LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại QUAN hệ NUÔI CON NUÔI có yếu tố nước NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN: LUẬT KINH DOANH – THƯƠNG MẠI
‫ھ‬-‫ھ‬

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Cử nhân luật
Niên khóa: 2007 – 2011
Đề tài:

QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Bùi Thị Mỹ Hương
Bộ môn: Luật kinh doanh - Thương mại

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thùy Dương
MSSV: 5075174
Lớp: Luật thương mại 2 – K33

Cần Thơ, tháng 4/2011


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................

.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................

GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................1
2. Phạm vi nghiên cứu...............................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu.............................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................2
5. Bố cục của đề tài....................................................................................................2
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI .........................................................................................................4
1.1 Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.............................................4

2.1.2 Điều kiện đối với người nhận nuôi................................................................ 29
2.2 Điều kiện về mặt hình thức............................................................................... 33
2.2.1 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng kí việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam ............................................................................................................... 33

GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

2.2.1.1 Thẩm quyền đăng kí việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
................................................................................................................................. 33
2.2.1.2 Trình tự, thủ tục đăng kí việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam.......................................................................................................................... 34
2.2.2 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng kí việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
ở khu vực biên giới ................................................................................................... 41
2.2.3 Thẩm quyền, trình tự thủ tục đăng kí việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
tại cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài ....................................................... 42
2.3 Hệ quả của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ....................................... 44
2.3.1 Quan hệ với gia đình nuôi............................................................................. 44
2.3.2 Quan hệ với gia đình gốc .............................................................................. 46
2.4 Chấm dứt việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ......................................... 47
2.4.1 Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ........................... 48
2.4.2 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục chấm dứt việc nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài......................................................................................................................... 51
2.4.3 Hệ quả của việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ........ 52
2.5 Tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam .................................... 53
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY

nhập và toàn cầu hóa, nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng
được nâng cao thì cũng là lúc các vấn nạn xã hội ngày một gia tăng đặc biệt là liên
quan đến trẻ em như việc buôn bán, bóc lột sức lao động của trẻ em, bạo lực gia đình,
tội phạm ở trẻ vị thành niên cũng tăng lên đáng kể cả về mặt số lượng cũng như tính
chất, mức độ vi phạm,…Vì vậy, vấn đề bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em lại càng trở
nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Và vấn đề này không chỉ là nhiệm vụ của một quốc gia
hay dân tộc nào mà là vấn đề chung của toàn nhân loại nhằm hướng đến một thế giới
mới tươi đẹp hơn.
Trong xu thế hiện nay, hầu hết các quốc gia đang cố gắng đẩy mạnh hợp tác với
nhau trong việc giúp đỡ các em có hoàn cảnh đặc biệt được sống và phát triển trong
môi trường lành mạnh, nhất là trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Nuôi con nuôi đã và đang
phát triển mạnh mẽ ở mọi quốc gia và đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Với các nước kém phát triển và đang phát triển thì việc nuôi con nuôi giúp cho trẻ có
được một mái ấm gia đình, để chúng có thể phát triển bình thường như bao đứa trẻ
khác. Còn đối với các quốc gia phát triển thì hầu hết các gia đình đều thiếu vắng đi
tiếng cười trẻ thơ, việc đẩy mạnh hoạt động nuôi con nuôi sẽ giúp họ có được niềm vui
trong cuộc sống, có được một gia đình trọn vẹn và đầy đủ. Từ đó giúp cho quan hệ của
các quốc gia được xích lại gần nhau hơn, xóa đi những rào cản về sự phân biệt văn
hóa, tôn giáo, sắc tộc, giàu nghèo,…Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều điều ước
quốc tế được kí kết giữa các quốc gia trong lĩnh vực này. Và Việt Nam với mong
muốn được làm bạn với tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới cũng không nằm ngoài
xu hướng chung đó.
Mới đây, Việt Nam vừa ký tham gia công ước quốc tế về nuôi con nuôi cùng với
việc Luật nuôi con nuôi có hiệu lực đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quan
hệ về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, đưa
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 1

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương

thiện các quy định pháp luật về nuôi con nuôi. Ngoài ra, nhờ việc nghiên cứu này
người viết có thể củng cố lại một phần kiến thức mà mình đã được tiếp thu trong thời
gian qua.
4. Phương pháp nghiên cứu
Người viết chủ yếu dùng các phương pháp phân tích luật viết như suy lý diễn
dịch, quy nạp để phân tích các quy định của pháp luật. Ngoài ra, người viết còn sử
dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh tài liệu, đối chiếu với thực tiễn thông
qua đó đưa ra quan điểm của bản thân về các vấn đề có liên quan.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài gồm ba chương:

GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 2

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

Chương 1 Những vấn đề chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Chương này chủ yếu giúp người đọc có được những kiến thức chung nhất về quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoại thông qua việc nêu lên các khái niệm, bản chất, ý
nghĩa của mối quan hệ này, qua việc nghiên cứu các nguyên tắc, thẩm quyền và các
hành vi bị cấm khi giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Đồng thời
việc nghiên cứu chương này sẽ tạo cơ sở cho người viết để hiểu rõ hơn các quy định
của pháp luật hiện hành.
Chương 2 Pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Chương này người viết tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành của
pháp luật Việt Nam về việc xác lập, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước

pháp, tức là dựa trên cơ sở sự bày tỏ ý chí của người nuôi và người được nhận nuôi, và
phải được Nhà nước công nhận thông qua quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, đồng thời người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi cũng
phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật. Như vậy, giữa người nhận
con nuôi và người được nhận làm con nuôi không có mối liên hệ huyết thống với nhau
như cha mẹ ruột – con ruột, nhưng người nuôi được xem như cha mẹ của người được
nuôi, dù không sinh ra người được nuôi; người được nuôi về phần mình, coi người
nuôi như cha mẹ ruột1.
Ngoài ra, trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì việc xác định yếu
tố nước ngoài mang một ý nghĩa vô cùng to lớn. Đây cũng chính là nét đặc trưng cơ
bản để phân biệt giữa quan hệ nuôi con nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài. Việc xác định yếu tố nước ngoài ở đây sẽ giúp cho cơ quan có thẩm
quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến việc nuôi con nuôi được chính xác và nhanh
chóng.
Hiện nay, pháp luật ở hầu hết các quốc gia đều ghi nhận hai hình thức nuôi con
nuôi, đó là nuôi con nuôi đơn giản và nuôi con nuôi trọn vẹn.
Nuôi con nuôi đơn giản là việc xác lập quan hệ cha mẹ - con giữa người nhận
nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi nhưng không làm chấm dứt mối quan
hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ và con nuôi. Hình thức này thường được áp dụng chủ yếu
đối với người được nuôi là người trên 15 tuổi, đã thành niên hoặc nuôi con nuôi giữa
những người có quan hệ họ hàng, thân thích. Như vậy, các bên xác lập quan hệ này
thường là vì một mục đích khác chứ không phải vì lợi ích của người được nhận nuôi
như: cho làm con nuôi của thương binh, liệt sĩ để hưởng các chính sách ưu đãi của nhà

1

TS. Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Đại học Cần Thơ, 2005, trang 38.

GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương


có điều kiện phát triển bền vững trong môi trường lành mạnh. Vì vậy, mục đích của
việc nuôi con nuôi luôn hướng đến lợi ích tốt nhất của đứa trẻ cả về mặt vật chất lẫn
tinh thần. Theo pháp luật của nhiều quốc gia thì mục đích của việc nuôi con nuôi còn
được xem là điều kiện có hiệu lực của quan hệ nuôi con nuôi. Theo pháp luật Việt
Nam, mục đích của việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 2 Luật nuôi con nuôi
2010, theo đó “việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền
vững vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi
được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình”. Thật vậy, chỉ khi
người nhận nuôi con nuôi xuất phát từ nhu cầu của chính bản thân là muốn nhận một
người về làm con nuôi để yêu thương, chăm sóc người đó thì họ mới có thể gắn kết
tình cảm của mình với người mà mình nhận làm con nuôi, và chỉ có như thế mục đích
của việc nuôi con nuôi mới đạt được. Bên cạnh đó, nuôi con nuôi còn đem lại niềm vui
cho rất nhiều gia đình hiếm muộn, ít con,…nó đã thỏa mãn được phần nào nhu cầu về
mặt tình cảm của người nhận nuôi con nuôi.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 5

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

Tuy nhiên, vấn đề xác định mục đích của việc cho và nhận nuôi con nuôi không
phải là đơn giản, và nếu nó không được quan tâm một cách đúng mức thì đây sẽ là
“mảnh đất béo bở” cho những kẻ có mưu đồ trục lợi. Và dĩ nhiên, đứa trẻ được cho
làm con nuôi có thể sẽ không được yêu thương, chăm sóc mà ngược lại chúng ta còn
vô tình tạo thêm nhiều thương đau cho chúng. Vì vậy, tất cả quan hệ nuôi con nuôi
được xác lập không vì mục đích chung đó thì đều không có hiệu lực và không được
pháp luật bảo vệ, tuy nhiên cũng phải tính đến lợi ích hiện tại của đứa trẻ.

GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 6

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

Ngoài ra, việc nuôi con nuôi còn đẩy mạnh quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các
quốc gia với nhau, xóa bỏ đi sự phân biệt về giàu nghèo, trình độ phát triển, chế độ
chính trị giữa các quốc gia thông qua việc đẩy mạnh việc đàm phán, kí kết các điều
ước quốc tế về nuôi con nuôi để giải quyết các vấn đề về xung đột pháp luật, thẩm
quyền xét xử,…nhằm tạo môi trường thông thoáng cho quan hệ nuôi con nuôi có điều
kiện phát triển.
1.2.2.2 Bản chất pháp lý
Bản chất pháp lý của vấn đề nuôi con nuôi chính là việc ghi nhận các sự kiện
pháp lý làm phát sinh quan hệ cha, mẹ - con giữa người nhận nuôi và người được nhận
nuôi.
Trước tiên nó thể hiện ở mặt ý chí của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi
bao gồm người nhận nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được nhận nuôi
và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối với người nhận nuôi con nuôi, sự thể hiện ý chí của họ được xem là tiền đề
cho việc xác lập quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi. Người nhận nuôi có thể nhận con
nuôi với nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng trên hết là xuất phát từ nhu cầu của họ
muốn nuôi dưỡng một đứa trẻ nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững.
Và nhu cầu này là lí do chủ yếu dẫn tới việc nhận nuôi con nuôi. Hơn nữa, nhu cầu
nhận nuôi con nuôi phải xuất phát từ tình cảm, ý chí của chính bản thân người đó và
phải phù hợp với lợi ích của người được nhận làm con nuôi thì mới được xem là hợp
pháp. Ngược lại, nếu nó xuất phát từ những mục đích, động cơ trái pháp luật, đạo đức

hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ đó mới làm phát sinh
quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi.
Ngoài ra, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn mang bản chất của tư
pháp quốc tế. Đó là việc các quốc gia ngày càng cố gắng hợp tác với nhau trong việc
giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực này thông qua việc ký kết các điều ước
quốc tế đa phương và song phương.
Như vậy, phải hiểu rõ được bản chất pháp lý của vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài thì mới xây dựng được các quy phạm pháp luật phù hợp và chính xác để
điều chỉnh quan hệ này, từ đó làm tăng hiệu quả của hoạt động trong lĩnh vực nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài, góp phần làm cho cuộc sống của nhiều trẻ em bất hạnh
được trở nên tươi đẹp hơn.
1.3 Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Nguyên tắc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi là những nguyên lý, tư tưởng chỉ
đạo các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi. Nó mang một ý nghĩa
quan trọng trong việc định hướng xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật về
nuôi con nuôi. Những nguyên tắc này được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của
Việt Nam nhưng chủ yếu tập trung trong Luật nuôi con nuôi, bao gồm:
Một là, khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được
sống trong môi trường gia đình gốc. Nguyên tắc này chính là tạo cơ hội cho trẻ được
sống trong môi trường gia đình ruột thịt, có sự gắn bó về mặt tình cảm hơn. Điều này
cũng hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì không ai lại muốn cho con mình làm con nuôi
của một người xa lạ trong khi nó có thể được nuôi dưỡng trong gia đình gốc. Đồng
thời, việc ghi nhận nguyên tắc này cũng là phù hợp với công ước Lahay 1993.
Hai là, việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được
nhận làm con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp
luật và đạo đức xã hội. Nguyên tắc này thể hiện ở cả hai khía cạnh, đó là người nhận
nuôi có quyền tự nguyện lựa chọn con nuôi là nam hay nữ mà không phụ thuộc vào
việc giới thiệu, ngược lại nếu người được nhận nuôi đủ điều kiện làm con nuôi thì dù
là gái hay trai thì cũng được giới thiệu như nhau cho người nuôi mà không được ưu

quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó để giải quyết các vấn đề về nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Nguyên tắc này cũng được đa số các nước áp dụng để giải quyết vấn đề nuôi con
nuôi. Trong các hiệp định tương trợ về tư pháp hoặc các hiệp định hợp tác về nuôi con
nuôi giữa Việt Nam với các nước cũng ghi nhận nguyên tắc này.
Ví dụ: trong hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Lào thì việc
nhận nuôi con nuôi tuân theo pháp luật của nước kí kết mà trẻ em là công dân; hoặc
theo hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam – Ucraina có quy định “Việc
nhận trẻ em là công dân của bên kí kết này nhưng thường trú trên lãnh thổ của bên kí
kết kia được tiến hành theo pháp luật của bên kí kết mà trẻ em là công dân”,…
Để áp dụng nguyên tắc này, điều trước tiên là phải xác định được quốc tịch của
đương sự. Tuy nhiên, do nguyên tắc xác định quốc tịch của các quốc gia là không
giống nhau nên sẽ dẫn đến trường hợp là một người có thể có nhiều quốc tịch khác
nhau hoặc không có quốc tịch của quốc gia nào. Trong trường hợp này, các nước
thường giải quyết như sau: đối với người có nhiều quốc tịch thì luật áp dụng sẽ là pháp
luật của nước nơi người đó mang quốc tịch cư trú, nếu người đó không cư trú ở một
trong những nước mà mình mang quốc tịch thì pháp luật được áp dụng là luật của
nước nơi người đó có quan hệ mật thiết về quyền và nghĩa vụ công dân. Ngược lại, đối
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 9

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

với trường hợp người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng sẽ là luật nơi người đó
thường xuyên sinh sống.
Như vậy, mặc dù nguyên tắc luật quốc tịch được áp dụng khá phổ biến trong

sinh quan hệ hay vào thời điểm phát sinh tranh chấp?...Như vậy, vấn đề này cần được
quy định một cách rõ ràng để pháp luật được áp dụng thống nhất và dễ dàng hơn.

GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 10

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

1.3.2.3 Nguyên tắc nơi thực hiện hành vi
Đây cũng là nguyên tắc được áp dụng khá phổ biến trong quan hệ hôn nhân gia
đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
nói riêng. Theo nguyên tắc này thì hành vi được thực hiện ở đâu thì sẽ áp dụng pháp
luật ở nước đó để điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến hành vi đó.
Ví dụ, theo hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Thụy Điển thì hệ
quả pháp lý của việc nuôi con nuôi tiến hành theo hiệp định này được xác định theo
pháp luật của nước kí kết nơi hoàn tất thủ tục nuôi con nuôi. Như vậy, nếu việc xác
lập quan hệ nuôi con nuôi ở Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi – con
nuôi sẽ được xác định theo pháp luật Việt Nam và ngược lại.
Như vậy, theo nguyên tắc này, nếu việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thực
hiện tại Việt Nam thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh các vấn đề liên
quan đến hành vi nhận nuôi con nuôi như: điều kiện nhận nuôi con nuôi, quyền và
nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi,… Việc áp dụng nguyên tắc này vừa có ý nghĩa
mở rộng phạm vi áp dụng pháp luật Việt Nam, mặt khác, tạo điều kiện cho cơ quan có
thẩm quyền giải quyết vụ việc được nhanh chóng và chính xác hơn.
Tóm lại, việc áp dụng các nguyên tắc này đã góp phần giúp cho việc giải quyết
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được nhanh chóng và dễ dàng hơn, qua đó

chỉnh cụ thể quan hệ nuôi con nuôi đó. Vì vậy, quy phạm này sẽ giúp cho các cơ quan
có thẩm quyền chọn được đúng hệ thống pháp luật để điều chỉnh mối quan hệ đó.
Ví dụ: Theo điều 10 Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Liên
bang Thụy Sỹ có quy định, điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi phải tuân theo
pháp luật của nước gốc và nước nhận. Như vậy, điều luật này không quy định trực tiếp
các điều kiện của người nhận nuôi mà chỉ hướng dẫn việc chọn luật áp dụng để điều
chỉnh điều kiện nhận con nuôi. Dựa vào điều luật này các cơ quan có thẩm quyền biết
được luật nào sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề về điều kiện của người nhận nuôi
con nuôi.
Tuy nhiên, so với các quy phạm pháp luật mà chúng ta thường gặp thì cơ cấu của
các quy phạm xung đột có điểm khác biệt nhất định. Thông thường một quy phạm
pháp luật sẽ được cấu thành bởi ba bộ phận: giả định, quy định và phần chế tài. Nhưng
quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế thường chỉ được cấu thành từ hai bộ phận là
phần phạm vi và hệ thuộc, các quy phạm này không có phần chế tài. Phần phạm vi của
các quy phạm xung đột sẽ cho chúng ta biết được quy phạm này điều chỉnh về vấn đề
gì, và phần hệ thuộc sẽ giúp ta chọn ra hệ thống pháp luật cần được áp dụng để điều
chỉnh quan hệ pháp luật được đề cập ở phần phạm vi. Thông thường, trong quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, các nước thường sử dụng một số hệ thuộc cơ bản
để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc nhận nuôi con nuôi như: luật nhân thân
gồm có hai dạng là luật quốc tịch và luật nơi cư trú của đương sự, luật tòa án, luật nơi
thực hiện hành vi.
Ở Việt Nam, các quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài được ghi nhận trong Luật nuôi con nuôi 2010 và các điều ước quốc tế về
nuôi con nuôi giữa Việt Nam và các nước. Ví dụ: theo điều 30 Hiệp định tương trợ tư
pháp giữa Việt Nam và Ba Lan có quy định: “Việc nhận nuôi con nuôi phải tuân theo
pháp luật của nước mà người nhận nuôi là công dân”.
Tóm lại, quy phạm xung đột hiện nay được áp dụng khá phổ biến trong quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm này không trực tiếp quy định cụ
thể các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi, mà nó chỉ xác
định pháp luật của nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ này. Và hiện nay,

phạm thực chất. Vì dựa trên các quy phạm xung đột này, hệ thống pháp luật của quốc
gia được dẫn chiếu sẽ đem ra áp dụng và thực chất thì nó là các quy phạm thực chất
trong hệ thống pháp luật của quốc gia đó.
Như vậy, quy phạm thực chất ở đây có thể do từng quốc gia xây dựng nên hoặc
cũng có thể được xây dựng trong các điều ước quốc tế. Trong xu thế chung hiện nay,
các quốc gia luôn mong muốn hợp tác xây dựng các quy phạm thực chất để điều chỉnh
quan hệ dân sự nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng. Vì
việc áp dụng các quy phạm thực chất sẽ giúp cho việc giải quyết các mối quan hệ này
được nhanh chóng vì không phải xác định hệ thống pháp luật nào được áp dụng, và
cũng không phải áp dụng pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, việc xây dựng quy phạm
thực chất thống nhất giữa các quốc gia không phải là một việc làm dễ dàng, vì các
quốc gia luôn mong muốn lợi ích của mình được đặt lên hàng đầu, luôn có sự mâu
thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia. Vì vậy, hiện nay các quy phạm thực chất được xây
dựng là rất ít so với các vấn đề cần được điều chỉnh.
Tóm lại, mặc dù các quy phạm thực chất tỏ ra rất hữu hiệu trong việc giải quyết
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, nhưng do còn nhiều hạn chế và mâu
thuẫn lợi ích giữa các quốc gia mà trên thực tế số lượng các quy phạm thực chất là rất
hiếm hoi. Vì thế, các nước thường có xu hướng áp dụng các quy phạm xung đột để
điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong thời kì hiện nay.

GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 13

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

1.4.2 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

không những mở ra khả năng hiệu chỉnh vấn đề nuôi con nuôi quốc tế ở phần đầu của
việc cho - nhận con nuôi mà còn đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em
trong quá trình được nhận nuôi. Đây là điểm mà pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố
2

Ts. Nông Quốc Bình, Ts. Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
trong thời kì hội nhập quốc tế, Nhà xuất bản tư pháp, 2006, trang 122.
3
http://www.news.gov.vn/Home/Viet-Nam-ky-gia-nhap-cong-uoc-ve-bao-ve-tre-em-va-hop-tac-trong-linh-vuccon-nuoi-quoc-te/201012/53615.vgp [truy cập ngày10 tháng 3 năm 2011]

GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 14

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

nước ngoài ở nước ta còn nhiều khó khăn trong việc thực hiện, vì pháp luật quốc gia
thì thường chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình nên khó có lòng
vươn xa ra xứ người để bảo vệ các em. Về cấu trúc, Công ước Lahay 1993 gồm lời nói
đầu, 7 chương, 48 điều với những nội dung chủ yếu sau: phạm vi áp dụng, các yêu cầu
đối với việc nhận nuôi con nuôi quốc tế, cơ quan trung ương của mỗi quốc gia phụ
trách về nuôi con nuôi quốc tế, thủ tục cho, nhận con nuôi quốc tế, công nhận việc
nuôi con nuôi và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi quốc tế, quy định chung và
những điều khoản cuối cùng. Công ước đã tạo lập một khuôn khổ pháp lý bao quát và
hiệu lực, bảo đảm cho trẻ em, đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có được
cuộc sống tốt đẹp cả về vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh những lợi ích đạt được, việc
gia nhập công ước cũng tạo ra nhiều thách thức cho chúng ta, đặc biệt là việc xây dựng

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

con nuôi. Nó tạo ra khung pháp lý thống nhất, tập trung được các quy định vể nuôi con
nuôi vốn nằm rải rác trong nhiều văn bản nên sẽ mang lại hệ quả pháp lý cao. Đây
được xem là một bước tiến quan trọng trong công tác giải quyết việc nuôi con nuôi nói
chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Bên cạnh đó, hiện nay Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 19/NĐ – CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
nuôi con nuôi, nghị định này hướng dẫn việc thực hiện các quy định trong Luật nuôi
con nuôi, giúp cho pháp luật về nuôi con nuôi được hoàn chỉnh, đồng thời nó cũng tạo
điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng thống nhất các quy định pháp luật về nuôi con
nuôi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, cùng với việc tham gia công ước quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi
và Luật nuôi con nuôi có hiệu lực, đã tạo ra khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, tạo môi trường thông thoáng để
quan hệ này phát triển phù hợp với thực tế khách quan, qua đó sẽ mang lại nhiềm niềm
vui, niềm hạnh phúc cho những trẻ em có hoành cảnh khó khăn cũng như nhiều gia
đình nhận nuôi con nuôi.
1.5 Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Luật nuôi con nuôi 2010 không quy định cụ thể các trường hợp nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài, tuy nhiên, từ định nghĩa về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
được quy định tại khoản 5 điều 3 Luật nuôi con nuôi 2010 ta thấy việc nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài bao gồm các trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất, việc nuôi con nuôi được xác lập giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài. Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi trong trường hợp này có thể
diễn ra theo hai chiều hướng: chiều hướng thứ nhất là người nước ngoài nhận trẻ em
Việt Nam làm con nuôi; chiều hướng thứ hai là công dân Việt Nam nhận trẻ em nước

năng lực hành vi của công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài trước tiên được xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật dân
sự Việt Nam. Ngoài ra, công dân Việt nam tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi còn
phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật nuôi con nuôi.
Bên cạnh chủ thể của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là công dân
Việt Nam thì người nước ngoài cũng là một chủ thể không thể thiếu. Theo đó, người
nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, có thể người này mang quốc tịch
của một nước khác không phải là Việt Nam hoặc người này không mang quốc tịch của
bất kì quốc gia nào. Khi công dân nước ngoài tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài tại Việt Nam thì năng lực chủ thể của người này sẽ được xác định
theo pháp luật của nước nơi người đó cư trú. Như vậy, so với việc áp dụng hệ thuộc
luật quốc tịch của cá nhân để xác định năng lực chủ thể của người nước ngoài như
trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì việc áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú
trong Luật nuôi con nuôi tỏ ra hữu hiệu hơn ngay cả khi người nước ngoài mang nhiều
quốc tịch khác nhau hay không mang một quốc tịch nào cả.
Trường hợp thứ hai, việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài
với nhau thường trú ở Việt Nam. Trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam dựa vào
yếu tố nơi cư trú để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi. Vì thực
tế hiện nay, việc một người làm ăn, sinh sống trên lãnh thổ của nước khác không phải
là nước mà mình mang quốc tịch diễn ra rất phổ biến. Khi đó, các cá nhân này luôn có
nhu cầu tham gia vào các quan hệ xã hội với các cá nhân sống tại quốc gia đó. Và trên
nguyên tắc, khi một người cư trú trên lãnh thổ của một nước mà người đó không có
quốc tịch của nước đó thì người này cũng phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật của
quốc gia nơi họ cư trú. Vì thế, khi những người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam
mà xác lập quan hệ nuôi con nuôi với nhau thì họ cũng phải chịu sự điều chỉnh của
pháp luật Việt Nam. Khi đó, họ phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam về
4

TS. Nông Quốc Bình, TS. Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
trong thời kì hội nhập quốc tế, Nxb Tư pháp, 2006, trang 49.

lập quan hệ nuôi con nuôi, ngoài việc tuân theo pháp luật Việt Nam, những người này
còn phải tuân theo pháp luật nơi họ sinh sống. Như vậy, nếu xét về mặt chủ thể thì
quan hệ này được xác lập giữa hai người cùng mang quốc tịch giống nhau nên hệ
thống pháp luật điều chỉnh sẽ là pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, giống như
quan hệ nuôi con nuôi trong nước. Tuy nhiên, do có một bên chủ thể cư trú ở nước
ngoài nên chủ thể này còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật nơi họ cư trú. Điều
này đã tạo nên nét đặc trưng khác biệt với quan hệ nuôi con nuôi được xác lập giữa
công dân Việt Nam với nhau thường trú ở trong nước.
Ngược lại, nếu quan hệ nuôi con nuôi được xác lập giữa công dân Việt Nam với
người gốc Việt Nam thì yếu tố nước ngoài càng trở nên rõ ràng hơn. Theo Luật quốc
tịch 2010 thì người gốc Việt Nam là người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh
ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ
đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Theo câu chữ của luật thì ta có thể hiểu
được người này trước đây đã có quốc tịch Việt Nam nhưng hiện nay đã thôi quốc tịch
Việt Nam, hoặc người này chưa thôi quốc tịch Việt Nam nhưng đã nhập quốc tịch của
nước nơi họ sinh sống. Như vậy, nếu xét về mặt chủ thể thì quan hệ nuôi con nuôi
trong trường hợp này có thể được xác lập giữa hai người mang quốc tịch khác nhau;
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 18

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

còn nếu xét về yếu tố nơi cư trú thì lại có một người đang cư trú ở nước ngoài, vì thế
trong trường hợp này luôn có hai hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ nuôi con
nuôi nên nó cũng thuộc trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo quy định
của pháp luật Việt Nam.

- Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi. Sự phân biệt này đã vô tình tạo nên
sự mặc cảm cho trẻ, ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Như vậy,
mục đích của việc con nuôi sẽ không đạt được.
GVHD: ThS.Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 19

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dương


Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

- Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.
- Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng,
người thuộc dân tộc thiểu số để hướng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thực
tế thời gian qua cho thấy, việc cho làm con nuôi của những đối tượng này để được
hưởng các chế độ, chính sách của nhà nước diễn ra cũng khá phổ biến. Thực tế trong
trường hợp này, người con nuôi thường không về sống chung với cha mẹ nuôi, giữa
cha mẹ nuôi và con nuôi cũng không phát sinh các quyền và nghĩa vụ với nhau. Vì thế,
Nhà nước cần kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn nữa để bảo đảm cho quan hệ nuôi con
nuôi phát triển đúng với bản chất của nó.
- Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi.
Nếu xác lậ quan hệ nuôi con nuôi trong trường hợp này sẽ làm đảo lộn tôn ti, trật tự
trong gia đình chẳng hạn: người đang ở vai con nhưng được ông bà nhận làm con nuôi
thì sẽ trở thành anh em với cha mẹ mình,…điều này là không phù hợp với truyền
thống đạo đức, văn hóa của dân tộc nên nó phải được nghiêm cấm.
- Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức,
truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Đây được xem là một quy định mở của pháp
luật nhằm khắc phục các trường hợp mới phát sinh mà pháp luật không thể dự trù
trước được. Tuy nhiên, do đây là quy định không cụ thể nên việc áp dụng quy định này

toàn Bắc kì từ ngày 01/7/1931 thay cho Bộ luật Gia Long. Hoàng Việt Trung Kỳ hộ
luật được ban hành năm 1939 thi hành trên toàn Trung Kỳ5. Cả ba bộ luật kể trên chủ
yếu điều chỉnh các quan hệ dân sự và quan hệ hôn nhân nhưng vẫn không có quy định
nào về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Mặc dù trong thời kỳ này, quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã tồn tại trên thực tế.
Thứ hai, giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959. Có thể nói, giai đoạn này Hiến
pháp ra đời đã khẳng định mạnh mẽ địa vị pháp lý của nước ta trên trường quốc tế, tạo
điều kiện cho các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ nuôi con
nuôi phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh ngày càng nhiều hơn nữa của
pháp luật. Tuy nhiên, do tình hình của nước ta thời bấy giờ đang phải đối phó với bao
thế lực thù địch trong và ngoài nước, chúng ta không có điều kiện để ban hành các văn
bản pháp luật để điều chỉnh những vấn đề này. Cho đến năm 1950, chúng ta vẫn còn
phải sử dụng lại các quy định trong ba bộ luật được ban hành vào thời Pháp thuộc, trừ
các quy định đi ngược lại với chế độ của ta. Cho nên, vấn đề về nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài vẫn chưa được nhà nước quan tâm một cách đúng mức. Nhưng Hiến
pháp 1946 ra đời đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ, xá bỏ tư tưởng lạc hậu,
qua đó cũng tạo tiền đề cho vấn đề nuôi con nuôi quốc tế sau này có điều kiện phát
triển.
Mặt khác, trong thời gian này nước ta chủ yếu quan hệ với các nước xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, nên quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngày
càng có điều kiện phát sinh. Tuy nhiên như đã nói, thời gian này nước ta đang phải đối
phó với thù trong giặc ngoài nên các vần đề về nuôi con nuôi chưa được pháp luật điều
chỉnh, nhưng sự tồn tại thực tế của quan hệ này sẽ tạo điều kiện cho pháp luật về nuôi
con nuôi phát triển hơn nữa trong các giai đoạn sau này.
Thứ ba, giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1986. Trong giai đoạn này, Hiến pháp
mới được ban hành vào ngày 31/12/1959 tiếp tục ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam
và nữ. Cùng lúc đó Luật hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua ngày
29/12/1959 quy định khá chi tiết về các vấn đề liên quan đến quan hệ giữa vợ và
chồng, cha mẹ và con, nuôi con nuôi. Nhưng Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 vẫn
chưa có điều khoản nào quy định về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status