MỘT số vấn đề PHÁP lý cơ bản về THU hút vốn đầu tư nước NGOÀI THÔNG QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ở VIỆT NAM - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN HÒA

Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thu hút vốn đầu tư
nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán ở
Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn: TS. Lê Thị Thu Thủy

Hà nội - 2004


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

5

CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG

11

KHOÁN VÀ VẤN ĐỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
THÔNG QUA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1.1.

Khái quát chung về thị trƣờng chứng khoán

Khái niệm thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài thông qua thị trƣờng

25

chứng khoán
1.2.2

Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ tại thị trƣờng chứng

28

khóan Việt Nam
1.2.3

Những điều kiện thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong 31
việc thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài qua thị trƣờng chứng khoán

1.2.4

Những tác động cơ bản đối với nền kinh tế - xã hội do việc

35

thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài qua thị trƣờng chứng khoán Việt
Nam
CHƢƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC

39

NGOÀI THÔNG QUA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT


Đầu tƣ mua bán chứng khoán

44

2.2.2

Thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán liên doanh

47

2.3

Các quy định về ƣu đãi thuế quan đối với nhà đầu tƣ nƣớc

68

ngoài khi đầu tƣ tại thị trƣờng chứng khoán Việt Nam
2.3.1

Ƣu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp

69

2.3.2

Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc phép chuyển lợi nhuận,

72


83

3.2.1

Về việc ban hành luật chứng khoán

3.2.2

Điều chỉnh các quy định về thuế quan tạo ra sự ƣu đãi hơn
cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ tại thị trƣờng chứng

85


khoán
3.2.3

Hoàn thiện khung pháp lý trong việc cho phép chuyển đổi

89

doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
3.2.4

Cho phép các tổ chức kinh doanh chứng khoán nƣớc ngoài

91

thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện và doanh nghiệp
100% vốn nƣớc ngoài hoạt động tại thị trƣờng chứng

trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế tập trung bao cấp
sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa và đang phát triển với tốc độ cao, ổn định; đồng thời, trong bối
cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Mục
đích đặt ra khi xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam là nhằm thông qua thị
trường để huy động và luân chuyển các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn phục
vụ cho phát triển đất nước; tận dụng các cơ hội để mở rộng và phát triển thị
trường, trong đó coi các yếu tố nội lực là quyết định. Để phù hợp với yêu cầu của
quá trình hội nhập và sử dụng thị trường chứng khoán là một kênh thu hút các
nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, Việt Nam đã mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia
ngay từ khi thị trường mới đi vào hoạt động. Như vậy, việc mở cửa thị trường

5


chứng khoán Việt Nam vừa do ảnh hưởng, tác động bởi yêu cầu của quá trình
hội nhập, vừa là đòi hỏi của nội tại nền kinh tế đang trong giai đoạn cần vốn đầu
tư.
Thực tế các nước đang phát triển trên thế giới và tại Việt Nam trong
những năm qua cho thấy, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã và đang đóng một
vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội.
Phát triển và mở cửa thị trường chứng khoán, bên cạnh các kênh huy động
vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và viện trợ phát triển (ODA), chúng ta có thêm một
kênh cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam đầy tiềm năng và
hiệu quả. Nếu Việt Nam có những chính sách phù hợp thì thông qua thị trường
chứng khoán sẽ huy động được các nguồn vốn trong và ngoài nước, đặc biệt là
các nguồn vốn dài hạn để tăng thêm sức mạnh cho hệ thống tài chính quốc gia.
Trong Phƣơng hƣớng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5
năm 2001-2005, đại hội IX của Đảng đã đề ra mục tiêu là trong giai đoạn 2001 –

nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán nói riêng.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài “ Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thu hút
đầu tƣ nƣớc ngoài thông qua thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” để góp
phần hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán nhằm huy
động được tối đa các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán ở
Việt Nam .
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về
chứng khoán và thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, phần lớn các công trình
nghiên cứu đó được thực hiện dưới khía cạnh kinh tế, những vấn đề thuộc
chuyên môn nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, những tác động của thị trường
chứng khoán đối với nền kinh tế...

7


Tại Việt Nam, mặc dù nền kinh tế chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao
cấp sang nền kinh tế thị trường mới được hơn 15 năm, song cho đến nay cũng đã
có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà kinh tế về chứng
khoán và thị trường chứng khoán đã được công bố và các công trình nghiên cứu
đó đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao kiến thức cho người dân về chứng
khoán và thị trường chứng khoán. Các nhà nghiên cứu hàng đầu tại Việt nam về
chứng khoán và thị trường chứng khoán phải kể đến như Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn
Tư, Giáo sư Nguyễn Duy Gia và nhiều các nhà nghiên cứu khác.
Dưới góc độ pháp lý, các công trình nghiên cứu còn rất ít, chủ yếu là các
bài viết đăng trên các Báo, tạp chí. Nội dung của các bài viết đó tập trung vào
các vấn đề như : Những vấn đề bất cập trong các quy định của pháp luật về
chứng khoán và thị trường chứng khoán, các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán …
Cho đến nay, tại Việt nam chưa có một công trình nghiên cứu khoa học

việc thu hút, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường
chứng khoán Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư, các biện pháp đảm bảo
đầu tư và các uư đãi thuế quan đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia thị
trường chứng khoán .
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử: Sử dụng phương pháp
này trong phân tích và đánh giá để thấy các quy định về khuyến khích đầu tư
nước ngoài vào thị trường chứng khoán ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình
hình thực tiễn hơn; các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán, các

9


quy định nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán có
mối liên hệ chặt chẽ với các quy định của hệ thống pháp luật nói chung; đồng
thời nhìn nhận các quy định được xây dựng theo thời gian và trong những điều
kiện thực tế nhất định để hiểu vấn đề sâu sắc hơn.
- Phương pháp so sánh: được sử dụng thường xuyên trong mỗi vấn đề
qua việc đánh giá các quy định về thu hút đầu tư nước ngoài vào thị trường
chứng khoán của Việt Nam có sự tương đồng hay khác biệt với luật pháp các
nước và thông lệ quốc tế về vấn đề này cũng như so sánh giữa các văn bản điều
chỉnh một vấn đề nhưng được xây dựng trong những thời gian khác nhau.
- Phương pháp thống kê: Thống kê tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam nói chung và tình hình đầu tư vào thị trường chứng khoán qua các số liệu
về vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đã đưa vào Việt Nam qua thị trường
này.
6. Những đóng góp của Luận văn:
- Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ được vai trò của thị trường chứng

1.1 Khái quát chung về thị trƣờng chứng khoán
1.1.1 Khái niệm thị trƣờng chứng khoán
1.1.1.1 Sự ra đời của thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán đã ra đời và phát triển trên thế giới cách đây hàng
trăm năm và đã trải qua nhiều bước thăng trầm.
Hình thức sơ khai của thị trường chứng khoán xuất hiện vào khoảng thế
kỷ 15 tại các trung tâm thương mại của các nước phương Tây, nơi các thương
gia trao đổi, thương lượng mua bán hàng hoá với nhau. Sự trao đổi, thoả thuận
đó diễn ra tại các quán cà phê và thông qua lời nói với nhau về các hợp đồng
mua bán mà không có sự xuất hiện trực tiếp của hàng hoá. Nguyên bản đầu tiên
của thị trường giao dịch phải kể tới thị trường tại thành phố Bruges của Vương
quốc Bỉ vào năm 1453, tiếp theo là sự ra đời của các thị trường ở Anh, Đức …
vào thế kỷ 18. Nội dung giao dịch tại đó bao gồm cho cả thị trường hàng hoá, thị
trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán động sản (giao dịch các loại giấy tờ
xác định quyền đối với tài sản). Quá trình hoạt động của thị trường giao dịch đó
đã làm xuất hiện các quy ước xác định cho các cuộc thương lượng và rồi trở

11


thành các quy tắc có tính bắt buộc đối với các thành viên tham gia thị trường. Do
sự phát triển của kinh tế và lưu thông hàng hoá, sau một thời gian hoạt động, thị
trường đã không đáp ứng được yêu cầu cho cả ba giao dịch nữa nên đã dẫn đến
sự chia tách thành: các khu thương mại ( từ thị trường hàng hoá), thị trường hối
đoái (từ thị trường ngoại tệ) và thị trường chứng khoán (từ thị trường chứng
khoán động sản).
Thị trường chứng khoán ra đời đã có tác động tích cực đến nền kinh tế,
đặc biệt là ở một số nước Tây Âu và bắc Mỹ. Các nước đã nhận thấy vai trò của
thị trường chứng khoán như một kênh thu hút và lưu thông các nguồn vốn đầu tư
phát triển và thông qua thị trường, Nhà nước có thể quản lý và tác động đến nền

và có nhiều điểm khác so với thời kỳ ban đầu. Theo sự phát triển của thị trường
chứng khoán mỗi thời kỳ và dưới các góc độ khác nhau, khái niệm về thị trường
chứng khoán cũng có sự khác nhau nhất định.
Theo Christine Stopp – một nhà kinh tế học người Mỹ, thì thị trường
chứng khoán là địa điểm mua bán chứng khoán của các công ty. Nó được công
nhận là một biện pháp hữu hiệu nhằm giúp cho các doanh nghiệp huy động vốn
kinh doanh , đồng thời cống hiến cơ hội cho những cá nhân và định chế sẵn lòng
cho vay tiền [ 42 ].
Tại Việt nam, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế về thị trường chứng
khoán trong các tác phẩm, các công trình nghiên cứu cũng đã nêu khái niệm về
thị trường chứng khoán khác nhau. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Gia thì:
Thị trường chứng khoán là hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán
trung, dài hạn (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng
khoán khác) có tổ chức, theo pháp luật quy định [ 56, tr10].
Còn theo Ts. Trần Thị Minh Châu, trong cuốn sách nghiên cứu về thị
trường chứng khoán với điều kiện thực tiễn của Việt nam, xuất bản năm 2003 “
Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế – xã hội hình thành và phát
triển thị trường chứng khoán ở Việt nam ” thì cho rằng: Thị trường chứng

13


khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, trong đó chuyên môn hoá giao
dịch một số loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, kể cả các
công cụ tài chính phái sinh từ cổ phiếu, trái phiếu, theo những phương thức có
tổ chức như giao dịch qua sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán , giao
dịch trực tiếp và qua mạng [34, tr 10]. Quan điểm này về thị trường chứng
khoán được tác giả đưa ra trên cơ sở nghiên cứu thị trường tài chính nói chung
và vị trí, mối quan hệ của thị trường chứng khoán và thị trường tài chính.
Như vậy, các quan điểm nêu trên về thị trường chứng khoán tuy có một số

hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó giá cả của chứng
khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư.
Thị trường chứng khoán là một thể chế tài chính cấp cao, là thị trường
giao dịch các công cụ tài chính trung và dài hạn. Đặc trưng của thị trường chứng
khoán là tính tự do và xã hội hoá rất cao với sự tham gia của nhiều chủ thể bao
gồm các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài.
Dưới góc độ pháp lý, pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
của Việt nam cũng như trong Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán của
các nước có nêu khái niệm chứng khoán nhưng không nêu khái niệm cụ thể về
thị trường chứng khoán. Trong Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003
của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán chỉ quy định về giao
dịch chứng khoán và thị trường giao dịch tập trung. Theo đó, thị trường giao
dịch tập trung được hiểu là địa điểm hoặc hệ thống thông tin, tại đó các chứng
khoán được mua, bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng
khoán.
1.1.2 Các chủ thể trên thị trƣờng chứng khoán

1.1.2.1 Tổ chức phát hành:
Tổ chức phát hành là tổ chức đã đăng ký phát hành chứng khoán ra công
chúng ( phát hành chứng khoán ra công chúng là việc chào bán một đợt chứng
khoán có thể chuyển nhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất 50

15


nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành) theo các thủ tục và điều kiện pháp luật quy
định ( khoản 6, Điều 3 Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về
chứng khoán và thị trường chứng khoán ). Như vậy, tổ chức phát hành là người
cung cấp chứng khoán (hàng hoá) cho thị trường chứng khoán .
Chứng khoán được phép phát hành bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng

thị trường chứng khoán Việt Nam.
1.1.2.2 Các nhà đầu tư
Nhà đầu tư được hiểu là những người sở hữu chứng khoán, người mua
hoặc dự kiến mua chứng khoán cho mình. Khi tham gia vào thị trường chứng
khoán, các nhà đầu tư với khả năng về vốn của mình thực hiện việc mua bán,
trao đổi chứng khoán trên thị trường chứng khoán với mục đích lớn nhất là nhằm
tìm kiếm lợi nhuận.
Nhà đầu tư bao gồm các nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư có tổ chức:
- Nhà đầu tư cá nhân: là các cá nhân có vốn, trên cơ sở nắm bắt thông tin
thị trường một cách trực tiếp hoặc thông qua các nhà tư vấn, thực hiện các giao
dịch mua bán, sở hữu chứng khoán. Nhà đầu tư cá nhân bao gồm các nhà đầu tư
cá nhân trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài.
Thực tế hoạt động của thị trường chứng khoán Việt nam trong 03 năm qua
cho thấy, do đặc điểm của một thị trường mới ra đời, các nhà đầu tư cá nhân
chiếm tỷ trọng lớn trong số các nhà đầu tư (tính đến ngày 30/6/2003 có hơn
14.500 tài khoản giao dịch thì tuyệt đại đa số là tài khoản của nhà đầu tư cá
nhân) . Tuy nhiên, các nhà đầu tư là nhà đầu tư cá nhân ít vốn, tham gia thị
trường mang tính thăm dò, khi thị trường có dấu hiệu bất ổn thì rút vốn.
- Nhà đầu tư có tổ chức: là các tổ chức kinh tế, tài chính như các ngân
hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, các quỹ bảo hiểm, quỹ tương hỗ … Các
tổ chức này tham gia thị trường và hoạt động đầu tư chứng khoán được coi là
một phần trong những hoạt động đầu tư tài chính mà tổ chức được phép thực

17


hiện. Việc đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư có tổ chức rất đa dạng về danh
mục đầu tư và có tính chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm. Hiện nay, do thị
trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời, hơn nữa hành lang pháp lý chưa rõ
ràng nên số lượng các nhà đầu tư có tổ chức tham gia còn quá ít, đặc biệt là sự

thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt
Nam.
- Sở giao dịch chứng khoán - Trung tâm giao dịch chứng khoán:
Thị trường giao dịch tập trung được tổ chức dưới hình thức Trung tâm
giao dịch chứng khoán hoặc Sở giao dịch chứng khoán. Trên cơ sở điều kiện
thực tế, Việt Nam chủ trương xây dựng thị trường chứng khoán theo mô hình tổ
chức từ Trung tâm giao dịch chứng khoán lên Sở giao dịch chứng khoán. Điều
này là phù hợp với thực tiễn Việt Nam khi thị trường chứng khoán còn nhỏ bé và
trong giai đoạn vận hành ban đầu.
Ngày 11/7/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
127/1998/QĐ-TTg thành lập các trung tâm giao dịch chứng khoán tại Tp Hồ Chí
Minh và Hà nội. Tuy nhiên, cho đến nay mới có Trung tâm giao dịch chứng
khoán Tp Hồ Chí Minh đi vào hoạt động ( từ tháng 7/ 2000 ).
Tại khoản 1 điều 61, Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về
chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định về Trung tâm giao dịch chứng
khoán: là đơn vị sự gnhiệp có thu, trực thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, có
tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng; kinh phí hoạt động của
Trung tâm giao dịch chứng khoán do ngân sách Nhà nước cấp. Đồng thời, điều
64 Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 cũng đã quy định về Sở giao
dịch chứng khoán: là một pháp nhân tự chủ về tài chính, chịu sự giám sát và
quản lý của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.

19


Trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán có chức năng
quản lý, điều hành và giám sát cũng như cung cấp các dịch vụ liên quan đến các
hoạt động mua bán chứng khoán tại Trung tâm. Trung tâm giao dịch chứng
khoán, sở giao dịch chứng khoán có các thành viên đăng ký là các công ty
chứng khoán có giấy phép hoạt động môi giới, tự doanh. Chỉ có các thành viên

khoán có giấy phép hoạt động môi giới hoặc tự doanh ) đáp ứng đủ các điều kiện
và được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký để tham
gia lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán tại Trung tâm Giao dịch
chứng khoán. Các thành viên lưu ký này đóng vai trò quan trọng giúp các hoạt
động mua, bán chứng khoán, kiểm soát chứng khoán, các nghiệp vụ kinh doanh
chứng khoán được thực hiện, đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động an
toàn và tiện lợi.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán:
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là hình thức tự quản của các
công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các ngân hàng lưu ký với chức
năng cơ bản là bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo cho thị trường
phát triển ổn định. Tại các nước như Hoa kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc ... Hiệp hội
các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tập hợp hàng trăm thành viên và có
vai trò rất quan trọng trong các hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, trong Chiến lược phát triển thị
trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 đã xác định: Đẩy mạnh hoạt động
và tăng cường vai trò của Hiệp hội ngành chứng khoán trong việc hỗ trợ cơ quan
quản lý nhà nước trên các phương diện đào tạo, xây dựng khuôn khổ pháp lý,
giám sát tuân thủ pháp luật của các thành viên tham gia thị trường, phát triển thị
trường. Tuy vậy, cho đến nay, mặc dù thị trường chứng khoán đã hoạt động
được 03 năm và Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Việt Nam đã có

21


Quyết định thành lập, song thực tế Hiệp hội vẫn chưa triển khai được các hoạt
động của mình nhằm trợ giúp cho sự phát triển của thị trường.
- Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm:
Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là các công ty chuyên cung cấp dịch
vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và tiềm

giúp họ tránh được các khoản vay có chi phí cao.
Người phát hành chứng khoán thông qua việc phát hành chứng khoán ra
công chúng để tập trung vốn, nếu một nhà đầu tư không thể hoặc không muốn
tiếp tục sở hữu chứng khoán của tổ chức phát hành thì có thể chuyển nhượng
chứng khoán đó để thu hồi vốn đầu tư thông qua thị trường chứng khoán. Sự
chuyển nhượng đó sẽ không ảnh hưởng lớn đến sự hoạt động và năng lực tài
chính của tổ chức phát hành.
1.1.3.3 Thị trường chứng khoán là động lực thúc đẩy năng lực quản lý kin h
doanh:
Khi quyết định đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư bao giờ cũng cân nhắc
, lựa chọn nên đầu tư vào chứng khoán của tổ chức phát hành nào để có thể thu
lợi cao nhất. Vì thế, tất yếu là họ sẽ tập trung vào các tổ chức phát hành đang
hoặc sẽ có triển vọng hiệu quả kinh tế cao, tạo cho các tổ chức đó có một nguồn
vốn tập trung phát triển. Ngược lại, đối với các tổ chức phát hành yếu kém, hiệu
quả kinh tế thấp thì không thể tập trung huy động được vốn, thậm chí bị các nhà
đầu tư chuyển vốn đến các tổ chức lành mạnh hơn. Trong sự cạnh tranh đó, tính
tất yếu là các tổ chức phát hành chứng khoán phải không ngừng nâng cao năng
lực quản lý, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư được tiếp nhận.
1.1.3.4 Cung cấp thông tin kinh tế:
Thị trường chứng khoán là nơi quan trọng truyền tin tức kinh tế, cung cấp
dự báo về các chu kỳ và khả năng kinh doanh. Trong quá trình hoạt động của thị

23


trường chứng khoán, các chỉ số giao dịch luôn có sự biến động, lúc phản ảnh sự
tích cực, lúc phản ánh sự tiêu cực, do đó đòi hỏi sự nắm bắt các thông tin kinh tế
– xã hội, các sự kiện nhạy cảm khác phải kịp thời, chính xác. Thực tế hoạt động
của thị trường chứng khoán các nước cho thấy, việc thay đổi giá chứng khoán có
xu hướng đi trước chu kỳ kinh doanh, cho phép Nhà nước cũng như các công ty

tiết được nền tài chính quốc gia:
Trên cơ sở căn cứ vào tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán ,
những biến động của chứng khoán giao dịch mà Nhà nước có những chính sách
điều tiết cho phù hợp như mở rộng hay thắt chặt các nguồn vốn đầu tư vào chứng
khoán , kiểm soát việc cho vay … Mặt khác, thông qua thị trường chứng khoán,
Nhà nước huy động các nguồn vốn tài chính như phát hành trái phiếu .. mà
không tạo áp lực về lạm phát.
1.2 Vấn đề thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài thông qua thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam
1.2.1 Khái niệm thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài qua thị trƣờng chứng khoán
Khi xem xét về huy động các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn bên ngoài
phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, thì hiện tại, đối với Việt Nam, các
nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và viện trợ phát triển (ODA) đang được đánh
giá cao và chiếm vị trí chủ yếu.
Tính đến hết năm 2002, đã có trên 3000 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam được cấp giấy phép với tổng vốn đăng ký đạt trên 36 tỷ USD. Khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế và đã
đóng góp rất quan trọng vào vào sự phát triển kinh tế xã hội. Vốn FDI giai đoạn
1996-2000 chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 10% GDP và 7%
nguồn thu ngân sách (nếu tính cả dầu khí thì tỷ lệ này đạt 20%) [ 52, tr 199].

25


Trích đoạn Tổ chức nước ngoài: Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam: Những điều kiện thuận lợi: Những khó khăn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam Những tác động tích cực:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status