TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
2012-2015
VẤN ĐỀ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Sinh viên thực hiện:
Trịnh Thanh Phong
MSSV: S120062
Lớp: Văn bằng 2 Đồng Tháp
Cần Thơ, tháng 12/2014
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................ 2
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 2
5. Bố cục đề tài .............................................................................................................. 2
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm và đặc trưng về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ................ 4
1.1.1 Khái niệm về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ...................................... 4
1.1.2 Đặc trưng về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ....................................... 6
1.2 Đối tượng điều chỉnh về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài..................... 7
1.2.1 Về mặt chủ thể ................................................................................................... 7
1.2.2 Về mặt khách thể ............................................................................................... 9
1.2.3 Về mặt sự kiện pháp lý..................................................................................... 10
1.3 Phương pháp điều chỉnh về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài ............................................................................................................................ 11
1.3.1 Phương pháp thực chất ..................................................................................... 11
1.3.2 Phương pháp xung đột. .................................................................................... 11
1.4 Nguồn luật điều chỉnh về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ................. 13
1.4.1 Pháp luật quốc gia. ........................................................................................... 13
1.4.2 Điều ước quốc tế. ............................................................................................. 14
1.5 Nguyên tắc áp dụng pháp luật và một số hệ thuộc giải quyết xung
đột pháp luật trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ............................... 15
1.5.1 Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết quan hệ
hôn nhân có yếu tố nước ngoài ......................................................................... 15
1.5.2 Một số hệ thuộc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hôn
nước ngoài ................................................................................................... 30
2.1.2.3 Thẩm quyền đăng ký kết hôn tại Cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài ở nước ngoài ............................................................................. 31
2.1.3 Giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ............................... 31
2.1.3.1 Hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ............................................. 31
2.1.3.2 Trường hợp cấp giấy xác nhận của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ................................................ 33
2.1.3.3 Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ................ 34
2.1.3.4 Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam .................. 35
2.1.3.4.1 Nộp, tiếp nhận hồ sơ ............................................................................. 35
2.1.3.4.2 Giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam ..................................... 35
2.1.3.5 Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đại
diện của Việt Nam ở nước ngoài ................................................................. 38
2.1.3.5.1 Nộp, tiếp nhận hồ sơ ............................................................................. 38
2.1.3.5.2 Giải quyết việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện của
Việt Nam ở nước ngoài.......................................................................... 38
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
4
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
2.1.4 Công nhận và từ chối đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài .................... 39
2.1.4.1 Công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải
quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài ................. 39
5
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
3.2 Giải pháp về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài ........................................ 67
3.3.1 Giải pháp về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên phạm vi cả
nước .................................................................................................................. 67
3.3.2 Giải pháp về vấn đề hôn nhân có yếu nước ngoài trên địa bàn tỉnh
Đồng Tháp ........................................................................................................ 70
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
6
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
7
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
2. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam,
người viết nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài như: đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và một số hệ thuộc giải
quyết xung đột pháp luật. Bên cạnh đó, người viết nghiên cứu pháp luật Việt Nam về
kết hôn có yếu tố nước ngoài gồm điều kiện kết hôn, thẩm quyền đăng ký kết hôn,
công nhận và từ chối đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, pháp luật Việt Nam về ly
hôn có yếu tố nước ngoài gồm điều kiện ly hôn, quyền yêu cầu ly hôn, thẩm quyền xét
xử chung và riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Trên cơ sở đó, người viết nêu ra một số
thực trạng về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên phạm vi cả nước và trên địa
bàn tỉnh Đồng Tháp nhất là quan hệ hôn nhân giữa nữ công dân Việt Nam và nam
công dân nước ngoài để đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện bất cập về vấn đề trên.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài nghiên cứu, người viết có thể giới thiệu một cách khái quát các quy
định pháp luật Việt Nam về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Có thể tư vấn cho
công dân Việt Nam về điều kiện, trình tự, thủ tục cũng như cơ quan giải quyết việc kết
hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài. Và trường hợp nào áp dụng pháp luật Việt Nam để
giải quyết các vấn đề xung đột pháp luật. Từ đó có những kiến nghị của bản thân góp
phần hoàn thiện quan hệ này, qua đó người viết có thể tích lũy vốn kiến thức phục vụ
vấn đề công nhận bản án, quyết định về ly hôn của Tòa án nước ngoài.
Chương 3. Thực trạng và giải pháp về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Người viết tập trung nêu lên thực trạng về vấn đề hôn nhân yếu tố nước ngoài
trên phạm vi cả nước nói chung và trên đại bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng, từ đó có
giải pháp hoàn thiện những bất cập về vấn đề trên.
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
9
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm và đặc trưng về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Ngày nay quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng
hiếm hoi trong đời sống xã hội, mà quan hệ này ngày càng phát triển một cách đa
dạng, phức tạp. Chính vì thế, việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
đã trở thành một yêu cầu cấp bách, quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân khi tham gia vào quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Mặt khác, hôn nhân là một hiện tượng xã hội phát triển với xã hội loài người,
hôn nhân thể hiện mối quan hệ xã hội giữa vợ và chồng hay hôn nhân là quan hệ giữa
vợ và chồng sau khi đã kết hôn.
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
để xác lập, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai
bên định cư ở nước ngoài. Hay nói cách khác, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
là quan hệ hôn nhân mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, công dân Việt
Nam định cư ở nước ngoài, quan hệ hôn nhân giữa các bên tham gia là công dân Việt
Nam nhưng căn cứ xác lập, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài
sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Trong các trường hợp trên để xác lập quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
thì hai bên nam nữ phải tuân theo các điều kiện kết hôn do luật định hay nói cách khác
kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định
của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn mà ít nhất một trong các bên
tham gia là người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc kết hôn
giữa công dân Việt Nam với nhau mà xác lập quan hệ đó ở nước ngoài.
Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài tại cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài. Như vậy hai công dân Việt Nam phải tuân theo pháp luật
Việt Nam và pháp luật nước ngoài về điều kiện, hình thức kết hôn. Khi đó sự kiện xác
lập quan hệ hôn nhân đã xảy ra ở nước ngoài và đặt ra vấn đề áp dụng pháp luật nước
nào để giải quyết quan hệ trên. Như vậy việc kết hôn giữa họ mang yếu tố nước ngoài.
Trong quan hệ hôn nhân nếu kết hôn là hiện tượng bình thường thì ly hôn là
hiện tượng bất thường. Khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, mục đích hôn nhân
không đạt được thì việc chấm dứt hôn nhân tất yếu xảy ra. Mặc khác, “ly hôn là chấm
dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc
của chồng hoặc cả hai vợ chồng”2. Như vậy ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ
chồng khi có sự yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng trên cơ sở là quyết
định hay bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Vậy ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng mà một
cầu cần phải xem xét, lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng đối với quan hệ này.
Ví dụ: Công dân Việt Nam kết hôn với công dân Hàn quốc tại cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam thì việc kết hôn phải tuân theo pháp luật Việt Nam và pháp luật
Hàn Quốc về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn. Như thế hiện tượng xung đột
pháp luật đã xảy ra và việc áp dụng pháp luật nước nào sẽ được đặt ra.
Thứ hai, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cũng là một loại quan hệ dân
sự nhưng có tính chất đặc biệt và được thể hiện ở mặt tình cảm giữa các chủ thể khi
tham gia vào quan hệ này. Đây cũng là yếu tố quyết định trong việc xác lập hay chấm
dứt quan hệ hôn nhân. Mặc khác, quan hệ hôn nhân còn bị ảnh hưởng nhiều bởi phong
tục tập quán, đạo đức xã hội, những hiểu biết về pháp luật nước ngoài làm cho quan
hệ này bị chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu giữa các bên về mặt
tình cảm là việc rất khó khăn dể dẫn đến tình trạng ly hôn ngày càng tăng như hiện
nay.
Thứ ba, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài có sự tham gia của người nước
ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với những quy chế pháp lý khác nhau
trong từng mối quan hệ cụ thể nên quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường đa
dạng và phức tạp hơn nhiều so với quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung.
Thứ tư, tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài còn phải
chịu sự điều chỉnh riêng của các hệ thống pháp luật khác nhau nên việc xác định tài
sản trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là việc rất khó khăn và phức tạp.
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
12
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
“Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho
đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật
này.
3
Theo Điều 17 Hiến Pháp 2013.
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
13
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo
2.
quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc
tịch Việt Nam.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không
có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì
đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch
Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam.”
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
- Chủ thể là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Khi đó, quan hệ hôn
nhân giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước
ngoài thì quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Quy định này là hoàn toàn phù hợp
khi số lượng người Việt Nam cư trú ở nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam ngày càng
tăng. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người Việt Nam cư trú ở
nước ngoài cũng tăng lên. Theo quy định tại Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm
2008 thì: người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài (Người gốc Việt Nam định cư ở nước
ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của
họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh
sống lâu dài ở nước ngoài).
Như vậy việc kết hôn hay ly hôn giữa công dân Việt Nam với người có quốc
tịch nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với người không quốc tịch, giữa người có
quốc tịch nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa người không quốc tịch
với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa công dân Việt Nam cư trú trong nước với công
dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài
với nhau là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
1.2.2 Về mặt khách thể
Khi quan hệ hôn nhân được xác lập thì quan hệ về tài sản (tài sản chung, tài sản
riêng…) và các quan hệ về nhân thân (danh dự, nhân phẩm, uy tín…) giữa các chủ thể
cũng được xác lập đặc biệt là tài sản đó ở nước ngoài, nên còn phải chịu sự điều chỉnh
của pháp luật nước ngoài. Như vậy khách thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài là tài sản, quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài.
Khi điều chỉnh những tranh chấp về tài sản trong hôn nhân có yếu tố nước
đề xung đột pháp luật. Như vậy sự kiện pháp lý để xác lập, chấm dứt quan hệ hôn
nhân xảy ra ở nước ngoài thì vấn đề lựa chọn pháp luật sẽ được đặt ra để giải quyết
vấn đề trên.
Ví dụ: Anh A và chị B đều là công dân Việt Nam nhưng kết hôn với nhau ở
nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Như vây, Anh A và chị B không
chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp
luật nước ngoài (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy
định khác) về điều kiện và nghi thức kết hôn. Như vậy, căn cứ xác lập quan hệ hôn
nhân xảy ra ở nước ngoài và tuân theo pháp luật nước ngoài nên quan hệ hôn nhân
mang yếu tố nước ngoài. Còn nếu công dân Việt Nam chấm dứt quan hệ hôn nhân ở
nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì pháp luật được áp dụng để
điều chỉnh là pháp luật của nước mà các bên vợ, chồng mang quốc tịch (pháp luật Việt
Nam) và pháp luật nơi tiến hành ly hôn (pháp luật của nước mà Tòa án có thẩm quyền
giải quyết) thì yếu tố chấm dứt quan hệ hôn nhân ở nước ngoài được xem là có yếu tố
nước ngoài.
Như vậy việc xác định đúng thời điểm mà sự kiện pháp lý như việc xác lập hay
chấm dứt quan hệ hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng. Việc xác định như vậy giúp cho
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng luật áp dụng để giải quyết xung đột
pháp luật phát sinh giữa các chủ thể. Từ đó, ta có thể áp dụng luật trong việc giải
quyết tranh chấp liên quan đến các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài một cách nhanh chóng và chính xác.
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
16
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
được áp dụng điều chỉnh quan hệ này là quy phạm xung đột.
1.3.2 Phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột là phương pháp gián tiếp giải quyết vấn đề. Phương
pháp này sử dụng quy phạm xung đột để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
17
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
ngoài. Do yếu tố nước ngoài đã dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật giữa các quốc
gia có liên quan và đặt ra yêu cầu cần xem xét lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng.
Như tại Khoản 1 Điều 103 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Trong việc kết hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật
nước mình về điều kiện kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy
định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều kiện kết hôn”. Hoặc tại Khoản
2 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Trong trường hợp bên là công
dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly
hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng”.
Khi đó quy phạm xung đột là loại quy phạm mang tính chất hướng dẫn đưa ra nguyên
tắc chọn luật hay xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ áp dụng.
Đối với các quan hệ hôn nhân, các quy phạm xung đột không trực tiếp điều
chỉnh mà chỉ quy định pháp luật nước nào cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ cụ
thể đó. Do vậy, quy phạm xung đột là loại quy phạm pháp luật dẫn chiếu, theo sự dẫn
quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và trong quan hệ quốc tế Việt Nam cũng đã
ký kết nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp để giải quyết xung đột pháp luật trong quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
nói riêng. Đã tạo nên nguồn luật điều chỉnh về hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
1.4.1 Pháp luật quốc gia
Pháp luật quốc gia là hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp
luật trong nước. Trên thực tế có rất nhiều hình thức chứa đựng các nguyên tắc và quy
phạm điều chỉnh quan hệ này tuy nhiên hình thức cụ thể nào được coi là nguồn của
pháp luật trong nước thì hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của hệ thống pháp luật của
mỗi nước.
Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật Việt Nam là hệ thống pháp luật thành văn
được quy định trong các văn bản pháp luật như sau:
Chủ yếu là trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dành chương XI để
quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài như thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, kết hôn,
ly hôn có yếu tố nước ngoài. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng dành riêng
XIII để quy định về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài từ Điều 121 đến Điều
130. Ngoài ra, còn có một số văn bản luật khác cũng quy định một số vấn đề liên
quan đến quyền kết hôn, quyền ly hôn, giải quyết việc ly hôn, trình tự thủ tục đăng ký
kết hôn cũng như giải quyết ly hôn được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005,
Luật quốc tịch năm 2008, Luật cư trú năm 2006, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
ngoài ra còn có các quy định chi tiết như Nghị định số 24/2013/NĐ-CP của Chính
Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Nghị định 138/2006/NĐ-CP của Chính
Phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài. Thông tư số 22/2013/TT-BTP của Bộ Tư Pháp quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 3
năm 2013 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và
gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
“18 Hiệp định tương trợ tư pháp”4 với các nước liên quan trong lĩnh vực dân sự, lao
động, hôn nhân và gia đình.
Một số Hiệp định Việt Nam tham gia ký kết nhằm điều chỉnh quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như: Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt
Nam với Lào ngày 6/7/1998 ngày có hiệu lực 19/02/2000, với Bungari ngày
3/10/1986 đang có hiệu lực, với Ba Lan 22/3/1993 ngày có hiệu lực 18/01/1995, Bêla-rút ngày 14/9/2000 ngày có hiệu lực 18/10/2001...
4
Theo thông tin trên cổng thông tin điện tử về danh mục hiệp định tương trợ tư pháp của công tác lãnh sự -
Bộ ngoại giao Việt Nam tại địa chỉ:
/>Dafeb%2D47d4bee70eee&ID=414 [truy cập ngày 22/8/2014]
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
20
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
1.5 Nguyên tắc áp dụng pháp luật và một số hệ thuộc giải quyết xung đột pháp
luật trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
1.5.1 Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
1.5.2 Một số hệ thuộc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hôn nhân có
yếu tố nước ngoài
Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng
tham gia vào điều chỉnh một quan hệ pháp luật mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ
thống pháp luật có sự khác nhau. Dựa trên các dấu hiệu như quốc tịch, nơi cư trú, nơi
tiến hành kết hôn, ly hôn... để xác định pháp luật áp dụng. Tuy nhiên, pháp luật của
hầu hết các nước đều quy định để áp dụng hệ thống pháp luật đã được quy phạm xung
đột dẫn chiếu nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì phải tuân
theo một số điều kiện nhất định và việc xem xét, lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng
đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết qua một số hệ
thuộc sau:
1.5.2.1 Hệ thuộc luật quốc tịch
Hệ thuộc luật quốc tịch hay còn gọi là luật của quốc gia mà đương sự là công
dân. Hệ thuộc này quy định áp dụng pháp luật nước mang quốc tịch khi quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài phát sinh. Mỗi cá nhân đều có mối quan hệ pháp lý mật
thiết với một nhà nước, nên sẽ được hưởng những quyền và sự bảo hộ của quốc gia,
cũng như phải chịu những nghĩa vụ pháp lý mà quốc gia qui định. Cá nhân mang
quốc tịch của quốc gia nào thì sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc gia
đó. Tại điều 103 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Trong việc kết hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của
nước mình về điều kiện kết hôn”. Nước mình được hiểu là nước mà người nước ngoài
là công dân hoặc cư trú nếu là người không quốc tịch hoặc nước mà người nước
ngoài mang quốc tịch và cư trú nếu là người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài.
pháp luật Việt Nam”. Như vậy, khi áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú sẽ giúp cho việc
giải quyết vụ việc về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được nhanh chống và
thuận lợi hơn.
Ví dụ: Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Nếu vào thời
điểm yêu cầu ly hôn công dân Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Hàn
Quốc thì sẽ giải quyết theo pháp luật Hàn Quốc, nếu công dân Việt Nam thường trú
tại Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Hàn Quốc thì sẽ giải quyết theo pháp
luật Việt Nam.
Hệ thuộc luật nơi cư trú ngày càng được nhiều nước áp dụng khi có vấn đề
phát sinh. Thực tế trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, với chính sách mở cửa và
hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới, số lượng người nước ngoài, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam ngày càng tăng. Do đó, quan
hệ hôn nhân có yếu tố yếu ngoài cũng tăng lên. Vì vậy, việc áp dụng hệ thuộc luật nơi
cư trú là hết sức cần thiết.
1.5.2.3 Hệ thuộc luật nơi có vật (tài sản)
Hệ thuộc luật nơi có tài sản là cách thức áp dụng pháp luật dựa vào yếu tố tài
sản: tài sản nằm ở đâu thì áp dụng pháp luật ở nơi đó để giải quyết. Tại khoản 3 điều
104 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc giải quyết tài sản là bất
động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản
đó”. Như vậy tài sản là bất động sản của hai vợ chồng nằm trên lãnh thổ của quốc gia
nào thì sẽ áp dụng pháp luật của quốc gia đó để giải quyết vấn đề tài sản trên. Nếu tài
GVHD: ThS Bùi Thị Mỹ Hương
23
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
SVTH: Trịnh Thanh Phong
Đề tài:
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI
2.1 Pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài
Hiện nay Việt Nam đang mở rộng quan hệ hợp tác và tăng cường quan hệ đối
ngoại với các nước, các vùng lãnh thổ đã và đang làm phát sinh nhiều quan hệ xã hội
mới. Tình trạng công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, lao động cư trú và kết hôn
với nhau ở nước ngoài hoặc kết hôn với người nước ngoài; người nước ngoài cư trú
tại Việt Nam có nhu cầu kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
ngày càng phổ biến.
Ngoài quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 định nghĩa
chưa cụ thể về kết hôn có yếu tố nước ngoài. Thì tại Điều 1 Nghị định số
24/2013/NĐ-CP quy định rõ hơn nội hàm của kết hôn có yếu tố nước ngoài “trong
trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân
Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài
với nhau tại Việt Nam”. Theo định nghĩa trên, không riêng gì người nước ngoài
thường trú tại Việt Nam mà cả trường hợp tạm trú tại Việt Nam cũng được xem là kết
hôn có yếu tố nước ngoài. Nên có các trường hợp kết hôn sau đây:
-
Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam