CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
1. Khái niệm chung về quản lý Nhà nước về xuất khẩu thủy sản
1.1. Khái niệm quản lý Nhà nứớc:
Quản lý Nhà nước là một quá trình, trong đó các cơ quan của hệ thống
bộ máy quyền lực của một quốc gia cấp Trung ương đến cấp cơ sở (ở Việt
Nam là cấp xã, phường) thực hiện các tác động vào đối tượng là: hệ thống các
tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các đoàn thể và các hộ
gia đình trong xã hội bằng các công cụ hành chính, (các chỉ thị, nghị quyết,
quyết định) và các biện pháp phi hành chính(sử dụng các chính sách khuyến
khích kinh tế, các chương trình hỗ trợ phát triển…) nhằm đạt được tới mục
tiêu phát triển được định sẵn thể hiện qua các chủ trương, quy hoạch, kế
hoạch phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường).
1.2. Các yếu tố cấu thành cảu quản lý nhà nước
1.2.1. Chủ thể quản lý Nhà nước:
Chủ thể quản lý nhà nước là Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, bao gồm các yếu tố:
- Hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, được
hình thành theo nguyên tắc nhất định do pháp luật quy định bao gồm các cơ
quan họach định chủ trương, chính sách, pháp luật, kế hoạch và các cơ quan
thực thi kế hoạch, pháp luật.
- Các cơ chế, nguyên tắc và chế độ họat động của bộ máy chính quyền.
1
- Nguồn nhân lực cảu bộ máy công quyền, bao gồm các công chức, viên
chức, những người thừa hành công vụ và những người phục vụ cho các họat
động khác nhau của các cơ quan, bộ phận của bộ máy công quyền trong quá
trình thực thi chức năng quản lý nhà nước.
1.2.2. Các đối tượng của quản lý Nhà nước:
Đối tượng của quản lý nhà nước là những hành vi của các tổ chức, bao
gồm:
2. Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước ngành thủy sản:
2.1. Về chức năng:
Với tư cách là một cơ quan của Chính phủ, Bộ Thủy sản thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về thủy sản, bao gồm:
- Quản lý nhà nước đối với các họat động nuôi trồng, khai thác, chế biến,
bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trong nội địa và trên biển trong phạm
vi cả nước.
- Quản lý nhà nứơc các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu
phần vốn của Nhà nứơc tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc Bộ quản lý
theo quy định của pháp luật.
3
2.2. Về nhiệm vụ và quyền hạn:
- Trình chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh và
các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
về thủy sản.
- Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chiến lược, quy họach phát
triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm về thủy sản và các chương
trình, dự án quan trọng của Bộ.
- Ban hành các quy định, chỉ thị, thông tư, thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của Bộ.
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm thực hiện các vănb
ản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt
thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật về thủy sản.
- Quản lý nhà nước về nuôi trồng thủy sản bao gồm các họat động: Xác
định quy họach, kế họach nuôi trồng thủy sản; quy định việc xuất khẩu và
nhập khẩu giống thủy sản, di giống, thuần hóa giống; Thống nhất quản lý chất
lượng giống xây dựng và quản lý hệ thống giống; Đăng ký giống quốc gia;
Quản lý tiêu chuẩn các lọai vật tư, hóa chất, chế phẩm sinh học dùng trong
nuôi trồng thủy sản; Phối hợp với các Bộ ngành, các địa phương kiểm sóat
các Bộ, ngành co liên quan quy định các biện pháp bảo vệ môi trường, tài
nguyên nước có liên quan đến môi trường sống thủy sản; Quy định vùng cấm
khai thác; vùng cạn hạn chế khai thác, các loài thủy sản cấm nhập khẩu, xuất
5
khẩu; Tổ chức điều tra, nghiên cứu, đánh giá, quản lý và bảo vệ sự phát triển
bền vững nguồn lợi thủy sản, quản lý các khu bảo tồn nội địa, khu bảo tồn
biển.
- Trách nhiệm quản lý, phát triển các họat động dịch vụ hậu cần ngành
thủy sản gồm các công việc: Quản lý, phát triển cơ khí thủy sản và hệ
thốngcảng cá, bến cátheo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Thống nhất quản lý các dịch vụ cho khai thác nuôi tròng và chế biến trên
biển.
- Trách nhiêm quản lý, phát triển thương mại ngành thủy sản gồm các
công việc: Phối hợp với các Bộ liên quan xây dựng các chính sách thương
mại ngành thủy sản để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Nghiên cứu
phát triển thị trường, phát triển công tác thông tin thị trường, xúc tiến thương
mại, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thủy sản tìm kiếm và mở
rộng thị trường.
- Trách nhiệm tổ chức và phát triển các họat động khuyến ngư, hướng
dẫn, phổ biến thông tin và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ nuôi trồng, đánh
bắt, chế biến, bảo vệ nguồn lợi và môi trường các hệ sinh thái thủy sản.
- Trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phô trực thuộc Trung ương tổ chức chỉ đạo: công tác phòng chống lụt bão;
tìm kiếm cứu nạn, an toàn đi biển và bảo hộ lao động trong ngành thủy sản;
giữ gìn trật tự an ninh quốc phòng trên biển.
- Trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, thẩm định, giám định, kiểm tra và chịu
trách nhiệm về việc thực hiện có hiệu quả các dự án trong nước và các dự án
có vốn đầu tư nước ngòai về thủy sản thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thủy sản theo quy định của
pháp luật.
+ Vụ Kế hoạch -Tài chính;
+Vụ Khoa học, công nghệ;
+Vụ Hợp tác quốc tế;
+Vụ Pháp chế;
+Vụ Tổ chức cán bộ;
+Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản;
+Cục Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thú y thủy sản;
+Thanh tra Bộ;
+Văn phòng;
- Các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ:
+ Viện Nghiên cứu thủy sản;
+Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản;
+Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I;
+Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II;
+Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III;
+ Trung tâm Khuyến ngư quốc gia;
+Trung tâm Tin học;
8
+Báo Thủy sản;
+ Tạp chí Thủy sản;
Bộ Thủy sản đã ban hành các văn bản cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của các tổ chức trên đây để tạo điều kiện cho các tổ chức này có
căn cứ pháp lý họat động.
Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương , một số nơi có thành lập
Sở Thủy sản, chủ yếu là ở những địa phương có ngành thủy sản phát triển
mạnh, hoặc có tiềm năngphát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản; một số Bộ
khac như Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính… đều có một vụ riêng thực
hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên môn của Bộ mình đối với ngành
thủy sản. Bằng việc tổ chức bộ máy và thực hiện phối hợp họat động giữa các
cơ quan quản lý nêu trên, tạo nên tổng thể bộ máy quản lý nhà nứơc đối với
- Đối với họat động nuôi trồng: thực hiện việc quản lý nhà nước phải trải
rộng từ khâu sản xuất giống; sản xuất thương phẩm (thủy sản hàng hóa); phát
triển cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho các họat động này; quản lý các tác
động ảnh hưởng của họat động nuôi trồng đến nguồn lới thủy sản và môi
trường nước.
- Đối với các họat động khai thác (đánh bắt) thì công tác quản lý nhà
nước pảhi điều chỉnhcác họat động đóng mới và cải hóan phương tiện đánh
bắt; phạm vi và quy mô khai thác; đưa ra những quy định ràng buộc người
10
tham gia đánh bắt thủy sản với nghĩa vụ bảo vệ các nguồn lợi thủy sản tự
nhiên.
3.4. Lao động ngành thủy sản phần lớn là bộ phận dân cư nghèo, kiến thức
và hiểu biết kỹ thuật nuôi trồng cũng như đánh bắt hạn chế, do đó
Nhà nước phải có trách nhiệm đào tạo, tập huấn những kiến thức cơ
bản cho họ.
Yếu tố này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải thực hiện những công
việc sau:
- Đưa ra các điều kiện về tiêu chuẩn, kiến thức đối với những người
tham gia họat động nuôi trồng hoặc đánh bắt.
- Tổ chức các lớp đào tạo chuyên môn và cấp bằng hoặc chứng chỉ cho
từng lọai họat động với các trình độ chuyên môn khác nhau.
- Thiết lập các chương trình hỗ trợ người nghèo trong nuôi trồng và đánh
bắt thủy sản.
4. Mục tiêu và nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về xuất khẩu thủy
sản:
4.1. Mục tiêu của quản lý nhà nước về xuất khẩu thủy sản:
Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thủy sản là phải phát
huy được các thế mạnh của ngành, đó là sử dụng có hiệu quả cao nhất các
diện tích mặt nước sẵn có do thiên nhiên tạo ra trong quá trình đưa vào nuôi
trồng thủy sản nhằm mục đích kinh tế (sản xuất kinh doanh), (hoặc bảo tồn
mặt nước sông, hồ có diện tích lớn) thì công tác quản lý nhà nước phải đưa ra
12
được những chỉ báo về khả năng có thể khait hác tối đa trong khoảng thời
gian nhất định (một năm hoặc một số năm), các quy định về tiêu chuẩn, điều
kiện được tham gia đánh bắt và những nghĩa vụ phải tuân thủ mà Nhà nước
đã đưa ra đối với nhữgn người tham gia đánh bắt thủy sản.
4.2.2. Đề ra và thực hiện các biện pháp bảo vệ, duy trì và tái tạo các
nguồn lợi thủy sản, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành thủy sản:
Đối với các họat động đánh bắt thủy sản tự nhiên, Chính phủ thực hiện
quyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản thông qua việc:
- Đưa ra các quy định hạn chế họat động khai thác quá mức dẫn đến cạn
kiệt nguồn lợi thủy sản trong thời gian nhất định hoặc lâu dài.
- Đưa ra các quy định cấm đánh bắt thủy sản tự nhiên bằng các phương
tiện và dụng cụ mang tính hủy diệt.
- Đưa ra những tiêu chuẩn về kích cỡ từng lòai thủy sản hoặc trọng
lượng tối thiểu với từung cá thể thủy sản được phép khai thác.
Đối với họat động nuôi trồng thủy sản, Chính phủ có thể:
- Đưa ra các quy định hạn chế về sử dụng nguồn nước đưa vào nuôi
trồng nhằm không dẫn đến làm cạn kiệt trữ lượng nước.
- Đưa ra những quy định hạn chế csc chất độc dẫn đến gây ô nhiễm từ
các họat động nuôi trồng.
4.2.3. Thực hiện kiểm tra các họat động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
của những người sống và họat động trong nghề thủy sản:
Đối với họat động đánh bắt thủy sản tự nhiên , Chính phủ có thể thực
hiện kiểm tra , thanh tra trực tiếp các quá trình đánh bắt, xử lý bằng hành
chính và kinh tes casc trường hợp vi phạm quy định đối với các họat động
đánh bắt.
13
Đối với họat động nuôi trồng, Chính phủ có thể tiến hành kiểm tra việc
tuân thủ nhữgn quy định về bảo vệ nguồn nước, chống ô nhiễm, chống làm
1992 1994 1996 1998 200
0
200
1
200
2
2003
KN XK thuỷ sản
Tỷ lệ tăng so với năm
trước (%)
Tỷ trọng XK thủy sản
so với tổng KNXK
(%)
308
-
11,9
556
30,2
13,7
697
12,1
9,6
818
9,4
9,6
1479
57,5
8,7
177
8
tập trung vào 9 tỉnh và 1 tổng công ty xuất khẩu với mức kim ngạch xuất khẩu
của mỗi đơn vị hiện nay từ 50 triệu đến gần 400triệu USD/năm. Tỷ trọng kim
ngạch xuất khẩu của các tỉnh xuất khẩu chính như sau: Cà Mau chiếm 16%
tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nước; Sóc Trăng – 11,5%; Thành phố
Hồ Chí Minh – 9,6%; Bạc Liêu – 7%; Khánh Hoà - 6,7%; Bà Rịa – Vũng Tàu
– 4%; Cần Thơ - 3,8%; An Giang – 3,3%; Kiên Giang – 2,9%; Tổng công ty
Thuỷ sản Việt Nam - 6%.
16
Như vậy, 10 đơn vị này chiếm 70,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước đơn vị tỉnh xuất khẩu chủ yếu đều là các tỉnh phía Nam, trong đó có 8
tỉnh thuộc Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Phát triển mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.
Quá trình phát triển kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản diễn ra đồng thời với
quá trình mở rộng các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu. Cách đây 18 năm, Việt
Nam hầu như chưa xuất khẩu cá, nhưng đến nay xuất khẩu cá đã chiếm vị trí
thứ 2 sau tôm. Các sản phẩm cá được xuất khẩu hiện nay bao gồm: 1) Theo
môi trường sống có cá biển, cá nước lợ, cá nước ngọt dưới các dạng; 2) Theo
dạng sản phẩm chế biến có cá tươi, cá đông lạnh, cá khô; 3) Theo qui cách
sản phẩm có cá nguyên con, cá philê, cá khúc… Các sản phẩm thuỷ sản xuất
khẩu được đa dạng hoá theo loài, dạng và qui cách sản phẩm phù hợp với nhu
cầu nhiều vẻ của thị trường.
Về cơ cấu kim ngachj xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam theo sản phẩm
đã có sự biến đổi lớn trong thời gian 2 thập kỷ qua. Nếu như năm 1986 kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản hầu hết là hàng đông lạnh, trong đó tôm chiếm tới
64%, cá hầu như chưa có thì đến các năm từ 1998 đến 2003 tuy tôm vẫn
chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng đã giảm đi một cách rõ rệt. Tỷ lệ tôm xuất
khẩu còn 43,8% trong năm 2001 và 48,1% trong năm 2003, trong khi cá đã
chiếm 11,4% năm 1998 rồi 21,7% năm 2002. Bên cạnh đó, tỷ trọng kim
ngạch xuất khẩu các mặt hàng thuỷ sản khác đã tăng từ 15,3% năm 1998 lên
22,9% năm 2003. Cơ cấukim ngạch xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu 2004 tuy
8,0
5,8
51,3
17,9
100,0
1,8
12,8
1,3
5,5
14,3
4,2
20,1
100,0
2,0
15,8
2,3
4,6
8,7
43,8
22,8
100,0
2,8
21,7
2,2
4,7
5,4
46,9
16,3
100,0
2,0
ứng yêu cầu về chất lượng thuỷ sản của các nước ngập khẩu ngày càng cao
thêm, và danh mục các chất bị cấm trong sản xuất thuỷ sản xuất khẩu sẽ được
bổ sung thêm.
Phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam.
Trước đây, thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam còn hạn hẹp.
Đến nay, Việt Nam đã xuất khẩu thuỷ sản đến khoảng 70 nước trên thế giói.
Trong đó các thị trường xuất khẩu thuỷ sản mới, thị trường Mỹ có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Do thị trường Nhật Bản thường chiếm tỷ trọng 50 – 60% kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, đến nay chỉ còn dưới % Mỹ đã vượt
lên thay thế Nhật Bản trở thành thị trường xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất của
Việt Nam vào năm 2001 và chiếm 3,4% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam vào năm 2003. Trung Quốc trước đây chỉ chiếm khoảng 2% kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, đã vươn lên đứng thứ 3 (sau Nhật,
Mỹ) chiếm 15% cào năm 2000. Tuy vậy, vào năm 2003 kim ngạch xuất khẩu
thuỷ ản của Việt Nam vài Trung Quốc đã sụt giảm mạnh do dịch viêm đường
hô hấp cấp (SARS) cà có sự thay đổi về cơ chế nhập khầu thuỷ sản. Thị
trường châu Âu chiếm từ 7 – 10% và các nước NICs như Hàn Quốc, Hồng
Kông, Đài Loan mỗi nước chiếm khoảng 5%.
19
Bảng 3. Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Đơn vị: Triệu USD & %
1995 1998 2001 2003
KN Tỷ lệ KN Tỷ lệ KN Tỷ lệ KN Tỷ lệ
Nhật Bản
Mỹ
Trung Quốc
Hàn Quốc
Hồng Kông
Đài Loan
Châu Âu
80,2
51,5
10,7
85,9
47,9
93,4
23,1
15,1
21,7
31,0
818,0
43,7
9,8
6,3
1,3
10,5
5,9
11,4
2,8
1,9
27
3,8
100,0
465,9
489,0
299,0
110,0
94,4
84,4
907
35,4
3,1
6,3
4,7
4,5
5,3
1,4
2,4
1,5
5,9
100,0
Nguồn: Bộ thuỷ sản.
Tỷ trọng nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập
khẩu thuỷ sản của một số thị trường chính tăm lên khá nhanh trong những
năm vừa qua và đã khẳng định được vị trí của Việt Nam trong việc cung cấp
thuỷ sản cho các thị trường này.
20
Bảng 4. Tỷ trọng nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong tổng kim
ngạch nhập khẩu thuỷ sản của một số thị trường chính
Đơn vị: %
1995 1998 2001
Nhật Bản
Mỹ
Châu Âu
Trung Quốc
Hồng Kông
2,1
0,2
0,1
1,1
47% (2000). Nhập khẩu thuỷ sản vào nước này cao nhất thế giới.
+ Các công cụ, chính sách điều tiết nhập khẩu của Nhật Bản phức tạp
vào bậc nhất thế giới bao gồm hàng loạt các chính sách thuế và công cụ phi
thuế quan. Chỉ riêng hệ thống tiêu chuẩn đối với hàng nhập khẩu thuộc lĩnh
vực phi thuế quan đã bao gồm hàng loạt các hệ thống tiêu chuẩn, các luật rất
chi tiết.
+ Hệ thống phân phối thuỷ sản ở Nhật Bản tương đối phức tạp, cồng
kềnh, cần huy động nhiều nhân công, dẫn tới chi phí lưu thông cao, giá cả đắt
đỏ.
+ Người tiêu dùng Nhật Bản rất quan tâm đến chất lượng thực phẩm
(hương vị, độ tươi mới, an toàn vệ sinh, xuất xứ,…), họ rất coi trọng các tiêu
chuẩn của Nhật Bản.
Các nước cạnh tranh xuất khẩu chính với Việt Nam:
Hiện nay, các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam tại thị trường này
là Inđônêxia, ấn Độ, Thái Lan. Trong đó, Thái Lan đã không còn vị trí đầu về
xuất khẩu tôm vào Nhật Bản do tập trung quá mức vào thi trường Mỹ, thay
vào đó Inđônêxia đã vươn lên vị trí số 1 vào nă 2000. Trong 6 tháng đầu năm
2004 xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Nhật Bản tăng 33% so với cùng
kỳ năm 2003 chủ yếu do sản phẩm tôm của Việt Nam đang dần chiếm thế chủ
động trước sản phẩm loại này của Inđônêxia. Bên cạnh đó, các sản phẩm cá
da trưon cua Việt Nam cũng đã có vị thế mới tại thị trường Nhật Bản.
*Thị trường EU
22
Những đặc điểm chính của thị trường EU là:
+ Nhập khẩu thuỷ sản vào thị trường châu Âu đã bão hoà trong một số
năm gần đây, tuy vậy đây là khu vực nhập khẩu tuỷ sản rất lớn (gấp 2 lần
Nhật Bản).
+ Các công cụ, chính sách điều tiết nhập khẩu thực phẩm vào EU vào
loại khắt khe nhất thế giới. EU rất quan tâm đến vấn đề môi trường liên quan
đến thực phẩm; kiểm soát chặt chẽ và xử phạt nghiêm đối với hàng thực phẩm
Các nước cạnh tranh xuất khẩu chính với Việt Nam:
Về mặt hàng tôm: đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam là Thái Lan,
các đối thủ còn lại là ấn Độ, Mêxicô, Êcuađo và Trung Quốc. Thái Lan là bạn
hàng truyền thống và cung cấp tôm nhiều nhất cho thị trường Mỹ. Năm 2001,
Việt Nằmt vị trí thứ 7 (2000) đã vượt nhiều đối thủ để trở thành nước xuất
khẩu tôm nhiều thứ hai vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, trừ Thái lan, khối
lượng tôm xuất khẩu vào Mỹ của từng đối thủ cạnh tranh với Việt Nam khác
chỉ kém Việt Nam chút ít (khoảng từ 5 – 15%). Ưu thế cạnh tranh của tôm
Việt Nam trên thị trường Mỹ được đánh giá tốt về mặt chất lượng và số
lượng.
Về mặt hàng cá: đối thủ cạnh tranh lớn nhất của các doanh nghiệp Việt
Nam là các nhà sản xuất cá của Mỹ, vụ kiện của các nhà sản xuất này đã gây
tổn thất lớn cho các cơ sở sản xuất cá tra, cá bas a và nhiều doanh nghiệp xuất
khẩu của Việt Nam.
24
*Thị trường Trung Quốc
Những đặc điểm chính của thị trường Trung Quốc:
Tuy Trung Quốc không phài là nước nhập khẩu thuỷ sản lớn trên thế giới
(chỉ hơn 1 tỷ USD/năm), nhưng là nước láng giềng gần gũi, có nhiều nét
tương đồng về tiêu dùng và văn hoá với Việt Nam. Đây là thị trường nhiều
triển vọng cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. nam 1995, kim ngạch xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Trung Quốc mới đạt10 triệu USD, đến năm
2001 đã đạt 299 triệu USD (24,5% của nhập khẩu thuỷ sản vào Trung Quốc).
Tuy các qui định về an toàn vệ sinh thực phẩm của Trung Quốc ít chặt chẽ
hơn EU, Nhật Bản và Mỹ, song cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế và
văn hoá của Trung Quốc, các qui định này sẽ ngày càng trở nên chặt chẽ hơn.
Các nước cạnh tranh xuất khẩu chính với Việt Nam:
Hầu như không có các đối thủ cạnh tranh quyết liệt của Việt Nam tại thị
trường Trung Quốc, nhưng các nước trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan,
Inđônêxia,… sẽ là các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của Việt Nam trong thời