đề cương bài giảng kinh tế thương mại đại cương - Pdf 14


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Bộ môn kinh tế thương mại
***

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
KINH TẾ THƯƠNG MẠI ĐẠI CƯƠNG


ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
KINH TẾ THƯƠNG MẠI ĐẠI CƯƠNG
Chủ biên: TS. Ngô Xuân Bình
Tham gia biên soạn: TS. Ngô Xuân Bình
TS. Thân Danh Phúc
TS. Hà Văn Sự

Trong trao đổi hàng hóa trực tiếp và lưu thông hàng hóa, chủ thể của hoạt động trao
đổi là những người sản xuất và những người tiêu dùng, không có sự tham gia của những
người trung gian (thương nhân) . Mục đích của hoạt động trao đổi là giá trị sử dụng.
Sự phát triển ngày càng cao của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một
tầng lớp xã hội mới, đó là những người thương gia. Khác với những người sản xuất trực
tiếp và những người tiêu dùng trực tiếp, thương gia bỏ tiền ra mua hàng hóa của những
người sản xuất, sau đó bán lại để kiếm lời trong hoạt động buôn bán. Hoạt động kinh tế
của những người thương gia thông qua mua bán để kiếm lời chính là hoạt động thương
mại (T - H - T').

4
Khác với trao đổi hàng hóa trực tiếp và lưu thông hàng hóa, hoạt động thương mại
bắt đầu bằng tiền với hành vi mua và kết thúc cũng bằng tiền với hành vi bán. mục đích
của hoạt động thương mại không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị cụ thể là nhằm vào
lợi nhuận.
Lưu thông hàng hóa ra đời đã phủ định trao đổi hàng hóa trực tiếp, ngược lại thương
mại ra đời không đưa đến sự phủ định lưu thông mà trái lại nó làm cho lưu thông hàng
hóa phát triển ở một trình độ cao hơn.
Như vậy, sự xuất hiện của hoạt động thương mại gắn liền với sự xuất hiện của
thương gia. Về lịch sử, những người thương gia xuất hiện vào cuối chế độ công xã
nguyên thủy và đầu chế độ phong kiến
Những hoạt động thương mại lúc đầu chỉ giới hạn chủ yếu trong lĩnh vực trao đổi
các sản phẩm hữu hình (thương mại hàng hóa), sau đó được mở rộng sang các sản phẩm
vô hình (thương mại dịch vụ), và trong nền kinh tế hiện đại, thương mại còn liên quan rất
chặt chẽ với các hoạt động đầu tư và sở hữu trí tuệ.
Những người thương gia ngày càng đông trong xã hội như là kết quả tất yếu của quá
trình phân công lao động xã hội ngày càng mở rộng và chuyên sâu . Khi đó, một bộ phận
lao động xã hội tách khỏi sản xuất, độc lập với sản xuất, chuyên làm chức năng lưu thông
làm xuất hiện một ngành kinh tế mới đó là ngành Thương mại. Ngành thương mại ra đời
như là kết quả tất yếu của sự phát triển trao đổi và phân công lao động xã hội. Phân công

tóm tắt hoạt động thương mại bằng công thức sau: T - H - T' .
Đối tượng của các hoạt động thương mại là các hàng hóa vá dịch vụ. Chủ thể của
hoạt động thưong mại gồm những người bán (người sản xuất hàng hóa, người cung ứng
dịch vụ, thương gia ) và những người mua( người sản xuất, thương gia, những người tiêu
dùng).Tuy nhiên tham gia vào hoạt động thương mại còn có một số người khác như :
người môi giới, người đại lý thương mại Hoạt động thương mại xảy ra trong khâu lưu
thông, trên thị trường với những điều kiện kinh tế, xã hôi, luật pháp, chính tri, và môi
trường vật chất cụ thể.
Trong hành vi mua, người ta chuyển đổi hình thái giá trị của hàng hóa từ hình thái
tiền tệ sang hình thái hiện vật và cùng với quá trình này là sự chuyển đổi về sở hữu,
người mua đổi quyền sở hữu tiền tệ để có được quyền sở hữu hàng hóa. Nhờ vậy mà có
được quyền sử dụng sản phẩm cho việc thỏa mãn nhu cầu. Trong hành vi bán hàng, quá
trình diễn ra hoàn toàn ngược lại.
Hoạt động thương mại là một quá trình bao gồm các hoạt động cơ bản là mua và
bán. Ngoài các hoạt động cơ bản còn có các hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động mua bán,
người ta gọi chung các hoạt động này là dịch vụ thương mại.
Dịch vụ thương mại gồm tất cả những hoạt động thương mại ngoài hoạt động
thương mại cơ bản (hoạt động mua và bán ), chúng phát sinh gắn với mua bán, hỗ trợ
cho mua bán được thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả.
Hoạt động thương mại được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận và
cùng có lợi. Vì thế quá trình mua bán vừa là quá trình cạnh tranh vừa là quá trình hợp tác
giữa người bán và người mua.
Thông qua các hoạt động thương mại, người bán đạt được giá trị nhằm mục đích lợi
nhuận, người mua có được giá trị sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng khác nhau.

6
Chính nhờ hoạt động thương mại mà sản xuất và tiêu dùng nối liền với nhau trong điều
kiện của kinh tế hàng hóa.
b. Thương mại - khâu trao đổi (lưu thông) của quá trình tái sản xuất xã hội
Tái sản xuất xã hội gồm 4 khâu cơ bản: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.

hiểu là buôn bán hàng hóa với mục đích sinh lợi.
Luật Thương mại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng ghi:

7
Hoạt động Thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm: mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác.
1.1.3. Phân loại Thương mại
1.1.3.1. Theo phạm vi hoạt động thương mại
Người ta phân thành Thương mại nội địa (nội thương) và Thương mại Quốc tế
(ngoại thương)
Thương mại nội địa có thể được phân thành: Thương mại thành thị và Thương mại
nông thôn, Thương mại vùng đặc biệt,thương mại biên giới, thương mại vùng sâu, vùng
xa,
Thương mại nội địa phản ánh những quan hệ kinh tế thị trường của các chủ thể kinh
tế của một quốc gia. Các hoạt động thương mại nội địa về cơ bản diễn ra trong phạm vi
biên giới của một quốc gia.
Thương mại Quốc tế bao gồm việc mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc
gia có thể ở phạm vi toàn cầu (WTO), có thể ở phạm vi khu vực (EU, ASEAN ) hoặc
thương mại song phương giữa 2 quốc gia. Thương mại quốc tế phản ánh những mối quan
hệ kinh tế thương mại giữa các chủ thể kinh tế của các quốc gia với nhau. Chúng tuân thủ
những luật lệ và những thông lệ buôn bán toàn cầu, khu vực và các hiệp định thương mại
ký kết song phương giữa các quốc gia.
Trong hoạt động ngoại thương, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước
ngoài và nhập khẩu là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài.
Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ rất lâu, nhưng ngoại thương chỉ thực sự
phát triển trong thời đại Tư bản chủ nghĩa. Ngày nay toàn cầu hóa kinh tế thế giới và tự
do hóa thương mại là một xu hướng phổ biến, thì sự phát triển ngoại thương hết sức
mạnh mẽ. Ngoại thương không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là sự trao đổi buôn bán với bên
ngoài mà thực chất cùng với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác ngoại thương tham gia
vào phân công lao động quốc tế.

chủ yếu dựa vào sự khác biệt về đối tượng của hoạt động trao đổi trong thương mại. Nếu
thương mại hàng hóa về cơ bản là trao đổi các sản phẩm hữu hình thì Thương mại dịch
vụ là lĩnh vực trao đổi, mua bán các sản phẩm “vô hình” .
Thương mại dịch vụ là lĩnh vực rất rộng và phức tạp. Trong nền kinh tế hiện đại,
thương mại dịch vụ ngày càng phát triển mạnh mẽ. Thương mại dịch vụ tồn tại song song
cùng thương mại hàng hóa và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của
xã hội hiện đại.
Thương mại hàng hóa gồm thương mại hàng tư liệu sản xuất và thương mại hàng
tiêu dùng.
Người ta có thể phân chia thương mại theo từng nhóm hàng. Ví dụ: Thương mại về
hàng công nghiệp, hàng nông sản, thực phẩm, thủy sản,hay theo mặt hàng Ví dụ như: gạo,
cà phê, chè hay sắt thép, máy nông nghiệp
1.1.3.4. Theo kỹ thuật trao đổi, buôn bán
Người ta phân thành thương mại truyền thống và thương mại điện tử.
Sự phân biệt giữa hai khái niệm này dựa trên sự khác biệt về các phương thức mua
bán trong thương mại. Các phương thức mua bán trong thương mại truyền thống được
xẩy ra trong môi trường tự nhiên ở đó người mua, người bán thường tiếp xúc trực tiếp
trên thị trường dưới nhiều hình thức khác nhau.Trong thương mại truyền thống người

9
mua người bán gặp gỡ trực tiếp, tiến hành các giao dịch mua bán ở các chợ, siêu thị,
trung tâm thương mại, hội chợ triển lãm thương mại truyền thống đã có từ rất lâu cùng
với sự ra đời của trao đổi .
Ngược lại, thương mại điện tử là một phương thức trao đổi mua bán bằng phương
pháp điện tử trong môi trường điện tử. Thương mại điện tử chỉ xuất hiện trong xã hội
hiện đại. Hiện nay thương mại điện tử đang phát triển rất nhanh chóng trên toàn thế giới
và đó là xu hướng phát triển tất yếu vừa là yếu tố hợp thành của nền kinh tế số hóa.
Theo định nghĩa phổ biến hiện nay, thương mại điện tử là phương thức hoạt động
thương mại bằng các phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông
qua các phương tiện công nghệ điện tử mà không cần phải in ra giấy trong bất cứ công

Lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối ra đời vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XIX.
Người đề xướng đầu tiên là David Hume (1752) tiếp đến là Adam Smith (1723-1790) và
sau đó được tiếp tục phát triển bởi những người kế tục của ông.
Lợi thế tuyệt đối đề cập tới số lượng của một loại sản phẩm có thể được sản xuất,
khi sử dụng cùng một nguồn lực ở hai nước khác nhau.
Lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất một loại sản phẩm có thể do các lợi thế tự
nhiên hoặc các lợi thế có được do kỹ thuật và sự lành nghề.
Theo lý thuyết lợi thế so sánh tuyệt đối thì các quốc gia nên chuyên môn hóa sản
xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế tuyệt đối sau đó bán những hàng hóa này sang
quốc gia khác để đổi lấy các sản phẩm mà nước ngoài có lợi thế hơn. Bằng việc chuyên
môn hóa sản xuất những sản phẩm có lợi thế tuyệt đối cả hai quốc gia đều có lợi khi quan
hệ thương mại với nhau.
Ví dụ: Nước Mỹ có điều kiện tự nhiên thuận lợi trong việc trồng lúa mì. Ngược lại
nước Anh có nhiều thuận lợi trong sản xuất vải vóc. Khi đó nước Mỹ sẽ chuyên môn hóa
sản xuất lúa mì còn nước Anh sẽ chuyên môn hóa sản xuất vải vóc. Nước Anh sẽ sản
xuất được nhiều vải vóc hơn và nước Mỹ cũng sẽ sản xuất được nhiều lúa mì hơn so với
khi hai nước đó còn ở tình trạng tự túc tự cấp. Nước Mỹ sẽ tiến hành trao đổi một phần
lúa mì để đổi lấy một lượng vải vóc của nước Anh. Người ta cũng chứng minh được rằng
cả 2 nước Mỹ và Anh sẽ cùng được hưởng lợi nhờ quan hệ thương mại với nhau.
1.2.2. Lý thuyết của D. Ricardo hay còn gọi là lý thuyết về lợi thế so sánh
Nhược điểm của lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối của A. Smith là không lý giải
được hoạt động thương mại khi một trong hai nước có lợi thế tuyệt đối sản xuất tất cả các
mặt hàng. David Ricardo đã phát triển và đưa ra một lý thuyết tổng quát hơn về thương
mại so với lý thuyết của A. Smith đó là Lý thuyết lợi thế so sánh. Lý thuyết này được
trình bày trong tác phẩm “những nguyên lý của kinh tế chính trị học 1817”. Theo D.
Ricardo thương mại giữa 2 nước dựa trên lợi thế tương đối.
Lợi thế tương đối hay còn gọi là lợi thế so sánh đề cập tới việc các quốc gia có thể
sản xuất ra khối lượng các mặt hàng giống nhau khi sử dụng các nguồn lực như nhau
nhưng với chi phí khác nhau.
Do sự không đồng đều về lợi thế tuyệt đối, nếu mỗi nước chuyên môn hóa vào sản

= 2 vải. Vậy là nước X có lợi thế về sản xuất thép còn nước Y có lợi thế tương đối trong
sản xuất vải.
Theo lập luận của lý thuyết này thì mỗi quốc gia đều có lợi thế so sánh so với một
quốc gia khác trong việc sản xuất một sản phẩm khi mà chi phí cơ hội để sản xuất sản
phẩm này ở quốc gia này là rẻ hơn so với quốc gia khác. Và theo đó, mỗi quốc gia nên
chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh để đổi
lấy các sản phẩm mà nước khác sản xuất rẻ hơn một cách tương đối. Người ta cũng
chứng minh được rằng trong quan hệ thương mại này cả 2 quốc gia đều cùng có lợi.
1.2.4.Lý thuyết của Heckscher – Ohlin
Hai nhà kinh tế học Thụy Điển Eli Heckscher (1919) và Recto Ohlin (1933) đưa ra
một cách giải thích khác về nguồn gốc của lợi thế so sánh. Theo hai ông, lợi thế so sánh
của một quốc gia xuất phát từ sự khác biệt về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất. Các
yếu tố sản xuất mà lý thuyết này đề cập là: đất đai, lao động và tư bản.

12
Trên cơ sở lý thuyết về lợi thế tương đối, Heckscher và Ohlin đã phân tích ảnh
hưởng của các yếu tố sản xuất tiềm tàng đến thương mại và giải thích các động thái
thương mại xuất phát từ sự khác nhau về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất.
Một quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản
xuất chúng sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nước đó tương đối dư thừa và rẻ, đồng thời
sẽ nhập khẩu những mặt hàng khi sản xuất chúng đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố sản xuất
mà nước đó tương đối khan hiếm và đắt. Cụ thể một quốc gia tương đối dư thừa lao động,
nhưng lại thiếu vốn sẽ sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cần nhiều lao động và nhập
khẩu những mặt hàng cần nhiều vốn. Heckscher và Ohlin cũng cho rằng trong trường hợp
này, quan hệ thương mại làm lợi cho cả 2 quốc gia tham gia vào trao đổi
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu môn học Kinh tế thương mại
2.3.1. Đối tượng, nội dung và kết cấu của môn học kinh tế thương mại
Kinh tế thương mại là môn học kinh tế, môn kinh tế ngành.
Giống như kinh tế chính trị học và kinh tế học là những môn khoa học nghiên cứu
các nguyên lý, các quy luật kinh tế chi phối và vận động nền kinh tế quốc dân. Kinh tế

học phần này là những vấn đề chung và có tính phổ biến cho mọi nước, mọi nền kinh tế.
Học phần này bắt đầu nghiên cứu các khái niệm, phạm trù nhằm chỉ rõ bản chất
kinh tế của thương mại. Tiếp đó là các vấn đề liên quan tới chức năng và các tác động
của thương mại trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Những vấn đề tiếp sau là
những vấn đề cốt lõi nhất của kinh tế thương mại hàng hóa, kinh tế thương mại dịch vụ
và các khía cạnh thương mại có liên quan tới đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ theo cách tiếp
cận của WTO. Từ đó tiếp tục nghiên cứu các vấn đề nguồn lực phát triển thương mại và
hiệu quả thương mại theo cách tiếp cận phát triển bền vững.
Học phần 2: Kinh tế thương mại.
Học phần này chủ yếu nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất và đặc thù của kinh tế
thương mại Việt nam trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Học phần này bắt đầu từ việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển thương
mại Việt nam nhằm tổng kết và rút ra những bài học từ lịch sử. Tiếp đến là nghiên cứu
những nội dung chủ yếu của quá trình chuyển đổi thương mại từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam từ năm
1986. Phần cuối của học phần sẽ nghiên cứu những vấn đề cốt lõi và đặc thù của kinh tế
thương mại Việt nam như: thương mại và thị trường nông thôn, hội nhập thương mại Việt
nam với thế giới và khu vực, kế hoạch hóa thương mại vĩ mô
Khi đề cập đến nội dung của môn học, có thể có rất nhiều những ý kiến khác nhau.
Những nội dung đề cập đến trong giáo trình này trước hết dựa vào chương trình môn học
đã được hội đồng khoa học trường Đại học Thương mại thông qua. Ngoài ra những người
biên soạn cố gắng chú trọng trình bày những vấn đề có tính chất phổ biến, và những vấn
đề đặc trưng nhất, thiết yếu nhất của kinh tế thương mại Việt nam trong giai đoạn hiện
nay.
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu môn học và vị trí của môn học Kinh tế thương mại
Kinh tế thương mại là môn học kinh tế ngành. Là môn khoa học xã hội nên các
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng nghiên cứu kinh tế
thương mại.


các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường.

15
Chương 2: chức năng và Những tác động của thương mại
2.1. Chức năng của thương mại
2.1.1. Chức năng chung của thương mại
Được hình thành trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ phân công
lao động xã hội nên chức năng của thương mại mang tính khách quan.
Thương mại đã từng tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Bản chất
kinh tế xã hội của các hình thái kinh tế xã hội này mặc dù có sự khác nhau nhưng chức
năng chung của thương mại là giống nhau. Con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng
các chức năng của thương mại chứ không thể tùy tiện áp đặt hoặc thay đổi các chức năng
đó.
Trong mọi hình thái kinh tế xã hội còn tồn tại sản xuất và lưu thông hàng hóa chức
năng của thương mại là thực hiện lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ thông qua
mua bán bằng tiền.
Tuy nhiên cũng cần phân biệt chức năng thương mại với các tư cách là khâu của tái
sản xuất, hoạt động kinh tế và ngành kinh tế.
Là hoạt động kinh tế thương mại thực hiện chức năng mua bán hàng hóa và các dịch
vụ bằng tiền.
Là một khâu của tái sản xuất thương mại thực hiện chức năng cầu nối giữa sản xuất

xuất ra đến các thị trường nơi mà con người có nhu cầu phù hợp các đòi hỏi của thị
trường về số lượng, cơ cấu, thời gian và không gian với chi phí thấp nhất.
Nhờ có chức năng này mà thương mại có thể tiếp tục thực hiện chức năng thay đổi
hình thái giá trị, thực hiện giá trị hàng hóa mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Cũng thông
qua chức năng này thương mại giải quyết được những mâu thuẫn vốn có giữa cung, cầu,
sản xuất và tiêu dùng trong điều kiện kinh tế hàng hóa.
Chức năng này của thương mại được thực hiện qua hàng loạt những hoạt động khác
nhau.
Hoạt động vận tải nhằm di chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến thị trường và
những dịch vụ có liên quan đến vận tải như: làm các thủ tục vận tải, giao nhận hàng hóa
Hoạt động giữ gìn, bảo quản hàng hóa. Những hoạt động này nhằm bảo vệ giá trị sử
dụng của hàng hóa về số lượng, chất lượng trong quá trình vận chuyển cũng như lưu kho
phát sinh do sự không ăn khớp giữa sản xuất và đòi hỏi của thị trường về không gian và
thời gian.
Các hoạt động tiếp tục sản xuất trong lĩnh vực lưu thông như: phân loại, chia nhỏ,
đóng gói, bao bì sản phẩm và các hoạt động gia công, chế biến, hoàn thiện sản phẩm
trước khi bán cho người tiêu dùng
Các hoạt động thương mại thực hiện nhóm chức năng này là các hoạt động sản xuất.
Chúng xảy ra trong khâu lưu thông và được thực hiện bởi ngành thương mại. Chúng góp
phần làm tăng giá trị hàng hóa, bảo vệ và làm tăng giá trị sử dụng. Hoạt động thương mại
xét về góc độ này trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập quốc dân.
17
2.1.2.3. Sự phát triển nhận thức về chức năng thương mại hàng hóa trong xã hội hiện
đại
Trong xã hội hiện đại cùng với việc phồn thịnh về kinh tế, nhu cầu của con người
ngày càng gia tăng và đa dạng hơn. Việc thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng và đa
dạng của xã hội làm nảy sinh mâu thuẫn trong phân bổ và sử dụng quĩ thời gian của con

phẩm có những đặc thù so với thương mại hàng hóa.

18
Việc nhận thức đúng và vận dụng đúng các chức năng của thương mại có ý nghĩa to
lớn không chỉ trong tổ chức hoạt động cung ứng dịch vụ ở phạm vi doanh nghiệp mà nó
còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý nhà nước đối với thương mại dịch vụ ở
phạm vi vi mô.
2.2. Cơ sở luận nghien cứu và phân loại các tác động của thương mại
2.2.1. Cơ sở luận nghiên cứu tác động thương mại
Khi nghiên cứu tác động thương mại cần quán triệt các vấn đề lí luận cơ bản sau:
Thứ nhất: Thương mại là một hoạt động kinh tế cơ bản và phổ biến trong nền kinh
tế thị trường.
Là một hoạt động kinh tế cơ bản, thương mại có liên quan mật thiết và ảnh hưởng
đến những hoạt động kinh tế khác như: kinh doanh, đầu tư,
Là hoạt động kinh tế phổ biến vì thế thương mại tác động đến nhiều chủ thể kinh tế
và các quan hệ kinh tế khác nhau trong nền kinh tế thị trường.
Thứ hai: Thương mại là khâu lưu thông trong quá trình tái sản xuất xã hội
Thương mại là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng và có liên hệ mật thiết với khâu
phân phối. Một mặt thương mại chịu sự chi phối của sản xuất và tiêu dùng, mặt khác
thương mại cũng có những tác động đến quy mô, cơ cấu và sự phát triển của sản xuất và
tiêu dùng xã hội.
Thứ ba: Thương mại là một ngành kinh tế rất quan trọng của nền kinh tế.
Theo nghĩa rộng, ngành thương mại không chỉ gồm những doanh nghiệp cung ứng
dịch vụ bán buôn, bán lẻ hàng hóa mà gồm cả những doanh nghiệp cung ứng các dịch vụ
đa dạng trong nhiều ngành dịch vụ vì mục tiêu lợi nhuận. Đó là lĩnh vực rất rộng, bao
gồm nhiều ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Ngành thương mại thông qua hoạt
động mua bán hàng hóa và dịch vụ với mục đích lợi nhuận có liên quan và tác động to
lớn tới nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đa dạng của nền kinh tế.
Thứ tư: Thương mại còn được xem như một hệ thống kinh tế.
Thương mại là một tập hợp các yếu tố có mối liên hệ qua lại thực hiện việc trao đổi

Những tác động vi mô là ảnh hưởng của thương mại trong phạm vi doanh nghiệp,
hộ gia đình.
Những tác động thương mại vĩ mô là những tác động mà ảnh hưởng của nó vượt ra
ngoài khuôn khổ các doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh, những tác động này có thể ở
phạm vi toàn cầu, hoặc một khu vực kinh tế (ASEAN, EU, ), phạm vi quốc gia hoặc địa
phương trong mỗi quốc gia.
Hoạt động kinh doanh ở đơn vị kinh tế ngoài việc xem xét tác động vi mô cần phải
tính đến các tác động vĩ mô mà nó có thể ảnh hưởng. Ngược lại, quản lý nhà nước ở
phạm vi vĩ mô với hoạt động thương mại cần xem xét toàn diện ảnh hưởng của tác động
thương mại ở cả phạm vi vi mô và vĩ mô một cách hài hòa.
2.2.2.3. Dựa theo lĩnh vực tác động
Tác động của thương mại được phân thành các tác động kinh tế, tác động xã hội
(xã hội, chính trị, văn hóa) và tác động môi trường tự nhiên.
Tác động kinh tế bao gồm những ảnh hưởng của thương mại đến tốc độ tăng trưởng
kinh tế , sự thay đổi cơ cấu kinh tế, hoạt động đầu tư, các cân đối kinh tế vi mô trong nền
kinh tế

20
Tác động xã hội bao gồm những ảnh hưởng của thương mại tới sự ổn định chính trị
quốc gia, tới thực hiện đường lối, chính sách của nhà nước, ảnh hưởng tới hệ thống luật
pháp của quốc gia.Ngoài ra nó còn bao gồm cả những tác động thương mại tới yếu tố dân
cư, hôn nhân và tổ chức gia đình, mức sống và trình độ giáo dục, phong tục, tập quán, lối
sống, hệ thống giá trị trong xã hội.
Tác động môi trường tự nhiên bao gồm những ảnh hưởng của thương mại tới môi
trường sống: bảo tồn các yếu tố tự nhiên (khí hậu, nguồn nước, khoáng sản, hệ thực vật,
động vật ), các yếu tố hạ tầng (giao thông vận tải, hệ thống thông tin, truyền thông )
Con người càng ngày càng nhận thức sự cần thiết và quan trọng của sự phát triển
bền vững. Vì vậy nghiên cứu các tác động thương mại cần xem xét toàn diện không chỉ
ảnh hưởng về kinh tế mà cả những khía cạnh tác động thương mại về xã hội, môi trường
cũng ngày càng được chú trọng trong việc hoạch định chiến lược và chính sách thương

huy động các nguồn lực sẵn có của quốc gia cũng như tác động tới việc di chuyển các
yếu tố sản xuất giữa các quốc gia. Nhờ vậy mà góp phần to lớn vào mở rộng quy mô sản
xuất của mỗi quốc gia
Thương mại còn tác động đến tăng khả năng tiêu dùng của một nước và gián tiếp
sản xuất ra các sản phẩm có hiểu quả hơn là tự sản xuất (điều này đã được chứng minh
trong các lý thuyết của A. Smith, D. Recardo và các lý thuyết khác của Heckscher Ohlin).
Thương mại tác động đến chất lượng của tăng trưởng ở phương diện nâng cao hiệu
quả sản xuất. Thứ nhất, nhờ lợi thế về quy mô do các công ty có thể tiếp cận với các thị
trường rộng lớn hơn ở nước ngoài. Thương mại cho phép các công ty tiếp cận được với
các công nghệ hiện đại hóa, do vậy năng suất lao động được cải thiện. Ngoài ra việc mở
cửa thị trường trong nước cho các công ty nước ngoài làm cho cạnh tranh gia tăng trên thị
trường nội địa và nhờ vậy có tác dụng kích thích các công ty trong nước nâng cao hiệu
quả kinh doanh của mình.
Thương mại một mặt trực tiếp làm gia tăng GDP nhờ chính hoạt động của mình,
mặt khác gián tiếp tác động đến việc gia tăng GDP của các ngành khác nhờ ảnh hưởng có
tính chất lan truyền như đã phân tích trong các lí thuyết của kinh tế học hiện đại.
2.3.1.2. Thương mại với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hiểu là cách thức liên kết, phối hợp giữa các phân tử cấu thành
hệ thống kinh tế biểu hiện quan hệ tỷ lệ cả về mặt lượng và chất của các phần tử hợp
thành của hệ thống kinh tế. Cơ cấu kinh tế thường được xem xét trên các phương diện: cơ
cấu lãnh thổ, cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần của nền kinh tế.
Thương mại có thể tác động làm thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng đa
dạng hóa thành phần kinh tế, thay đổi vai trò của các thành phần kinh tế xu hướng biến
đổi có thể không giống nhau trong các nền kinh tế. ở Việt nam sự biến đổi theo xu hướng
xuất hiện nhiều thành phần kinh tế, kinh tế tư nhân, kinh tế vốn đầu tư nước ngoài ngày
càng chiếm tỷ trọng gia tăng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Thương mại có thể tác động làm biến đổi cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế theo xu
hướng làm xuất hiện những vùng kinh tế trọng điểm, các vùng kinh tế đặc biệt có tác
động lớn tới nền kinh tế, làm thay đổi cơ cấu kinh tế thành thị, nông thôn, kích thích phát
triển kinh tế của các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế biên giới

Việc đánh giá tác động của thương mại đối với việc cải thiện cán cân thanh toán của
một quốc gia không giống với các quốc gia khác và ngay cả các thời kỳ khác nhau của
một quốc gia cũng cần phải được đánh giá một cách thận trọng.
2.3.1.4. Những tác động kinh tế khác của thương mại
Ngoài những tác động nói trên, thương mại còn có những tác động kinh tế khác như:
thúc đẩy phân công lao động quốc tế, thúc đẩy quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực.

23
Tác động của thương mại hết sức to lớn tới quá trình phân công lao động không chỉ
ở phạm vi từng quốc gia mà ảnh hưởng tới quá trình phân công lại lao động sâu hơn giữa
các quốc gia trong phạm vi toàn cầu và phạm vi các khu vực của nền kinh tế thế giới.
Thương mại thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Hội nhập kinh tế quốc tế
là quá trình phát triển đan xen của các nền kinh tế trên thế giới, hình thành nên các mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình
khách quan thể hiện mức độ phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ở quy
mô toàn cầu và khu vực. Hội nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng hoàn thiện và góp
phần tích cực vào dàn xếp các quan hệ kinh tế giữa các nước trong từng khu vực và trên
phạm vi toàn cầu.
Hội nhập kinh tế quốc tế bắt đầu từ hội nhập về thương mại, tiếp đó là vốn và cuối
cùng là sản xuất kinh doanh. Điều này nói lên ảnh hưởng quan trọng của thương mại đối
với quá trình này. Thực tiễn của hội nhập kinh tế của tất cả các quốc gia đều khẳng định
tác động to lớn và không thể bỏ qua của sự phát triển và hội nhập về thương mại.
2.3.2. Những tác động xã hội của thương mại
Thuật ngữ “tác động xã hội” ở đây được hiểu là những tác động của thương mại trên
các mặt văn hóa, chính trị, luật pháp và xã hội.
2.3.2.1. Thương mại và các vấn đề văn hóa
Thương mại và văn hóa có mối quan hệ rất mật thiết. Một mặt các yếu tố văn hóa
chi phối các hoạt động thương mại của mọi cá thể, địa phương và từng quốc gia. Tuy
nhiên sự phát triển thương mại cũng có tác động ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa của từng

tới luật pháp. Luật pháp là một khung các nguyên tắc và luật lệ do xã hội quy định để
điều tiết các hành vi và các thành viên của nó trong đó có các hoạt động buôn bán,
thương mại. Các hoạt động kinh tế, hoạt động thương mại không ngừng vận động và phát
triển vì thế luật pháp cũng phải không ngừng phát triển và hoàn thiện như là kết quả của
những thay đổi các chuẩn mực và các giá trị của xã hội.
Tác động của thương mại tới luật pháp có thể nhận thấy rất rõ trong quá trình hội
nhập kinh tế và thương mại quốc tế. Sự phát triển của các mối quan hệ thương mại giữa
các quốc gia, quan hệ thương mại giữa các quốc gia trong từng khu vực kinh tế và ở
phạm vi toàn cầu đang hình thành nên 1 hệ thống đa dạng những định ché, những luật lệ
thương mại mới ở phạm vi toàn cầu, khu vực cũng như đối với các quốc gia để điều
chỉnh những mối quan hệ thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp và không ngừng
biến đổi trong nền kinh tế thị trường của xã hội hiện đại.
Tác động thương mại tới luật pháp cũng thấy rất rõ đối với quốc gia như Việt nam
từ 1986 đến nay khi mà Việt nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế thương mại với thế
giới và khu vực.
2.3.2.3. Thương mại và các vấn đề chính trị
Thương mại và chính trị cũng có mối liên hệ rất chặt chẽ. Đặc trưng nổi bật về
chính trị thể hiện ở định hướng chính trị mà mỗi chế độ chính trị nhằm đạt tới. Sự ổn định
chính trị là điều kiện hết sức quan trọng trong sự phát triển thương mại, nó tạo ra môi
trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh, đảm bảo an toàn về đầu tư, về quyền sở
hữu các tài sản Đó là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy thương mại phát triển.

25
Ngược lại sự thịnh vượng thương mại là yếu tố quan trọng đưa lại sự thịnh vượng
kinh tế cho các quốc gia, các khu vực kinh tế. Do vậy, đây là yếu tố tác động quan trọng
đến sự ổn định chính trị. Vì suy cho đến cùng kinh tế quyết định chính trị.
Hội nhập kinh tế thương mại quốc tế là quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa
nhiều quốc gia với các chế độ chính trị khác nhau. Chính thương mại như một nhân tố
quan trọng tác động liên kết lợi ích của các quốc gia. Nhờ vậy mà mang lại những lợi ích


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status