá trình tố tụng đối với các bên đương sự cũng như đối với
cơ quan tiến hành tố tụng, giúp tiết kiệm được thời gian và công sức đi lại và cũng
để tránh tình trạng vụ án kéo dài nên Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết
những vụ việc thuộc trường hợp này.
Qua thực tiễn công tác xét xử của hệ thống Tòa án trong thời gian qua cho
thấy việc quy định TAND cấp huyện khu vực biên giới có thẩm quyền giải quyết
các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới như trên là hoàn toàn
phù hợp với công tác xét xử của hệ thống Tòa án, đồng thời còn tạo điều kiện cho
việc giải quyết một số các vụ án ly hôn được nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm được
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, giảm nhẹ gánh nặng công việc cho
TAND cấp tỉnh, tạo điều kiện để TAND cấp tỉnh tập trung vào giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm các vụ án.
Như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc
TAND cấp tỉnh trừ trường hợp đã nêu tại khoản 3 Điều 123 Luật HN&GĐ năm
2014 thì TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết. Trong quá trình giải quyết
theo quy định về thẩm quyền của BLTTDS năm 2015 thì phải được Tòa án đó tiếp
tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú,
địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc
thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài (Điều 471
BLTTDS năm 2015).
1.1.7. Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Khi giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài Tòa án tiến hành giải quyết

có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
- Người đại diện của đương sự: cũng giống như các vụ án dân sự khác, trong
vụ án ly hôn có thể xuất hiện tư cách của người đại diện của đương sự có thể là đại
diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật. Khi vợ chồng ly hôn thì họ có thể
ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết một số quan hệ như về con cái hay
quan hệ tài sản. Ly hôn là một quan hệ đặc biệt, do vậy có 3 quan hệ trong vụ án ly
hôn đó là quan hệ nhân thân, quan hệ con cái và quan hệ tài sản thì ở quan hệ thứ
nhất vợ chồng không được phép ủy quyền cho người khác thay mặt họ để giải quyết
mà họ phải tự tham gia, bởi đó là quyền nhân thân không thể tách rời, do vậy đối


19
với việc ly hôn, đương sự phải tự mình tham gia mà không được ủy quyền cho
người khác8. Đối với vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu đương sự đang ở nước
ngoài mà có ủy quyền cho người khác thay mặt họ tham gia tố tụng thì Tòa án cũng
phải kiểm tra xem thủ tục ủy quyền đúng chưa, giấy ủy quyền đó đã được hợp pháp
hóa lãnh sự chưa, nội dung ủy quyền đến đâu để xác định người được ủy quyền có
thực hiện đúng nôi dung được ủy quyền không, thực hiện có vượt quá phạm vi được
ủy quyền hay không. Trong thực tiễn xét xử cho thấy có trường hợp đương sự chỉ
ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người
được ủy quyền lại thực hiện hành vi vượt quá phạm vi được ủy quyền như rút đơn
khởi kiện… có trường hợp đương sự ủy quyền chết, quá trình giải quyết vụ án Tòa
án chỉ báo gọi người đại diện theo ủy quyền của họ đến để giải quyết vụ án và vẫn
xác định người đã chết trong vụ án là đương sự, đây là những trường hợp vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Về trình tự, thủ tục giải quyết được quy định tại Phần thứ 8 của BLTTDS
năm 2015 về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Phần này quy
định rất rõ về trình tự, thủ tục, thời hạn, cách thức tống đạt, xử lý đối với trường
hợp tống đạt được và không tống đạt được… cụ thể tại Điều 476 BLTTDS năm
2015 Tòa án phải gửi thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status