nghiên cứu - trao đổi
24
Tạp chí luật học số 2/2003
inh con theo phơng pháp khoa học đ thể
hiện sự phát triển vợt bậc của khoa học kĩ
thuật, chính điều đó đ cho phép các cặp vợ
chồng vô sinh có thể có con, niềm mong mỏi
tha thiết của họ đ trở thành hiện thực. Các
phơng pháp hỗ trợ sinh sản có thể giải quyết
đợc tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới
do ảnh hởng bởi nhiều yếu tố nh môi trờng,
hậu quả chiến tranh đáp ứng đợc nguyện
vọng làm cha, làm mẹ của họ, điều đó đ thể
hiện những giá trị nhân bản cao đẹp. Thực tế
việc áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản không
đơn thuần thuộc lĩnh vực khoa học mà còn liên
quan đến nhiều vấn đề về đạo đức, pháp lí, về
tâm lí tình cảm Việc áp dụng các biện pháp
này trong nhiều trờng hợp không chỉ trong nội
bộ cặp vợ chồng vô sinh mà còn có thể liên
quan đến ngời thứ ba, đó là ngời cho tinh
trùng, cho trứng, cho phôi, do đó vấn đề này
càng trở nên phức tạp và nhạy cảm hơn bao giờ
hết. Trớc thực tế đó, Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 đ quy định: Việc xác định cha, mẹ
cho con đợc sinh ra theo phơng pháp khoa
thêm vào đó, Nghị định cũng đ cấm việc mang
thai hộ và sinh sản vô tính (Điều 6). Quy định
này là hoàn toàn phù hợp với phong tục tập
quán truyền thống, tâm lí tình cảm và quan
S
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội
Nguyễn Thị Lan
*
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 2/
2003
25
điểm chung của các nớc trên thế giới. Thực tế
cho thấy vấn đề mang thai hộ, xét thuần tuý về
mặt khoa học thì có thể chấp nhận đợc nhng
xét đới góc độ tâm lí, tình cảm, phong tục tập
quán và pháp lí thì rất phức tạp, đặc biệt là quan
hệ mẹ con vì, theo pháp luật hiện hành ngời
nào sinh ra đứa trẻ sẽ là mẹ của nó (chứng minh
bằng giấy chứng sinh), ngoài ra rất khó đa ra
cơ chế giám sát đối với ngời mang thai hộ hay
những vấn đề về mặt tố tụng đối với cặp vợ
chồng đang nhờ mang thai và ngời mang thai
hộ, chẳng hạn vấn đề hạn chế li hôn có đợc áp
chúng tôi thấy rằng nếu trong quá trình cặp vợ
chồng vô sinh đang thực hiện kĩ thuật hỗ trợ
sinh sản mà ngời chồng chết và tinh trùng của
ngời chồng đang đợc lu giữ thì có nên huỷ
tinh trùng của họ không? Theo chúng tôi là
không thể huỷ tinh trùng của ngời đó nếu
không có sự đồng ý của ngời vợ vì trớc đó cả
hai vợ chồng đ thể hiện sự tự nguyện mong
muốn thực hiện việc sinh con theo phơng pháp
khoa học, nếu sau khi ngời chồng chết mà
ngời vợ vẫn muốn tiếp tục thực hiện việc sinh
con đó thì phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của
họ. Tuy nhiên, vấn đề này có liên quan đến quy
định tại Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành Luật hôn nhân và gia đình: con sinh
ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày ngời chồng
chết thì đợc xác định là con chung của hai
ngời. Vì trờng hợp trên sẽ không giống nh
trờng hợp sinh con do có quan hệ tình dục giữa
vợ và chồng, do đó thời gian này có thể không
chỉ là trong vòng 300 ngày mà có thể là dài hơn,
tuỳ thuộc vào quá trình thực hiện kĩ thuật hỗ trợ
sinh sản đối với ngời vợ. Nh vậy, Nhà nớc
cần thiết phải có quy định pháp lí cho trờng
hợp đặc biệt này.
+ Điều kiện hạn chế li hôn có nên áp dụng
trong trờng hợp khi hai vợ chồng đang tiến
thừa kế, quyền đợc nuôi dỡng đối với ngời
cho tinh trùng, cho non, cho phôi.
Nh vậy, với việc sinh con theo phơng
pháp khoa học đ đặt ra một thực tế là có sự
khác biệt giữa ngời cha, ngời mẹ về mặt pháp
lí và ngời cha, ngời mẹ về mặt huyết thống.
Việc xác định nh vậy cũng xuất phát từ
nguyên tắc chung đó là xác định cha, mẹ, con
khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp: Con sinh ra
trong thời kì hôn nhân hoặc do ngời vợ có thai
trong thời kì đó là con chung của vợ chồng
(Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000).
Đây là sự đảm bảo mọi quyền lợi cho cặp vợ
chồng vô sinh và đặc biệt là đứa trẻ. Đối với
trờng hợp ngời phụ nữ độc thân khi sinh con
thì áp dụng tơng tự nh trờng hợp xác định
cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân
hợp pháp, trong trờng hợp này chỉ có quan hệ
giữa mẹ và con. Đặc biệt, trong trờng hợp này
cần quy định rõ sau khi đứa trẻ đợc sinh ra nếu
ngời cha, ngời mẹ không muốn thừa nhận
con thì cũng không đợc yêu cầu xác định lại vì
quan hệ cha mẹ và con là tất yếu và không thể
phủ nhận đợc, họ không đợc quyền yêu cầu
giám định về gen di truyền. Điều này khác với
trờng hợp sinh con tự nhiên vì ngời chồng có
quyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi
không tin tởng đứa con là con ruột của mình.
Tuy nhiên, trong những trờng hợp đặc biệt nếu
cặp vợ chồng vô sinh, ngời phụ nữ độc thân