Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội, việc công dân đi ra nớc ngoài và từ nớc ngoài
về nớc (xuất cảnh nớc mình, nhập cảnh một nớc khác và ngợc lại) để c trú,
làm ăn sinh sống, buôn bán, đầu t, công tác, lao động, học tập, du lịch là
một vấn đề bình thờng trong quá trình giao lu giữa các quốc gia và con ngời
trong khu vực hoặc quốc tế. Con ngời chỉ có thể tiến bộ và phát huy khả năng
của mình trên mọi lĩnh vực khi quyền con ngời nói chung và quyền xuất cảnh,
nhập cảnh đợc bảo đảm. Nh vậy, có thể nói, bảo đảm quyền xuất cảnh, nhập
cảnh và c trú ngày nay đã trở thành một động lực của sự phát triển xã hội.
ở hầu hết các nớc tiến bộ, với tính cách là một bộ phận quan trọng
trong hệ thống các quyền tự do cá nhân của con ngời, quyền đi ra nớc ngoài
và từ nớc ngoài về nớc của công dân đều đợc Hiến pháp ghi nhận và kèm theo
là những điều kiện để thực hiện quyền này trên thực tế. ở nớc ta, Hiến pháp
năm 1992 và những văn bản pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh, c trú trong
một chừng mực nào đó đã có những quy định cụ thể về quyền xuất cảnh, nhập
cảnh, c trú của công dân. Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan và chủ
quan, cho nên trong những năm qua, bên cạnh những u điểm, pháp luật trong
quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh ở nớc ta đã và đang bộc lộ những hạn
chế nhất định, gây ảnh hởng không nhỏ tới hiệu lực, hiệu quả của nền hành
chính nhà nớc nói chung và hành chính nhà nớc trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập
cảnh, c trú nói riêng, từ đó ảnh hởng xấu tới việc thực hiện những quyền xuất
cảnh, nhập cảnh, c trú của công dân.
Nhằm khắc phục tình trạng trên, Đảng và Nhà nớc ta đang chỉ đạo các
cấp, các ngành tích cực thực hiện chủ trơng cải cách nền hành chính nhà nớc,
1
trong đó trọng tâm là phục vụ con ngời, vì con ngời với nhu cầu đòi hỏi ngày
càng tăng, trong đó có quyền xuất cảnh, nhập cảnh và c trú.
Để công cuộc cải cách nền hành chính nhà nớc, trong đó có cải cách
thể chế, thủ tục hành chính nói chung và cải cách thể chế, thủ tục hành chính
trong lĩnh vực xuất nhập cảnh nói riêng đạt đợc kết quả, cần phát huy sức
luật của ngời nớc ngoài tại Việt Nam và xử lý vi phạm của các cơ quan chức
năng trong những năm 90 của thế kỷ XX. Từ đó, đa ra những định hớng, kiến
nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản lý ngời nớc ngoài; nâng
cao ý thức pháp luật; đổi mới bộ máy, cán bộ, cơ chế quản lý nhằm thực hiện
quản lý nhà nớc có hiệu quả đối với ngời nớc ngoài ở Việt Nam trong những
năm cuối thế kỷ XX. Một số kiến nghị có tính khả thi của tác giả về sửa đổi,
bổ sung các văn bản pháp luật đã ban hành khi đó tập trung vào một số điều
của Bộ luật hình sự, đặc biệt là kiến nghị: "Cần bổ sung hình phạt trục xuất
vào hệ thống hình phạt của Bộ luật hình sự đợc áp dụng vừa là hình phạt
chính vừa là hình phạt bổ sung". Về lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh, tác giả
cũng có kiến nghị: "Về tổng thể, cần nghiên cứu nâng Pháp lệnh nhập cảnh,
xuất cảnh, c trú, đi lại của ngời nớc ngoài tại Việt Nam thành một đạo luật".
"Quản lý nhà nớc về an ninh đối với ngời nớc ngoài tại Việt Nam"
Luận án Tiến sĩ của TS. Ngô Phúc Thịnh (Học viện An ninh nhân dân, Hà
Nội, 2002), với mục đích là: đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà n-
ớc về an ninh đối với ngời nớc ngoài và những hoạt động xâm phạm an ninh
quốc gia của ngời nớc ngoài tại Việt Nam; dự báo và đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và đấu tranh với
hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Về lý luận, luận án đã làm rõ thêm
khái niệm về ngời nớc ngoài và địa vị pháp lý của họ tại Việt Nam; làm rõ
thêm nhận thức quản lý nhà nớc về an ninh đối với ngời nớc ngoài; làm rõ đặc
trng, nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhà nớc về an ninh đối với ngời
nớc ngoài và những yếu tố tác động tới hoạt động quản lý. Về thực tiễn, luận
3
án đã chỉ rõ thực trạng công tác quản lý nhà nớc về an ninh đối với ngời nớc
ngoài; phân tích và đánh giá khái quát các hoạt động xâm phạm an ninh quốc
gia của ngời nớc ngoài tại Việt Nam và công tác đấu tranh của cơ quan an ninh;
đa ra dự báo tình hình về âm mu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng
ngời nớc ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, c trú tại Việt Nam nhằm xâm hại an
ninh quốc gia. Từ đó đa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm góp phần
Việt Nam. Từ đó đa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý ngời nớc ngoài, bảo đảm an ninh trật tự trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Đặc biệt trong đó là: xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật về quản lý nhà nớc đối với ngời nớc ngoài; tăng cờng ký
kết các hiệp định tơng trợ t pháp quốc tế; đổi mới công tác quản lý nhập cảnh,
xuất cảnh, c trú đối với ngời nớc ngoài tại Việt Nam.
Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao có đề tài nghiên cứu khoa học về "Trách
nhiệm quốc gia đối với việc nhận trở lại công dân không đợc nớc ngoài cho c
trú" do ThS. Nguyễn Hữu Tráng làm chủ nhiệm (Bộ Ngoại giao, Hà Nội,
2002). Mục tiêu của đề tài là: phân tích làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật và
thực tiễn quan hệ quốc tế về quyền của quốc gia không cho phép ngời nớc
ngoài c trú; trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia đợc yêu cầu tiếp nhận
công dân mình bị trục xuất; đánh giá quá trình thực hiện các điều ớc quốc tế đa
phơng, song phơng mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia; phân tích các quy
định hiện hành và những chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta với công dân Việt
Nam ở nớc ngoài. Đề tài đã chỉ rõ việc di c của ngời Việt Nam là một thực tế
khách quan và là một phần của thực trạng di c đã và đang diễn ra trên thế giới; từ
nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn khách quan các tác giả tham gia đề tài nghiên
cứu khoa học nêu trên đã kiến nghị chủ trơng, biện pháp liên quan đến việc
nhận trở lại công dân trong tình hình cụ thể trong nớc và quốc tế hiện nay; kiến
nghị sửa đổi một số văn bản pháp luật hiện hành và đề xuất những nội dung cơ
5
bản thể hiện chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc ta trong một thỏa
thuận khung để giải quyết vấn đề nhận trở lại công dân không đợc nớc ngoài
cho c trú.
Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an có đề tài nghiên cứu khoa
học về "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát xuất nhập cảnh tại
cửa khẩu hàng không quốc tế Nội Bài góp phần đảm bảo an ninh quốc gia" do
Đại tá Triệu Văn Thế - Cục trởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh làm chủ biên
(Bộ Công an, Hà Nội, 2005). Đề tài đã góp phần xây dựng và hoàn thiện các
toàn tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động) nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nớc đối với ngời nớc ngoài. "Quản lý nhà nớc về an ninh đối với công dân
Việt Nam xuất cảnh trong giai đoạn hiện nay" luận văn thạc sĩ luật học của ThS
Phạm Ngọc Trung (Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 1997), với mục đích:
phân tích một cách khoa học tình hình quản lý nhà nớc đối với ngời Việt Nam
xuất cảnh trong giai đoạn hiện nay để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và những
vớng mắc đợc đặt ra đối với công tác quản lý công dân Việt Nam xuất cảnh, từ
đó đề xuất phơng pháp đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nớc đối với ngời Việt
Nam xuất cảnh. Luận văn đã khái quát đợc vị trí, vai trò của quản lý công dân
Việt Nam xuất cảnh trong quản lý nhà nớc về an ninh quốc gia; đánh giá đợc
thực trạng quản lý công dân Việt Nam xuất cảnh, âm mu và hoạt động của các
thế lực thù địch và bọn phạm tội khác lợi dụng việc xuất cảnh của công dân để
hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia; dự báo những vấn đề có liên quan đến
quản lý công dân Việt Nam xuất cảnh trong thời gian tới; qua đó, đề xuất phơng
hớng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nớc đối với công
dân Việt Nam xuất cảnh. "Quản lý nhà nớc về an ninh đối với ngời nớc ngoài
nhập cảnh Việt Nam theo danh nghĩa du lịch" luận văn thạc sĩ luật học của ThS.
Nguyễn Văn Minh (Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 1999), với mục đích:
7
làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn đang đặt ra đối với công tác quản lý ngời n-
ớc ngoài nhập cảnh Việt Nam theo danh nghĩa du lịch, từ đó đề xuất giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nớc về an ninh đối với ngời nớc ngoài
nhập cảnh Việt Nam theo danh nghĩa du lịch. Luận văn đã làm rõ những nhận
thức cơ bản của quản lý nhà nớc về an ninh đối với ngời nớc ngoài nhập cảnh
Việt Nam theo đờng du lịch; đánh giá đợc thực trạng ngời nớc ngoài nhập cảnh
Việt Nam theo danh nghĩa du lịch, hoạt động của các thế lực thù địch và tội
phạm khác lợi dụng đờng nhập cảnh này để hoạt động xâm hại đến an ninh quốc
gia và trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam; đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà n-
ớc về an ninh đối với ngời nớc ngoài nhập cảnh Việt Nam theo đờng du lịch, từ
đó chỉ ra đợc những tồn tại, sơ hở trong quản lý để có hớng đề xuất khắc phục;
cảnh, nhập cảnh và c trú. Tuy nhiên, các công trình nói trên còn để lại nhiều
khoảng trống và cha đề cập một cách toàn diện, có hệ thống về pháp luật trong
quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà
nớc về xuất cảnh, nhập cảnh ở Việt Nam" là vấn đề mới không trùng lắp với
những đề tài, chuyên đề đã nghiên cứu. Đề tài này mang tính cấp thiết, không
những về lý luận, mà còn là đòi hỏi thực tiễn trong quản lý nhà nớc về xuất
cảnh, nhập cảnh và c trú ở nớc ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ, đối tợng, phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích
Làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề về lý luận và thực
tiễn của pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh, từ đó đề
xuất những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo phơng hớng đổi mới và hoàn thiện
pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh, bảo đảm thực hiện
có hiệu quả quyền xuất cảnh, nhập cảnh và c trú của công dân.
9
Nhiệm vụ
Với mục đích nêu trên, tác giả luận án đề ra các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những nhận thức cơ bản về pháp luật trong quản lý nhà nớc
về xuất cảnh, nhập cảnh; về cơ sở khoa học của việc đổi mới và hoàn thiện
pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh ở Việt Nam.
- Nghiên cứu vị trí, vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất
cảnh, nhập cảnh; làm rõ mối quan hệ của pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh, c
trú với các ngành luật khác có liên quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Đánh giá đúng đắn thực trạng áp dụng pháp luật trong quản lý nhà n-
ớc về xuất cảnh, nhập cảnh ở Việt Nam, chỉ ra những tồn tại, thiếu sót của
pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh để có hớng đề xuất giải pháp khắc phục.
- Làm rõ những quan điểm, phơng hớng đổi mới và hoàn thiện pháp
luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xuất cảnh, nhập
Đây là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về pháp luật trong quản lý
nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh ở Việt Nam. Luận án đã có những đóng góp
mới về khoa học nh sau:
Một là, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong
quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh tại Việt Nam, làm rõ vai trò, đặc
điểm của pháp luật đối với việc tăng cờng quản lý nhà nớc một cách dân chủ
đối với hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh và c trú; bảo đảm quyền tự do đi lại, c
trú của công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế; làm rõ mối tơng quan giữa
11
pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh với các lĩnh vực điều
chỉnh pháp luật khác.
Hai là, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật trong
quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh tại Việt Nam từ Cách mạng tháng
Tám đến nay, trong đó đã làm sáng tỏ quá trình vừa kế thừa vừa phát triển liên
tục của pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh phù hợp với
tính chất và nhiệm vụ thực hiện đờng lối đối ngoại, giữ vững chủ quyền, an
ninh quốc gia của Đảng và Nhà nớc trong từng thời kỳ lịch sử.
Ba là, đã đánh giá đúng thực trạng pháp luật trong quản lý nhà nớc về
xuất cảnh, nhập cảnh thời kỳ đổi mới; nêu bật đợc những thành tựu của sự điều
chỉnh pháp luật xuất cảnh, nhập cảnh đối với việc bảo đảm quản lý nhà nớc và
quyền tự do đi lại, c trú của công dân trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế;
phân tích đánh giá các yếu tố đang chi phối hiệu quả quản lý nhà nớc về xuất
cảnh, nhập cảnh, bảo đảm chủ quyền độc lập và an ninh quốc gia, tạo điều
kiện thuận lợi để công dân Việt Nam và ngời nớc ngoài thực hiện quyền tự do
đi lại, c trú.
Bốn là, xây dựng một hệ thống các quan điểm và phơng hớng tạo cơ sở
cho việc hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh;
đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong quản lý
nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh, trong đó có kiến nghị xây dựng một đạo luật
1.1.1. Khái niệm pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh,
nhập cảnh
ở nớc ta, pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh là một
bộ phận quan trọng của pháp luật hành chính và hệ thống pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua vì những lý do khách quan, chủ quan khác nhau
mà khái niệm về pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh cha
đợc khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu, các cán bộ quản lý nghiên cứu một
cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống. Do vậy, đến nay trong khoa học pháp
lý ở Việt Nam, vẫn cha đa ra đợc một khái niệm thống nhất, hoàn chỉnh về
pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh.
Để làm rõ nội hàm khái niệm về pháp luật trong quản lý nhà nớc về
xuất cảnh, nhập cảnh, chúng ta cần phân tích và đặt nó trong mối quan hệ với
pháp luật hành chính.
Theo giáo trình về quản lý hành chính nhà nớc của Học viện Hành
chính Quốc gia (1996) thì: "Quản lý hành chính nhà nớc là dạng quản lý xã hội
mang tính quyền lực nhà nớc với chức năng chấp hành luật và tổ chức thực
hiện luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính nhà nớc (hệ
thống Chính phủ và chính quyền địa phơng)" [50, tr. 10].
Trong sách tìm hiểu pháp luật về "Luật hành chính Việt Nam" (2005),
PGS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu cho rằng:
14
Quản lý nhà nớc là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực nhà nớc với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của
công dân do các cơ quan hành pháp từ Trung ơng đến cơ sở tiến
hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nớc, phát
triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn những
nhu cầu hàng ngày của nhân dân [70, tr. 19].
Từ các quan niệm về quản lý nhà nớc nêu trên, chúng ta có thể hiểu:
hành chính nhà nớc trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh cũng nh bất kỳ một
dạng quản lý xã hội nào khác, là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy
kiểm soát, chịu sự ràng buộc bởi pháp luật do quyền lực chung - quyền lực
nhà nớc ban hành. Hành chính nói chung, hành chính trong lĩnh vực xuất nhập
cảnh nói riêng đợc toàn quyền hành động quản lý và phục vụ nhng phải đặt
mình trong khuôn khổ pháp luật, tuân thủ pháp luật. Hành chính trong lĩnh
vực xuất nhập cảnh đợc tự quyết tác động quyền lực vào quyền tự do c trú,
xuất cảnh, nhập cảnh - lợi ích chính đáng của công dân, nhng phải tôn trọng,
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo pháp luật trong quản lý
nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh. Những quyết định hành chính làm tổn hại
tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải bị hủy bỏ và bị truy cứu trách
nhiệm bồi thờng thiệt hại.
Hành chính nhà nớc trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh là một bộ
phận của nền hành chính nhà nớc, theo đúng nghĩa là sự quản lý nhà nớc về
xuất cảnh, nhập cảnh. Nó xuất hiện cùng với thiết chế hành chính nhà nớc,
quản lý công vụ quốc gia, cụ thể là công việc của bộ máy hành pháp (Chính
phủ) thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nớc trong lĩnh vực xuất
nhập cảnh.
Từ lý luận và thực tiễn thực hiện, áp dụng pháp luật trong quản lý nhà
nớc về xuất cảnh, nhập cảnh ở Việt Nam, chúng tôi có thể đa ra khái niệm pháp
16
luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh nh sau: pháp luật trong
quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh là một bộ phận của pháp luật hành
chính - hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát
sinh giữa cơ quan nhà nớc có thẩm quyền với tổ chức, công dân và ngời nớc
ngoài trong lĩnh vực xuất nhập cảnh.
Pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh bao gồm: các
quy phạm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nớc về
xuất cảnh, nhập cảnh; các quy phạm quy định về tổ chức và hoạt động của các
cơ quan hành chính nhà nớc, chế độ công vụ và công chức nhà nớc trong lĩnh
vực xuất cảnh, nhập cảnh; sự tham gia của tổ chức, cá nhân vào tổ chức và
hoạt động quản lý hành chính nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh; quyền và
nhng còn thiếu vắng hoạt động của cơ quan t pháp (xét xử) khi có hành vi vi
phạm pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh và c trú của công dân (là ngời Việt
Nam và ngời nớc ngoài).
Dới góc độ khoa học quản lý, "quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập
cảnh", hiểu theo ý nghĩa trên là một khái niệm rộng bao hàm: Việc xây dựng
và tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, mà trọng tâm là
các hoạt động chấp hành và điều hành hoạt động của các cơ quan nhà nớc và
cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm trật tự
quản lý và quyền công dân trong lĩnh vực xuất nhập cảnh.
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi thấy quản lý nhà nớc về
xuất cảnh, nhập cảnh đợc thể hiện trên các phơng diện sau:
Một là, quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh là một dạng hoạt
động mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và đợc điều chỉnh bằng
pháp luật theo phơng pháp mệnh lệnh và phục tùng
Nh các hoạt động quản lý nhà nớc nói chung, quản lý nhà nớc về xuất
cảnh, nhập cảnh luôn hớng tới phục vụ mục đích đợc xây dựng trên quan điểm
18
của Đảng và Nhà nớc là: mọi chủ trơng, đờng lối, hoạt động của Đảng và Nhà
nớc và toàn xã hội đều nhằm mục đích vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân
dân, vì nhân dân là cội nguồn của quyền lực. Vì vậy, hoạt động này mang tính
quyền lực đặc biệt của Nhà nớc "của dân, do dân và vì dân".
Hoạt động quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh thực chất là sự tác
động mang tính tổ chức cao và đợc điều chỉnh bằng pháp luật. Để quản lý tốt,
cần biết tổ chức về mặt thực tiễn các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực
xuất cảnh, nhập cảnh. Tính tổ chức cao thể hiện ở hai phơng diện: Thứ nhất,
đây là hoạt động trực tiếp của các cơ quan nhà nớc đợc giao chức năng nhiệm vụ
trong lĩnh vực quản lý xuất cảnh, nhập cảnh. Thứ hai, đây là hoạt động phải đ-
ợc bảo đảm về tổ chức (bộ máy) chuyên trách, mà tổ chức này đợc hình thành
xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nớc và đòi hỏi phải mang tính khoa học để
bảo đảm tính hiệu quả của hoạt động. Thực tiễn cho thấy, không có tổ chức,
có trụ sở cơ quan đại diện Việt Nam), luôn hớng tới bảo đảm các nguyên tắc
đối ngoại, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Vì
vậy, trong hoạt động quản lý phải có sự chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong
điều hành, phối hợp, huy động lực lợng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các
ngành, các cấp để bảo đảm pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh và c trú đợc chấp
hành nghiêm.
Ba là, quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh có đối tợng quản lý
đa dạng, chịu sự điều chỉnh không chỉ bằng hệ thống pháp luật trong nớc mà
còn chịu sự điều chỉnh bằng cả điều ớc quốc tế mà Nhà nớc tham gia ký kết
hoặc thừa nhận
Trong hoạt động quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh, các viên
chức hành chính nhà nớc phải tuân thủ nghiêm quy chế thực hiện dân chủ trong
giải quyết thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh và c trú đối với công dân, chống các
biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Tuy nhiên,
20
trong một chừng mực nhất định, quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh có
sự cách biệt rõ ràng về mặt xã hội giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
(mang yếu tố nớc ngoài).
Xuất phát từ tính đa dạng về mục đích nhập cảnh, xuất cảnh Việt Nam
của khách thể quản lý có tác động trực tiếp tới các vấn đề nh: nguyên tắc đối
ngoại, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Hơn nữa,
khách thể bị quản lý này chịu sự điều chỉnh không chỉ bằng hệ thống pháp luật
trong nớc mà còn chịu sự điều chỉnh bằng cả điều ớc quốc tế mà Nhà nớc tham
gia ký kết hoặc thừa nhận và thực hiện theo nguyên tắc có đi, có lại. Chính đặc
trng này quy định những yêu cầu đòi hỏi những nội dung riêng có của pháp
luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh. Phạm vi điều chỉnh của
các điều ớc quốc tế về xuất cảnh, nhập cảnh và c trú chủ yếu tập trung vào các
vấn đề nh: các u đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự; vấn đề u đãi cho công dân các
bên nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, c trú lẫn nhau trên lãnh thổ mỗi bên; vấn đề
tơng trợ t pháp đợc xây dựng trên cơ sở có đi, có lại. Trong đó đặc biệt quan
Nh vậy, có thể nói: sự điều chỉnh của pháp luật trong quản lý nhà nớc
về xuất cảnh, nhập cảnh là một quá trình thực hiện sự tác động của pháp luật
lên các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh và c trú.
Nói cách khác, Nhà nớc thông qua một hệ thống các phơng tiện pháp lý (bao
gồm các quy phạm vật chất và quy phạm thủ tục, đợc thể hiện ở các văn bản
quy phạm pháp luật, quyết định áp dụng văn bản pháp luật, quan hệ pháp luật,
hành vi thực tế thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý) để thực hiện sự tác động
của pháp luật lên các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xuất cảnh, nhập
cảnh của công dân và quá trình nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, c trú của ngời
nớc ngoài tại một quốc gia, trong đó các tổ chức, cá nhân công dân là một bên
tham gia, nhằm bảo đảm pháp chế trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập
cảnh.
22
Cũng nh sự điều chỉnh của các ngành luật khác, quá trình thực hiện
sự tác động của pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh
diễn ra theo trình tự của một quy trình mang tính lôgic và khép kín, có thể
chia ra làm bốn giai đoạn: 1- Giai đoạn qui định các quy phạm pháp luật
trong quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, c trú; 2- Giai đoạn thực hiện và áp dụng
pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh, c trú; 3- Giai đoạn xuất hiện các quan hệ
pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh; 4- Và cuối cùng là
giai đoạn các chủ thể tham gia quan hệ trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh,
nhập cảnh thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp
luật.
Xuất phát từ nội dung, đặc điểm của quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập
cảnh và sự điều chỉnh của pháp luật nh đã nêu trên, chúng ta nhận thấy, pháp
luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh là một bộ phận của pháp
luật hành chính, bao gồm: hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về xuất
cảnh, nhập cảnh (các quy phạm pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh của công
dân một quốc gia; các quy phạm pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh,
c trú của ngời nớc ngoài tại một quốc gia) và những văn bản quy phạm pháp luật
nhóm quy phạm có quan hệ hữu cơ với nhau. Từ khái niệm pháp luật trong
quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh đã đợc trình bày ở phần trên và qua
nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nớc, có thể chỉ ra những nội dung cơ
bản của nó gồm hai phần: những quy định chung và những quy định cụ thể.
Phần những quy định chung của pháp luật trong quản lý nhà nớc về
xuất cảnh, nhập cảnh bao gồm: các quy phạm điều chỉnh các quan hệ có tính
chất chung, phát sinh trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh nh: các
nguyên tắc tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng độc lập, chủ quyền, truyền
thống, phong tục, tập quán của Việt Nam; nguyên tắc tôn trọng và u tiên áp
dụng các điều ớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; nguyên tắc bảo
24
hộ tính mạng, tài sản, quyền và và lợi ích hợp pháp khác của các tổ chức, cá
nhân công dân tham gia vào quan hệ phát sinh trong quản lý nhà nớc về xuất
cảnh, nhập cảnh; các quy phạm định nghĩa về các khái niệm cơ bản trong quản
lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh nh: "ngời nớc ngoài", "ngời nớc ngoài thờng
trú", "ngời nớc ngoài tạm trú", "xuất cảnh", "nhập cảnh", "quá cảnh".
Phần những quy định cụ thể bao gồm: các nhóm quy phạm điều chỉnh
hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, c trú. Cụ thể là những quy định về
hộ chiếu; thủ tục cấp hộ chiếu; quy định về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, c
trú; quy định về ngời cha đợc xuất cảnh, ngời cha đợc nhập cảnh; quy định về
trục xuất; quy định về quản lý về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, c trú; những
quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan quản lý và trách nhiệm của
các tổ chức, cá nhân tham gia vào quan hệ phát sinh trong quản lý nhà nớc về
xuất cảnh, nhập cảnh; quy định về xử lý vi phạm.
Có thể trình bày khái quát nội dung những quy phạm pháp luật quy
định tổ chức và hoạt động quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh, c trú theo
trình tự các khâu quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập cảnh nh sau:
Nội dung của pháp luật trong quản lý nhà nớc về xuất cảnh, nhập
cảnh của công dân Việt Nam bao gồm: các quy định về thẩm quyền và nghĩa
vụ thực thi việc xét duyệt, cấp hộ chiếu và kiểm soát xuất cảnh, nhập cảnh tại