CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SỮA BỘT
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đời sống ngày càng cao, nhu cầu sử dụng sữa hàng ngày trong mỗi gia đình
trở thành thiết yếu. Vì vậy, thị trường sữa ngày càng có thêm nhiều sản phẩm mới
đa dạng về nhãn hiệu và chất lượng. Tuy nhiên, với hàng loạt nhãn hiệu sữa đang
có mặt trên thị trường như hiện nay người tiêu dùng không biết lựa chọn sao cho
đảm bảo về chất lượng và công dụng của từng mặt hàng sữa mang lại. Đặc biệt là
khi ngày nay với nhiều dòng sản phẩm sữa được chào bán trên thị trường rất
phong phú, đa dạng về các thể loại: sữa nước, sữa bột, sữa chua…Không chỉ dừng
lại ở đây mà chất lượng sản phẩm, tức là hàng giả, hàng nhái tràn lan trên thị
trường khiến cho người tiêu dùng không khỏi lo lắng khi quyết định đi mua sữa
cho con.
Hơn nữa, sữa là một loại sản phẩm đặc biệt hơn các loại sản phẩm khác bởi
đây chính là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho các thế hệ tương lai của đất
nước. Nếu ngay từ đầu các bé được sử dụng đúng loại sản phẩm, đảm bảo chất
lượng, an toàn thực phẩm thì quá trình phát triển trí não, tăng trưởng của bé sẽ
diễn ra tốt hơn ai hết. Nhưng nếu sản phẩm không được đảm bảo thì ngay từ đầu
khi các bé hấp thụ sản phẩm sẽ không những không phát triển bình thường mà có
khi còn làm chậm hay giảm một số chức năng vốn có. Vì vậy, điều này là rất quan
trọng cần phải có sự can thiệp của nhà nước là rất lớn, từ diễn biến thị trường trên
thực tế mà nhà nước sẽ có những chính sách áp dụng phù hợp với ngành sữa Việt
Nam.
1.2 Xác lập vấn đề nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên, tình hình quản lý thị trường sữa bột trên địa bàn Hà
Nội đang là một bài toán khá nan giải. Vấn đề nghiên cứu ở đây là nghiên cứu
thực trạng thị trường và quản lý thị trường sữa bột tại Hà Nội của nhà nước. Trên
cở sở phân tích thực trạng đề ra các biện pháp để quản lý thị trường sữa bột tại Hà
Nội một cách hiệu quả.
1
Do đó, chúng em đã lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với mặt hàng
của nhà nước, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thị trường sữa bột trên địa bàn Hà Nội.
Từ đó đưa ra những giải pháp, khuyến nghị để cải thiên, nâng cao hiệu quả quản lý
của nhà nước hơn nữa.
Cụ thể, qua đề tài nghiên cứu, người tiêu dùng cũng phần nào thấy được
đặc điểm và vai trò của mặt hàng sữa bột như thế nào, và từ đó đưa ra những lựa
chọn tiêu dùng thông thái, để tránh bị mua những hàng lởm, không đúng chất
lượng. Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp kinh doanh sữa cũng vậy, các nhà kinh
doanh sẽ nắm bắt thêm được các tình hình luật pháp quản lý thị trường sữa ra sao,
và từ đó họ có cái nhìn tổng quan về ngành mình đang kinh doanh, để đưa ra
những chiến lược cạnh tranh lành mạnh trên thị trường mình đang kinh doanh,
nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, để đạt lợi nhuận tối đa.Về phía quản lý
của nhà nước, thì qua đề tài nghiên cứu có thể thấy cái nhìn tổng quát nhất về thị
trường sữa từ đó đưa ra các chính sách, văn bản quản lý sao cho phù hợp với từng
loại hình doanh nghiệp kinh doanh, và có những chế tài quản lý chặt chẽ về những
vi phạm của nhà cung ứng sữa.
1.7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài các phần như tóm lược, phụ lục, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt,
kết luận… đề tài bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với mặt hàng sữa bột.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với mặt hàng
sữa bột.
Chương 3:phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng quản lý
nhà nước đối với mặt hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp quản lý nhà nước đối với mặt hàng
sữa bột trên địa bàn Hà Nội.
3
CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SỮA BỘT
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm về mặt hàng sữa bột
+) Tùy theo phương pháp chế biến và nhu cầu sử dụng sản phẩm sữa thì được chia
làm các loại sau:
- Loại sản phẩm sữa bột dùng không cần đun sôi.(ăn trực tiếp).
- Loại sản phẩm cần phải đun sôi lại trước khi uống.
Trên đây là một số cách để chúng ta dễ dàng nhận biết sản phẩm sữa bột. Sữa
bột ngoài các đặc điểm trên thì sữa bột còn có thời gian bảo quản rất dài, các nhà
sản xuất có thể tiết kiệm được một phần lớn cho chi phí vận chuyển sữa do sản
phẩm có khối lượng giảm đi nhiều lần khi ta so sánh với nguyên liệu sữa tươi ban
đầu. Sữa bột còn có một tính chất rất quan trọng là độ hòa tan của sản phẩm.
2.1.3 Vai trò của mặt hàng sữa bột
Sữa là thức ăn tự nhiên có giá trị dinh dưỡng hoàn hảo được vắt từ vú động
vật, sữa chứa hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho người như protein, gluxit,
lipit, vitamin, Các muối khoáng. Những hợp chất này rất cần thiết cho khẩu phần
thức ăn hằng ngày của con người. Do đó các sản phẩm từ sữa có một ý nghĩa quan
trọng đối với dinh dưỡng của con người, nhất là đối với trẻ em, người già, và
người bệnh. Từ sữa người ta có thể sản xuất ra nhiều loại thực phẩm khác nhau
như sữa bột, sữa cô đặc, bơ, kem..
Đặc biệt là sữa bột không những được sử dụng tại gia đình để pha chế mà
còn là nguyên liệu quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau như
5
trong sản xuất sữa tái chế và các sản phẩm chế biến từ sữa: như trong công nghiệp
sản xuất bánh nướng, công nghiệp sản xuất bánh kẹo, chocolate, socola, xúc xích.
2.1.4 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng sữa bột
- Chỉ tiêu cảm quan:màu sắc, mùi vị, trạng thái, cụ thể được thể hiện trong bảng
sau:
Bảng 2.1 – Các chỉ tiêu cảm quan của sữa bột
Tên chỉ tiêu Đặc trưng của sữa bột
1. Màu sắc Từ màu trắng sữa đến màu kem nhạt
2. Mùi, vị Thơm, ngọt đặc trưng của sữa bột, không có mùi, vị lạ
3. Trạng thái Dạng bột, đồng nhất, không bị vón cục, không có tạp chất lạ
cứu là các mối quan hệ tương tác giữa các thực thể có liên quan tới hoạt động
thương mại và quản lý hoạt động thương mại của một nước, ngoài ra còn nghiên
cứu tính quy luật của các quan hệ tác động và xu hướng sử dụng các công cụ,
phương pháp quản lý của các cơ quan quyền lực của nhà nước đối với lĩnh vực
thương mại.
Quản lý nhà nước về mặt hàng sữa bột: là hoạt động có tổ chức của nhà
nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách, nhà nước sẽ tác
động đến thị trường sữa bột trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể
sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng để thực hiện tốt các vấn đề về sản xuất và
cung cấp sữa .
2.2 Một số lý thuyết liên quan đến Quản lý Nhà nước đối với mặt hàng sữa
bột
2.2.1 . Quản lý Nhà nước về giá
7
Niêm yết công khai, cấm độc quyền, bán phá giá. Từ ngày 1/7/2002, Pháp lệnh giá
đã được UBTV Quốc hội khoá X thông qua và Chủ tịch nước ký Lệnh công bố
( ngày 8/5), sẽ có hiệu lực thi hành. Pháp lệnh quy định quản lý Nhà nước về giá
và hoạt động về giá của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài sản xuất
kinh doanh tại Việt Nam.
Pháp lệnh gồm 3 nội dung cơ bản: điều hành giá của Nhà nước; hoạt động về giá
của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh; quản lý Nhà nước về giá.
- Nhà nước giữ vai trò bình ổn giá thị trường, định giá, hiệp thương giá; kiểm soát
giá độc quyền. Khi giá thị trường của hàng hoá, dịch vụ quan trọng, thiết yếu có
biến động bất thường, Nhà nước thực hiện các biện pháp bình ổn giá: điều chỉnh
cung cầu hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá XNK, hàng hoá giữa các
vùng, các địa phương; mua vào hoặc bán ra hàng hoá dự trữ; kiểm soát hàng tồn
kho; quy định giá tối đa, tối thiểu, khung giá; kiểm soát các yếu tố hình thành giá.
- Nhà nước áp dụng các biện pháp kiểm soát giá độc quyền, chống bán phá giá.
Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có quyền tự quyết định giá mua, giá bán
hàng hoá, dịch vụ không thuộc danh mục Nhà nước định giá; được quyền khiếu
thanh tra và xử lý các vi phạm về chất lượng. Những biện pháp quản lý của nhà
nước về chất lượng này được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
về chất lượng. Điều đó phù hợp với xu hướng chung của quản lý nhà nước bằng
pháp luật.
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về QLNN đối với mặt hàng
sữa bột
Trong quá trình nghiên cứu và tìm tài liệu phục vụ đề tài chúng tôi thấy
chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp về quản lý nhà nước đối với thị
trường mặt hàng sữa bột mà chỉ có những công trình liên quan đến đề tài của
9
chúng tôi đó là quản lý nhà nước về thương mại đối với hàng hóa nói chung. Cụ
thể là:
Đề tài thứ nhất: Hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về thương mại hàng hóa
trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020
Là đề tài thuộc danh mục luận án tiến sỹ kinh tế. Gồm có 3 chương lớn:
Chương 1: Lý luận nội dung quản lý nhà nước về thương mại hàng hoá trên
địa bàn tỉnh, thành phố
Chương 2: Thực hiện nội dung quản lý nhà nước về thương mại hàng hoá
trên địa bàn HN giai đoạn 2001 – 2007
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý NN về
thương mại hàng hoá trên địa bàn HN đến năm 2020
Đề tài thứ hai: Tác giả là các chuyên gia kinh tế.
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Quản lý Nhà nước về Thương
mại.
Bài viết gồm 3 chương :
Chương I : Một số vấn đề lý luận về quản lí Nhà nước đối với lĩnh vực Thương
mại ở nước ta.
Chương II: Thực trạng công tác quản lí Nhà nước về Thương mại .
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về Thương mại ở
nước ta hiện nay.
tồn tại, thiếu sót, có những kiến nghị phù hợp phục vụ cho việc phát triển vấn đề
QLNN về thương mại đối với thị trường mặt hàng sữa bột. Đó chính là sự khác
biệt trong cách tiếp cận đề tài của chúng tôi, đề tài của chúng em không trùng với
bất cứ đề tài nào của các nghiên cứu đi trước.
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước đối với mặt hàng sữa
bột
11
2.4.1. Nội dung Quản lý nhà nước về mặt hàng sữa bột
2.4.1.1. Quản lý nhà nước đối với việc nhập khẩu sữa bột
Hàng năm, căn cứ nhu cầu sữa bột của nền kinh tế quốc dân và nguồn sữa sản
xuất trong nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương xác
định nhu cầu định hướng về sữa nhập khẩu của năm tiếp theo. Trên cơ sở nhu cầu
định hướng về sữa nhập khẩu, Bộ Công Thương giao hạn mức nhập khẩu tối thiểu
cả năm theo cơ cấu chủng loại cho từng thương nhân có Giấy phép kinh doanh
xuất khẩu, nhập khẩu sữa để làm thủ tục nhập khẩu với cơ quan hải quan.
Căn cứ nhu cầu thị trường, thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu
sữa quyết định khối lượng sữa nhập khẩu các loại để tiêu thụ tại thị trường trong
nước nhưng không thấp hơn mức tối thiểu được giao.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra, giám
sát việc nhập khẩu sữa của các thương nhân, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế và tiêu dùng của xã hội. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương điều chỉnh
mức nhập khẩu tối thiểu đã giao cho các thương nhân.
2.4.1.2. Quy định về thành lập quỹ bình ổn giá
Thương nhân đầu mối có nghĩa vụ trích lập Quỹ Bình ổn giá để tham gia bình ổn
giá theo quy định. Quỹ Bình ổn giá được lập để tại doanh nghiệp, được hạch toán
riêng và chỉ sử dụng vào mục đích bình ổn giá.
Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giá.
Theo đó, Bộ Tài chính tổ chức ngay các đoàn kiểm tra, thanh tra việc chấp hành
pháp luật về thuế và pháp luật về giá đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản
xuất kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục bình ổn giá, đăng ký giá, kê khai
2.4.1.4. Quản lý số lượng và chất lượng sữa bột
13
1. Chỉ được phép lưu thông sữa bột trên thị trường Việt Nam có chất lượng phù hợp
với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và Tiêu chuẩn công bố áp dụng.
2. Thương nhân kinh doanh sữa bột phải thực hiện các quy định hiện hành về quản
lý chất lượng sũa trong quá trình nhập khẩu, sản xuất, pha chế, tồn trữ, vận chuyển
và bán cho người tiêu dùng; chịu trách nhiệm về chất lượng sữa trong hệ thống
phân phối thuộc mình quản lý.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chỉ đạo việc kiểm định các thiết bị
đo lường theo quy định hiện hành của pháp luật về đo lường và việc bảo đảm chất
lượng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và Tiêu chuẩn công bố áp dụng; phối hợp
với các Bộ, ngành liên quan rà soát các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về sữa để điều chỉnh, bổ sung các chỉ tiêu chất lượng, phương pháp thử
phù hợp với tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và quốc tế.
2.4.1.5.Thanh tra ,kiểm tra xử lý các hoạt động kinh doanh sữa trên Hà Nội
Thương nhân kinh doanh sữa phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh sữa.
Các Bộ ,cơ quan ngang bộ ,ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng ,nhiệm vụ
của mình có trách nhiệm chỉ đạo ,tổ chức thanh tra ,kiểm tra việc chấp hành các
quy định theo các nghị định của thủ tướng chính phủ về kinh doanh mặt hàng sữa
và các văn bản khác ;ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm ,bảo đảm
bình ổn thị trường sữa ,đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với sữa bột
a. Nhân tố môi trường vĩ mô
-Các nhân tố được nói đến ở nhóm này là những nhóm nhân tố môi trường liên
quan đến tình hình kinh tế, xã hội, chính trị - luật pháp, nhân khẩu học . . có sự tác
động trực tiếp hay gián tiếp tạo nên sự biến động thị trường đối với mặt hàng sữa
bột. Tình hình kinh tế trong nước và thế giới ảnh hưởng trực tiếp tới việc quản lý
của nhà nước tới từng mặt hàng, không chỉ riêng gì mặt hàng sữa. Ngoài ra, sự
14
người tham gia vào cung cấp sản phẩm này phục vụ tốt cho công tác dự
báo…qua đó cho ta thấy được tầm quan trọng của sản phẩm sữa bột đóng
góp vào quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.
Phương pháp phân tích tổng hợp : Sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng để phân tích tổng hợp, ngoài ra còn sử dụng phương pháp logic và
phương pháp triển khai, quy nạp trong qua trình phân tích lí luận và thực
tiễn.
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến
QLNN đối với mặt hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội
3.2.1 Thực trạng thị trường sữa bột trên địa bàn Hà Nội
3.2.1.1 Tình hình cầu
Tính đến thời điểm 2010, dân số Hà Nội mở rộng tăng lên một cách nhanh
chóng, 6.472, 2 nghìn người (tính đến 31/12/2009 –tổng cục thống kê)thu nhập
bình quân đầu người ở Hà Nội năm 2010 đạt 1000USD/người. (Tính đến
31/12/2009- tổng cục thống kê). Nhu cầu thị trường hàng hóa và dịch vụ nói chung
là rất lớn ngoài những sản phẩm thiêt yếu hàng ngày, nhu cầu của con người bây
giờ không phải là ‘ăn no mặc ấm” như trước nữa mà bây giờ phải là “ ăn ngon,
mặc đẹp”. Đặc biệt là nhu cầu về các sản phẩm bổ sung thêm dưỡng chất ngoài
các bữa chính. Trong những năm gàn đây nền kinh tế ngày một phát triển , chất
16
lượng cuộc sống của người dân Hà Nội ngày càng đượ nâng cao. Do vậy, sản
phẩm sữa không còn chỉ giành riêng cho trẻ em như trước nữa, mà bây giờ thành
phần tiêu dùng sản phẩm này ở mọi lứa tuổi.
Theo phiếu điều tra ý kiến người tiêu dùng đối với câu hỏi 1:” Bạn có biết đến sẩn
phẩm sữa bột không?” có tới 98% người tiêu dùng trả lời rằng họ có biết sản
phẩm sữa bột, 2% còn lại là chưa nghe thây.Điều này cho thấy sản phẩm sữa bột
đã trở lên quen thuộc đối với người tiêu dùng. Như vậy sữa đang là vấn đề được
đông đảo người ân quan tâm, đối với câu hỏi 2 “ bạn biết sản phẩm sữa bột qua
phương tiện nào ?”. Phần lớn người tiêu dùng trả lời rằng biết qua bạn bè và người
thân (45%), qua internet (25%), qua sách vở, báo chí, hay phương tiện truyền
Cụ thể, ta thấy được mức tiêu thụ sữa trên địa bàn Hà Nội trong khoảng thời gian
gần đây như sau:
Bảng 3. 2: Mức tiêu thụ sữa trên địa bàn Hà Nội trong một số năm .
(Xử lý theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan)
Tiêu chí 2006 2007 2008 2009 2010
Dân số (triệu người) 5.824 6.164 6.233 6.301 6.37
TT sữa nội địa(triệu lít
quy đổi)
47.116 75.324 79.22 92.94 94.34
TTbình
quân(lit/người/năm)
8.09 12.22 12.71 14.75 14.81
18
Xét trên toàn thị trường Việt Nam với hơn 86 triệu dân, tỷ lệ tăng hàng năm vào
khoảng 1,2% nên mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu trẻ em ra đời, với mức tăng GDP
khoảng 6-8% mỗi năm và tỉ lệ Trẻ suy dinh dưỡng còn ở mức tương đối cao
(khoảng 20%) sẽ là một thị trường tiềm năng để phát triển ngành sữa.Hơn nữa,
như thống kê ở bảng trên, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Hà Nội năm
2010 là 14,8 lít/người/năm, là mức khá cao trên thị trường Việt Nam. Sữa hiện nay
được tiêu thụ chủ yếu tại các thành phố lớn, khu vực thành thị có kinh tế phát
triển, còn tại các vùng nông thôn thì rất thấp. Theo số liệu thống kê của Viện Dinh
dưỡng thì người dân thành thị sử dụng lượng sữa bình quân hàng năm nhiều gấp 4
lần người dân nông thôn.Các vùng nông thôn càng nghèo, càng xa thì cơ hội được
dùng các sản phẩm sữa càng ít. Ngay ở các vùng nông thôn thì mức tiêu thụ sữa
của các xã nghèo chỉ bằng một phần năm mức tiêu thụ sữa ở xã không nghèo.
Trong tương lai khi mức thu nhập bình quân tăng lên thì mức tiêu thụ sữa cũng sẽ
gia tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn.Cơ cấu tiêu dùng đang có nhiều thay
đổi. Năm 2007 sữa bột chiếm khoảng 27% tổng khối lượng sữa tiêu thụ trên địa
bàn Hà Nội, năm 2010 là 32%.. Hiện nay trên thị trường Hà Nội có tới hơn 300
các sản phẩm sữa là rất lớn để đáp ứng nhu cầu đó, các doanh nghiệp Việt Nam
không ngừng gia tăng và mở rộng về thị trường và chủng loại thêm phong phú đa
dạng. Để đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng, thị trường sản xuất trong nước
không thể cung cấp xuể, vì vậy ngoài việc kinh doanh các mặt hàng sản xuất trong
nước thì các doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo nhập khẩu đủ lượng sữa tiêu dùng.
Ngoài ra, còn một lượng hàng khác được nhập qua đường hàng xách tay; một số
doanh nghiệp cũng nhập khẩu một vài tấn đến vài container để phân phối bán lẻ,
tuy nhiên những dạng kinh doanh này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trên thị trường.
Kim ngạch nhập khẩu sữa bột liên tục tăng mạnh trong những năm qua. Năm 2007
có gần 7,1 triệu hộp sữa bột được nhập khẩu vào Viêt Nam,vào thị trường Hà Nội
là 2.1 triệu hộp, đến năm 2008 đã tăng thêm 17,3% lên trên 3,23 triệu hộp…
Đánh giá về tiềm năng phát triển của thị trường, Cục Quản lý cạnh tranh cho rằng,
với tốc độ tăng dân số khoảng 1,2%/năm; GDP tăng trưởng 6-8%/năm và tỷ lệ trẻ
20
suy dinh dưỡng còn ở mức cao, khoảng 20%,… là những yếu tố thuận lợi cho sự
phát triển thị trường sữa.Hơn nữa,Với việc trở thành thành viên WTO và AFTA,
Việt Nam cũng đã cam kết hạ mức thuế suất thuế nhập khẩu sản phẩm và nguyên
liệu sữa. Thuế giá trị gia tăng cho các sản phẩm sữa bột tại Việt Nam hiện cũng ở
mức trung bình so với các nước trong khu vực. Đây cũng là điều kiện có lợi cho
việc phát triển thị trường sữa bột Việt Nam.
Theo đánh giá của các công ty sữa, các chuyên gia marketing và chuyên gia thị
trường thì hiện tại trên 85% giá trị của thị trường sữa bột, đặc biệt là sữa bột dành
cho trẻ em thuộc về các hãng sữa ngoại.Trong đó dẫn đầu là các hãng Abbott,
Mead Johnson, và FrieslandCampina chiếm thị phần lần lượt vào khoảng 26,8%,
13,9%, và 26,7%. Tiếp sau đó là các hãng sữa ngoại khác như Dumex, Nestlé…
Đại diện cho doanh nghiệp sữa trong nước có Vinamilk chiếm thị phần khoảng
12,6%. Theo nhóm thực hiện báo cáo thì những con số này chưa chính xác vì trên
thị trường ngoài các hãng, doanh nghiệp lớn kể trên có sự góp mặt của một số
hãng sữa khác cả trong và ngoài nước tuy rằng thị phần không lớn.
Biểu đồ 3.1: Thị phần của một số hãng sữa lớn trên thị trường sữa bột
marketing, chuyên gia phát triển thị trường tại các hãng sữa.).Theo báo cáo kim
ngạch nhập khẩu sữa của Tổng cục Hải quan, mặt hàng sữa nguyên liệu và sữa
thành phẩm nhập khẩu trong các năm 2008, 2009 và 2010 gồm hai mã chính là
0401 và 0402. Xem xét giá trị nhập khẩu, có thể thấy nhập khẩu sữa tăng mạnh từ
2009 USD đến 2010. Nếu chỉ tính riêng cho sữa và sản phẩm từ sữa thuộc hai mã
nêu trên năm 2009 đạt 391.293.521 USD, năm 2010 đạt 422.045.443 (tăng7.85 %
so với năm 2009) (Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan)Hiện nay, ngoài các
các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, chế biến sữa, các công ty sữa trực tiếp nhập
khẩu các loại nguyên liệu phục vụ cho việc sản xuất, chế biến của mình, còn có
nhiều doanh nghiệp không trực tiếp sản xuất, chế biến các sản phẩm sữa cũng
tham gia nhập khẩu các loại nguyên liệu sữa để bán lại hoặc làm phụ gia cho việc
sản xuất các loại sản phẩm khác không phải là sữa.Theo thống kê của của Tổng
cục Hải quan, trong giai đoạn 2007 – 2010 có gần 250 doanh nghiệp tham gia nhập
khẩu sữa nguyên liệu và sữa thành phẩm. Trong số này, tổng số các doanh nghiệp
nhập khẩu các sản phẩm sữa thành phẩm và sữa nguyên liệu để phục vụ sản xuất
chỉ chiếm khoảng 50%. Còn lại là các doanh nghiệp nhập khẩu sữa nguyên liệu để
bán lại.
23
Biểu đồ 3.2: Kim ngạch nhập khẩu của top 10 nước xuất khẩu sữa nhiều nhất vào
Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2009.(Báo
cáo
ngành hàng Việt Nam: Sữa – quý 1/2009, Trung tâm thông tin phát triển NNNT –
Bộ NN&PTNT.)
Trong hai tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu sữa của Hà Lan vào
Việt Nam là 9,43 triệu USD, chiếm 21,27% tổng kim nhập khẩu sữa của Việt Nam
từ thế giới. Thứ hai trong số này là New Zealand với kim ngạch 7,8 triệu USD.Tuy
nhiên hai nước này lại có kim ngạch xuất khẩu sữa vào Việt Nam trong hai tháng