MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU - Pdf 73

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ NHẬP
KHẨU HÀNG HOÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT
NHẬP KHẨU(XNK)
I. Hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong nền kinh tế hiện nay .
I.1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động nhập khẩu hàng hoá
I.1.1. Khái niệm.
Hoạt động kinh doanh XNK là một bộ phận của lĩnh vực lưu thông quốc tế, là
cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng trên phạm vi toàn thế giới. Hoạt động kinh
doanh XNK chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mọi quốc gia nhằm
để tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá XNK, nhằm đáp ứng nhu câù
sản xuất, tiêu dùng trong nước. Như vậy có thể hiểu hoạt động nhập khẩu là hoạt
động kinh doanh ngoại thương mà hàng hoá dịch vụ được quốc gia này mua của
quốc gia khác.
Còn theo một số nhà kinh tế thì nhập khẩu là một hoạt động của thương mại
quốc tế nhằm bù đắp những hàng hoá,vật tư, nguyên liệu trong nước không có hoặc
sản xuất chưa đủ hoặc sản xuất kém hiệu quả (PTS Vũ Phạm Quyết Thắng - Kinh tế
đối ngoại Việt Nam, nội dung, biện pháp, hiệu quả).
Hoạt động nhập khẩu của nước ta hiện nay thực chất là hoạt động của thương
nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài.
I.1.2. Đặc điểm
Hoạt động nhập khẩu bao gồm các đặc điểm chủ yếu sau:
(1). Thời gian lưu chuyển hàng hoá: Thời gian lưu chuyển của hàng hoá nhập
khẩu bao giờ cũng dài hơn so với lưu chuyển hàng hoá trong nội địa do phải thực hiên
2 giai đoạn mua hàng và bán hàng. Cụ thể là mua hàng hoá của nước ngoài bán cho
thị trường nội địa. Do đó để xác định kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu, ta
thường chỉ xác định khi hàng hoá nhập khẩu đã luân chuyển được một vòng hay khi
đã thực hiện xong 1 thương vụ ngoại thương .
(2). Hàng hoá kinh doanh: Hàng hoá kinh doanh nhập khẩu bao gồm nhiều
loại nhưng chủ yếu vẫn là những mặt hàng mà trong nước chưa có, chưa sản xuất
được hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chất lượng và thị hiếu như
hàng tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng …

hàng hoá nhiều hơn mức sản xuất trong nước.
Xoá bỏ sự độc quyền của các doanh nghiệp trong nước.
Là cầu nối giữa nền kinh tế thị trường nội địa với nền kinh tế thị trường quốc
tế, góp phần phát huy lợi thế so sánh của đất nước.
Nhập khẩu làm tăng khả năng tiêu thụ, đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, quy
cách cho phép thoả mãn tốt hơn nhu cầu trong nước. Nhập khẩu tăng cường sự
chuyển giao công nghệ tạo ra sự phát triển vượt bậc của nền sản xuất xã hội, tiết
kiệm được chi phí và thời gian. Đồng thời nhập khẩu cũng tạo ra sự cạnh tranh
giữa hàng nội và hàng nhập khẩu, tức là tạo ra động lực buộc các nhà sản xuất
trong nước phải không ngừng vươn lên, thúc đẩy sản xuất trong nước.
I.3. Các hình thức nhập khẩu.
Có rất nhiều các hình thức nhập khẩu khác nhau như nhập khẩu trực tiếp,
nhập khẩu uỷ thác, nhập khẩu liên doanh, nhập khẩu hàng đổi hàng nhập khẩu tái
xuất. Song lựa chọn hình thức nhập khẩu nào là do mỗi doanh nghiệp tự quyết định
lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp mình để thu
được những kết quả cao nhất.
Trong thực tế hoạt động kinh doanh nhập khẩu, các nhà nhập khẩu thường
tiến hành chủ yếu theo hai hình thức là : nhâp khẩu trực tiếp và nhập khẩu uỷ thác.
I.3.1 Nhập khẩu trực tiếp :
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh
nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong nước và
quốc tế, tính toán chính xác chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, tuân
thủ đúng chính sách luật pháp quốc gia và luật quốc tế. Đối với hình thức này,
doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác,
đàm phán ký kết hợp đồng …và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh nhập khẩu.
*Đặc điểm:
Chủ thể thực hiện hành vi mua bán trong hoạt động nhập khẩu có quốc tịch
khác nhau và đối tượng mua bán cũng được di chuyển từ quốc gia này sang quốc
gia khác. Thị trường nhập khẩu rộng lớn phức tạp, khó kiểm soát, đồng tiền thanh
toán là động tiền ngoại tệ mạnh, hàng hoá phải vận chuyển qua biên giới, cưả khẩu.

nhập khẩu đều phải thoả thuận áp dụng một phương thức thanh toán cụ thể. Từ đó
điều kiện về phương thức thanh toán sẽ điều chỉnh các quyền hạn và trách nhiệm
của mỗi bên liên quan. Phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng bậc nhất
trong hoạt động mua bán thương mại. Phương thức thanh toán quốc tế trong ngoại
thương lại càng quan trọng và phức tạp hơn cả. Trong buôn bán người ta có thể lựa
Ngân hàng mở L/C
Người nhập khẩu Người xuất khẩu
Ngân hàng thông báo L/C
(6)
(6)
(6)
(6) (6) (6)(6)(6)(6)
(6)
chọn nhiều phương thức thanh toán khác nhau để thu tiền hoặc trả tiền, nhưng xét
cho cùng việc lựa chọn phương thức thanh toán nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu
của người bán là thu tiền nhanh, đúng, đủ và từ yêu cầu của người mua là nhập
hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn.
Các phương thức thanh toán cơ bản thường dùng trong kinh doanh xuất nhập
khẩu bao gồm:
a. Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng( Letter of credit)
b. Phương thức chuyển tiền (remitance Transfers)
c. Phương thức ghi sổ (open account)
d. Phương thức nhờ thu (collection of payment )
*Phương thức nhờ thu phiếu trơn (clean collection)
*phương thức nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection)
a. Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng( Letter of credit)
Phương thức tín dụng thư là một sự thoả thuận trong đó một ngân hàng (Ngân
hàng mở thư tín dụng - isuing bank) theo yêu cầu của một khách hàng (Người đề
nghị mở thư tín dụng - applicant ) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác
(Người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng- beneficiary ) hoặc chấp nhận hối phiếu

không phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và trả lại bộ chứng từ thanh toán cho
người xuất khẩu.
(7). Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hàng
hoá cho người nhập khẩu.
(8). Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì
hoàn trả tiền cho ngân hàng. Nếu thâý không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền
cho ngân hàng.
Như vậy, phương thức tín dụng thư là một phương thức thanh toán rất chặt
chẽ về mặt thủ tục. Trong phương thức này, ngân hàng không chỉ là một trung gian
thanh toán mà còn là người có nghĩa vụ trả tiền nhà xuất khẩu trong thời gian hiệu
lực của L/C với số tiền tối đa bằng số tiền của L/C nếu nhà xuất khẩu trình được bộ
chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C. Vì vậy đây là phương thức
thanh toán đảm bảo chắc chắn quyền lợi cho người xuất khẩu. Nhưng lại làm giảm
hiệu quả sử dụng vốn của người nhập khẩu do họ phải ký quỹ tại ngân hàng để mở
L/C nên vốn của nhà nhập khẩu bị ứ đọng.
(b) Phương thức chuyển tiền( Remittance Transfers)
Là phương thức thanh toán đơn giản nhất. Đó là phương thức mà người mua
yêu cầu ngân hàng chuyển số tiền nhập hàng cho người bán ở quốc gia khác theo
phương thức và địa chỉ mà người mua yêu cầu. Phương thức thanh toán này
thường gồm: Thanh toán bằng điện, bằng thư thông qua hệ thống ngân hàng của
hai nước có người mua và người bán. Phương thức này có ưu điểm là thủ tục đơn
giản, phí thanh toán thấp, được áp dụng cho thanh toán số tiền nhỏ.
(c) Phương thức ghi sổ( Open account)
Là phương thức thanh toán mà cả người mua và người bán cùng mở sổ ghi.
Theo thoả thuận, định kỳ người mua sẽ thanh toán cho người bán vào tài khoản đã
được mở của người bán. Theo phương thức này, người mua và người bán có quan
hệ trực tiếp với nhau, không có sự tham gia của ngân hàng. Nó thích hợp với hình
thức tiêu thụ hàng đổi hàng( Xuất khẩu hàng hoá đổi lấy hàng nhập khẩu).
(d) Phương thức nhờ thu( Collection of Payment)
Là phương thức thanh toán mà ngời bán sau khi giao hàng xong hoặc sau khi

các hoạt động đó. Muốn phát huy được vai trò của mình thì kế toán cần phải thực
hiện những nhiệm vụ sau:
Thực hiện hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng chuẩn
mực chế độ kế toán.
Tuân thủ các nguyên tắc kế toán trong việc xác định giá trị hàng nhập khẩu,
phản ánh đúng, trung thực, hợp lý.
Tổ chức ghi chép một cách đầy đủ, kịp thời vào các sổ kế toán tổng hợp và
chi tiết nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá, nghiệp vụ thanh toán một cách hợp lý, phù
hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đó, thực hiện kiểm tra tình
hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, các hơp đồng nhập khẩu và uỷ thác nhập
khẩu.
Thực hiện đầy đủ những chế độ quy định về quản lý tài chính, tín dụng,
những nguyên tắc hạch toán ngoại tệ trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu, nhằm
cung cấp các thông tin trung thực, làm cơ sở cho ban lãnh đạo ra quyết định hợp lý
trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh.
III. Hạch toán tổng hợp nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá tại các doanh nghiệp
kinh doanh XNK.
* Nguyên tắc hạch toán ngoại tệ: Trong thanh toán quốc tế, các đơn vị
thường phải dùng một loại tiền tệ nhất định của một nước nào đó. Do đó, trong hợp
đồng đều có quy định điều khoản tiền tệ dùng để thanh toán và thường dùng là các
ngoại tệ chuyển đổi tự do, đồng thời có sức mạnh, có vị trí tập quán sử dụng và
được thanh toán thống nhất trong các khu vực kinh doanh trên thế giới.
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong hạch toán kế toán là đồng Việt Nam. Do vậy để
phản ánh đúng trị giá vật tư hàng hoá trong hoạt động kinh doanh XNK của các
doanh nghiệp, đồng thời tạo thuận tiện cho doanh nghiệp trong công tác quản lý,
công tác hạch toán kế toán của kế toán thì Bộ tài chính có hướng dẫn chuyển đổi
ngoại tệ ra đồng Việt Nam sử dụng trong hạch toán kế toán trong doanh nghiệp
(theo thông tư số 77/1998/TT- Bộ tài chính), như sau :
Đối với những doanh nghiệp phát sinh ngoại tệ ít thì được ghi sổ theo tỷ giá
thực tế( TGTT). Còn đối với các doanh nghiệp phát sinh nhiều nghiệp vụ có liên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status