LỜI MỞ ĐẦU
Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng không chỉ trong hệ thống
pháp luật của nhiều nước mà cũng thể hiện rất rõ trong pháp luật quốc tế. Chế
định nuôi con nuôi được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt
là sự bảo vệ về pháp lý rất cần thiết nhằm đảm bảo những lợi ích tốt nhất cho
những trẻ em không những chỉ non nớt về thể chất và trớ tuệ mà cũng có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn cần được sự chăm sóc từ phía gia đình và xã hội.
Qua tình hình người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con
nuôi trong những năm vừa qua, một vấn đề có tính cấp thiết được đặt ra đối
với Việt Nam là cần nghiên cứu, tham gia các Công ước quốc tế đa phương,
ký kết các điều ước quốc tế song phương nhằm tạo ra một cơ chế hợp tác
quốc tế chặt chẽ giữa Việt Nam với các nước liên quan về lĩnh vực này, đảm
bảo cho trẻ em được nhận làm con nuôi có đủ điều kiện được hưởng những
gỡ tốt đẹp nhất, cũng như tạo thuận lợi hơn về mặt thủ tục cho cha mẹ nuôi
trong lĩnh vực này. Mặt khác cũng nhằm hạn chế đến mức tối đa những hiện
tượng tiêu cực có thể xảy ra trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm này.
Chính vì mục đích như vậy, mà chúng em xin chọn đề tài “Thực
trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam’’, để
thấy rõ những vấn đề bất cập trong pháp luật Việt Nam. Để từ đó có những
giải pháp phù hợp trong quá trình phát triển.
Dù đã cố gắng song bài viết vẫn không thể tránh được những thiếu sót
và khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự chỉ giáo của các thầy cô giúp
cho bài viết được hoàn chỉnh hơn với sự cảm ơn chân thành nhất.!
1
NỘI DUNG
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
I.Khát quát chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:
I.1. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:
nhận. Đây là nguyên tắc trước đây chưa được khăng định ( trong Nghị định
184/CP). Có thể thấy rằng nguyên tắc cơ bản của việc nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài theo pháp luật Việt Nam dựa trên nguyên tắc tối thượng của Công
ước lahay 1993.
Thứ hai, việc cho người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em
có quốc tịch Việt Nam làm con nuôi chỉ được xem xét giải quyết nếu Việt
Nam và nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú đã ky kết hoặc cùng gia
nhập Điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con ( trừ trường hợp ngoại lệ). Đây là
một quy định mới so với quy định của Nghị định 184/ Cp trước đây và đã làm
thay đổi căn bản về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi.
II.2 Điều kiện nhận con nuôi:
Điều kiện đối với người nhận con nuôi:
Theo Điều 35.Luật HN & GĐ , Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi
quy định: “ Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt
Nam làm con nuôi, mà nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú và Việt
Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc điều ước
quốc tế nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi thì cũng được xem xét giải quyết,
nếu người đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên;
b) Có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam;
3
c) Có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin nhận làm con nuôi
hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con
nuôi;…”
2. Người đồng ý cho làm con nuôi quy định tại khoản 1 Điều này phải
được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi
con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ
giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.
3. Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc,
không bị đe doạ hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả
tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
4. Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã
được sinh ra ít nhất 15 ngày.
II.3 Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con nuôi:
Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “ Cha mẹ có
nghĩa vụ và quyền thương yêu, trong nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học
tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở
thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội .
Khoản 3 Điều 67 Nghị định số 158 cũng quy định : “ Nghiêm cấm lợi dụng
việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ
em hoặc vì mục đích trục lợi khác.”
Pháp luật Việt Nam hiện hành không phân biệt con sinh ra từ hôn nhân
và con sinh ra từ quan hệ như vợ chồng ngoài hôn nhân hoặc con nuôi. Như
vậy con nuôi cũng phải đuợc cha mẹ yêu thuơng, trông nom, nuôi duỡng
chăm sóc, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chăm lo việc học tập và giáo dục để
phát triển lành mạnh về mọi mặt, trở thành người con hiếu thảo, người công
dân có ích.
Ngược lại con nuôi cũng có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu
thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ
5
với số lượng rất ít. Trong những năm 80 và đầu những năm 90 bắt đầu
tăng.Chiến tranh Mỹ đóng vai trò trong việc khởi xướng vấn đề nhận con nuôi
Việt Nam.
I.1. Tích cực:
Trên cơ sở lí thuyết ta có thể thấy rằng, việc nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài có thể diễn ra theo hai xu hướng: Thứ nhất: cho người nước
ngoài (hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam
làm con nuôi; Thứ hai: Công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài
làm con nuôi.
Thực tiễn cho thấy việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con
nuôi là một hoạt động mang tính chủ đạo. Theo thống kê (chưa đầy đủ) của
Bộ tư pháp, chỉ trong 5 năm (1994 – 1999) đã có tới 9.322 trẻ em Việt nam
được người nước ngoài nhận nuôi. Trong đó, số trẻ em được làm con nuôi tại
Pháp là 3.407, chiếm trên 1/3 trẻ được nhận làm con nuôi tại Pháp. Ước tính
trung bình mỗi năm có khoảng 2000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài
nhận làm con nuôi và số lượng trẻ được ngoài nước ngoài nhận nuôi ngày một
tăng cao. Như vậy ta có thể thấy rằng: việc nhận trẻ em Việt Nam làm con
nuôi của người nước ngoài là một nhu cầu ngày càng phát triển. Xét về nguồn
trẻ em Việt Nam đó là: được nuôi dưỡng trong các cơ sở của ngành lao động,
thương binh xã hội, trong các cơ sở y tế hoặc từ gia đình.
Vào những năm cuối của thập kỉ 90, Việt Nam là một quốc gia đứng đầu
với tư cách là nước cho con nuôi với ít nhất là 10.000 trẻ em được cho làm
con nuôi ở tất cả các nước. Theo số liêu thống kê về tỉ lệ con nuôi từ Việt
Nam đến các nước nhận con nuôi với số lượng lớn trong năm 2008 cho thấy:
Tỉ lệ con nuôi từ Việt Nam đến: Canada chiếm 2,7%; Đan Mạch 2,4%; Pháp
17,1%; Ailen 10,9%; Ý 18,9%; Thuỵ Điển 2,7%;Thuỵ Sĩ 0,3%; Hoa Kỳ
7
45,3%. Tính trung bình hàng năm có ít nhất 1000 trẻ em Việt Nam được cho
đứng thứ 5 về số lượng trẻ con nuôi trong số 44 nước có hiệp định về việc
tiếp nhận con nuôi với Italia. Tuổi trung bình của trẻ em Việt Nam làm con
nuôi là hơn 1,5 tuổi, thấp nhất trong số các nước có trẻ em làm con nuôi tại
Italia. Và theo thống kê của Bộ lao động – Bộ thương bình và xã hội thì từ
2002 – 2008 đã có 8.356 trẻ em làm con nuôi ở các quốc gia khác trên thế
giới, bình quân mỗi năm là 1.194 em.
I.2.Hạn chế:
Trong pháp luật:
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, pháp luật về nuôi con nuôi
đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Các vấn đề liên quan đến nuôi con nuôi
được quy định tản mát trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nên một số
quy định về nuôi con nuôi còn chồng chéo, mâu thuẫn với nhau, làm giảm
hiệu lực áp dụng trong thực tế.
Hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực nuôi con nuôi trong thời
gian qua cũng còn nhiều hạn chế: nhiều trường hợp người dân không đi đăng
ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan có thẩm quyền, nên không có cơ sở pháp lý
bảo đảm quyền và lợi ích của người được nhận làm con nuôi, của cha mẹ
nuôi; việc nuôi con nuôi của đồng bào dân tộc ít người ở khu vực biên giới
diễn biến phức tạp; chưa có biện pháp tích cực để bảo đảm cho trẻ em được
chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình ở trong nước; còn có xu
hướng chạy theo lợi ích vật chất trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi
người nước ngoài; hiện tượng lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh,
người có công với cách mạng để hưởng quyền lợi, chế độ, chính sách của Nhà
nước cũng đã xảy ra.
Trong thực tiễn xã hội:
để "xuất ngoại". Trong số 11 trẻ sơ sinh chưa kịp "xuất ngoại" đã bị Công an
10
Nam Định ngăn chặn, đa số được mang từ các tỉnh khác về. Cũng theo tìm
hiểu, ngoài số trẻ em được đưa ra nước ngoài theo con đường chính thống,
không ít trưẻ em được "xuất ngoại" theo con đường "tiểu ngạch". Có nghĩa, số
trẻ em này được mang qua một số cửa khẩu phía Bắc bằng đường sông,
đường đồi núi, trốn tránh các cơ quan chức năng.
Trên đây chỉ là một ví dụ điểm hình trong vô số các trường hợp vi phạm
pháp luật về việc lợi dung việc cho và nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài để
thực hiện các hành vi môi giới, cò mồi, lợi dụng kẽ hở pháp luật bọn môi giới,
cò mồi đã tìm cách “hợp thức hóa” những trẻ em bị chúng bắt cóc (nhất là trẻ
sơ sinh) bằng cách: Đưa các cháu bé này vào trong các trung tâm bảo trợ xã
hội (hiện có ở nhiều tỉnh, thành khắp cả nước) dưới dạng trẻ vô thừa nhận, trẻ
bị bỏ rơi... Sau đó, cùng với sự tiếp tay của các nhân viên trung tâm bảo trợ xã
hội, đứa trẻ bị bắt cóc sẽ có giấy tờ hợp lệ với lý lịch mới nhằm mục đích trục
lợi. Đây thực sự là một hành vi vô nhân đạo, vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Từ đó nêu râ vấn đề cần có những biện pháp xử lí thích đáng nhằm giải quyết
vấn nạn buôn bán trẻ em dưới hìn thức nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoà
II. Một số giải pháp để luật nuôi con nuôi được thực hiện có hiệu
quả trong thực tế:
1.Cần tạo ra sự gắn kết, liên thông giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi
con nuôi quốc tế, trong đó ưu tiên tìm mái ấm gia đình trong nước cho trẻ em
Việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ được coi là giải pháp
thay thế cuối cùng, khi không thể tìm được mái ấm gia đình trong nước cho
trẻ em. Muốn vậy, cần tăng cường hơn nữa công tác xây dựng, hoàn thiện thể
chế pháp luật, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật
trong nhân dân nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vấn đề nuôi con
nuôi trong nước, từ đó hướng đến mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Đây
12
quản lý. Có như vậy mới có thể kiểm tra, giám sát tốt việc thực hiện pháp luật
về nuôi con nuôi, cũng như theo dõi, kiểm tra việc sử dụng đúng pháp luật các
khoản thu từ phí, lệ phí giải quyết việc nuôi con nuôi trong phạm vi cả nước.
3. Tăng cường vai trò của Cơ quan con nuôi Trung ương
Tăng cường vai trò của Cơ quan Trung ương trong lĩnh vực nuôi con
nuôi là hết sức cần thiết, một mặt, nhằm đáp ứng yêu cầu khi tham gia Công
ước Lahay, mặt khác nhằm tập trung quản lý thống nhất lĩnh vực nuôi con
nuôi vào một đầu mối.
Cơ quan con nuôi Trung ương cần được củng cố, tăng cường cả về số
lượng và chất lượng để có thể đảm nhiệm được trọng trách nặng nề hơn trong
điều kiện nước ta tham gia Công ước Lahay. Trong cơ chế xử lý vấn đề nuôi
con nuôi, Cơ quan con nuôi Trung ương phải là đầu mối trong việc tìm mái
ấm gia đình cho trẻ em, chịu trách nhiệm về hồ sơ của cha mẹ nuôi, bảo đảm
trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi theo quy định của pháp luật và đã
có sự tự nguyện đồng ý của những người có quyền cho con nuôi. Trong
khuôn khổ Công ước Lahay, Cơ quan Trung ương phải trực tiếp tiến hành
mọi biện pháp thích hợp nhằm: Cung cấp các thông tin pháp luật, số liệu
thống kê và biểu mẫu chuẩn về nuôi con nuôi; Báo cáo về tình hình thực thi
Công ước và trong chừng mực có thể, loại bỏ mọi trở ngại đối với việc thực
hiện Công ước. Đây là hai nhiệm vụ tối quan trọng mà Cơ quan Trung ương
phải trực tiếp thực hiện, không được ủy quyền cho cơ quan nào. Đồng thời,
trong khuôn khổ pháp luật nước mình, Cơ quan Trung ương có trách nhiệm
“loại bỏ mọi trở ngại đối với việc thực thi Công ước”. Đây cũng là công việc
nặng nề và phức tạp, đòi hỏi sự cương quyết, nghiêm túc, tinh thần trách
nhiệm cao của bộ máy cán bộ công chức làm việc trong lĩnh vực nuôi con
nuôi.
thiệu làm con nuôi); Hoạt động nhân đạo, phi lợi nhuận của các tổ chức con
nuôi nước ngoài tại Việt Nam.
15
KẾT LUẬN
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trong
pháp luật HN & GĐ không chỉ trong pháp luật quốc gia mà còn trong pháp
luật quốc tế. Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được cả cộng
đồng quốc tế đặc biệt quan tâm vì đó là sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết đối với
những lợi ích tốt nhất cho trẻ em, những đối tượng không chỉ non nớt về mặt
thể chất và trí tuệ mà còn có những hoàn cảnh éo le, mất mát lớn về tình cảm,
không được hưởng mái ấm gia đình trên quê hương của mình. Đối với Việt
Nam, một đất nước phải gánh chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh
thì việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó có quyền được làm con
nuôi, được chăm sóc nuôi dưỡng đối với những đứa trẻ bất hạnh, là điều luôn
được Đảng và Nhà nước quan tâm và bảo đảm thực hiện.
Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu của công cuộc hội nhập
nhất là trong việc chuẩn bị gia nhập Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em
và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước, do đó việc làm cho
pháp luật Việt Nam hài hoà với thông lệ quốc tế cũng như pháp luật của nhiều
nước về nuôi con nuôi là việc làm cấp bách. Chính vì vậy chúng ta cần nghiên
cứu việc nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài dựa trên thực tiễn, để thấy rõ
những vấn đề bất cập trong pháp luật Việt Nam. Để từ đó có những giải pháp
phù hợp trong quá trình phát triển hiện nay.
16