hoạt động xuất nhập khẩu nông sản giữa việt nam và eu thời kỳ hậu wto thực trạng và giải pháp - Pdf 14

Tr-ờng đại học ngoại th-ơng hà nội
Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành kinh tế đối ngoại
********* o0o ********
khoá luận tốt nghiệp

Đề tài:
Ngành bảo hiểm việt nam gia nhập wto:
thực trạng và giảI pháp

SV thực hiện : Nguyễn Thị Hoài Thu
Lớp : Anh 19
Khóa : K42
GV h-ớng dẫn :tHs. Lê Thái Phong
hà nội, tháng 11 / 2007
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM 5
I. Tổng quan về kinh doanh bảo hiểm 5
1.1. Khái niệm 5
1.2. Nguyên tắc của hoạt động kinh doanh bảo hiểm 5

2.1.2 Ngành bảo hiểm Việt Nam đang bắt đầu hƣớng tới hình thành thị trƣờng
và đang đƣợc phát triển với các yếu tố thị trƣờng. 43
2.1.3 Ngành bảo hiểm đang có vị trí ngày càng quan trọng 46
2.1.4 Ngành đang từng bƣớc hoàn thiện trên con đƣờng hội nhập quốc tế 48
2.2 Những thách thức của ngành bảo hiểm Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
và một số nguyên nhân 49
2.2.1 Quy mô ngành nhỏ bé so với tiềm năng 49
2.2.2 Luật điều chỉnh cho ngành kinh doanh bảo hiểm còn chƣa đƣợc đầy đủ,
có chỗ còn mâu thuẫn và bỏ sót do hệ thống khung pháp luật nói chung còn
chƣa hoàn chỉnh. 54
2.2.3 Thị trƣờng phát triển chƣa cân xứng, mức độ tập trung thị trƣờng cao 56
2.2.4 Khả năng cạnh tranh thấp 58
2.2.5 Nhận thức về tầm quan trọng của bảo hiểm hạn chế 62
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP WTO 64
I. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển hội nhập ngành bảo hiểm 64
1.1 Quan điểm khuyến khích đầu tƣ nƣớc ngoài 64
1.2 Quan điểm tham gia hội nhập quốc tế 64
1.3 Quan điểm về quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong quá trình hội nhập 65
II. Các cam kết trong lĩnh vực bảo hiểm của Việt Nam đối với Tổ chức thƣơng mại
thế giới WTO 66
III. Một số bài học kinh nghiệm cho sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm Việt
Nam 67
3.1 Một số bài học thành công 67
3.2 Một số bài học chƣa thành công. 68
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp IV. Các giải pháp kiến nghị nhằm phát triển thị trƣờng ngành bảo hiểm Việt Nam
trong điều kiện gia nhập WTO. 70

vực theo đƣờng lối chính sách chung của Đảng và Nhà nƣớc với một mục đích
chung duy nhất là đứng vững và lớn mạnh trƣớc bối cảnh hội nhập này.
Do điều kiện kinh tế nƣớc ta có xuất phát điểm thấp, lại vẫn còn đang trong quá
trình chuyển đổi nên sự phát triển của thị trƣờng tài chính nói chung còn nhiều hạn
chế. Thị trƣờng tài chính Việt Nam hiện nay vừa nhỏ bé về quy mô vốn, lạc hậu về
hạ tầng cơ sở và khoa học công nghệ, vừa nghèo nàn về phƣơng thức và công cụ
giao dịch. Về tổng thể vẫn là một thị trƣờng non trẻ và phát triển ở trình độ thấp so
với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Ngành bảo hiểm Việt Nam là một bộ
phận tƣơng đối quan trọng trong thị trƣờng tài chính cũng không nằm ngoài những
nhận xét đó.
Phát triển ngành tài chính nói chung, ngành bảo hiểm nói riêng là một đòi hỏi của
thực tế khách quan trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên muốn hội
nhập thành công hay nói cách khác để cho hội nhập trở thành động lực thúc đẩy sự
phát triển tích cực của ngành bảo hiểm Việt Nam, bản thân ngành cũng phải đạt đến
một trình độ phát triển hợp lý để đủ mạnh tiếp thu những thay đổi tích cực và đối
phó kịp thời với những biến động của các nhân tố bên ngoài.
Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nhƣ thế
nào và cần phải có các giải pháp gì để phát triển ngành này trong điều kiện Việt
Nam đang trên đƣờng hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới? Đó là
lý do để "Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải pháp" đƣợc
chọn để làm để tài của khoá luận tốt nghiệp này.
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp 2
1. Tình hình nghiên cứu của đề tài ở trong và ngoài nƣớc
Ở nƣớc ngoài: Thị trƣờng tài chính nói chung, thị trƣờng bảo hiểm nói riêng là
một trong các vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu tại các quốc gia. Sự mở rộng thông tin
cùng với sự gia tăng của nhu cầu bảo hiểm cho các tất cả mọi hoạt động kinh tế xã
hội khiến cho ngành kinh doanh bảo hiểm đƣợc quan tâm sâu rộng. Tuy nhiên theo sự

Vì vậy có thể nói đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này,
đặc biệt trong chuyên ngành Kinh tế và kinh doanh quốc tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về
ngành kinh doanh bảo hiểm và đánh giá thực trạng phát triển, mức độ hội nhập quốc
tế hiện nay của ngành bảo hiểm Việt Nam, luận văn đề xuất các giải pháp để phát
triển ngành bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới đáp ứng các yêu cầu của việc hội
nhập ngành trong WTO.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trƣờng bảo hiểm và tác động
của mở cửa thị trƣờng tài chính đối với bảo hiểm và qua đó tới nền kinh tế
- Khảo sát các khía cạnh của lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam và đánh giá cơ hội
và thách thức trong điều kiện hội nhập.
- Trên cơ sở các khảo sát trên thiết lập các luận cứ lý luận và thực tế cho những
đề xuất.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khoá luận chỉ nghiên cứu lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
(hay còn gọi là Bảo hiểm thƣơng mại). Đề tài không nghiên cứu các loại hình bảo
hiểm mang tính chất cộng đồng, nhân đạo (BHXH, BHYT, BHTN)
Phạm vi nghiên cứu: Khoá luận nghiên cứu thực trạng ngành bảo hiểm Việt
Nam (bao gồm bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ) trong khoảng thời gian
từ năm 1993 đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp tài liệu
- Phƣơng pháp duy vật biện chứng
- Phƣơng pháp tiếp cận lịch sử- logic
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp tài liệu
- Phƣơng pháp đối chiếu-so sánh
- Phƣơng pháp thống kê
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp

5
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH
BẢO HIỂM
I. Tổng quan về kinh doanh bảo hiểm
1.1. Khái niệm
Có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm dựa trên những góc độ nghiên
cứu khác nhau. Có thể nêu một ví dụ: “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện ngƣời bảo
hiểm cam kết bồi thƣờng cho ngƣời tham gia bảo hiểm trong trƣờng hợp xảy ra rủi
ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện ngƣời tham gia nộp một khoản phí cho
chính anh ta hoặc cho ngƣời thứ ba”. Tuy nhiên, dù định nghĩa thế nào thì ngƣời ta
đều cho rằng, bản chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm quốc
dân giữa những ngƣời tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính khi rủi ro
bất ngờ xảy ra gây tổn thất cho ngƣời thứ ba; dựa trên nguyên tắc “số đông bù số ít”
nhằm ổn định cuộc sống, khôi phục kinh tế và liên kết, gắn bó các thành viên trong
xã hội.
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam: Kinh doanh bảo hiểm đƣợc
định nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo
đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm, trên cơ sở
bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm
cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm.
1.2. Nguyên tắc của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Cũng giống nhƣ bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài mục tiêu bảo
đảm, chia sẻ rủi ro thì lợi nhuận cũng là mục tiêu của hoạt động kinh doanh bảo
hiểm. Để đạt đƣợc mục tiêu này, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cần phải tuân thủ
năm nguyên tắc sau:
 Nguyên tắc số đông bù số ít
Đây là nguyên tắc xuyên suốt, không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động
kinh doanh bảo hiểm nào, theo đó hậu quả của rủi ro xảy ra đối với một hoặc một số
ít ngƣời sẽ đƣợc bù đắp bằng số tiền huy động đƣợc từ rất nhiều ngƣời có khả năng

bảo hiểm đó cho một công ty tái bảo hiểm hoặc phòng tái bảo hiểm của các công ty
bảo hiểm khác gọi là nhƣợng tái bảo hiểm.
 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp 7
Nguyên tắc này đƣợc xác định với cả hai bên trong hợp đồng bảo hiểm: công
ty bảo hiểm và ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Đối với công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm phải cân nhắc các điều kiện,
điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo hiểm hợp lý, đảm bảo chất lƣợng sản phẩm
bảo hiểm, mức phí bảo hiểm và quyền lợi của ngƣời đƣợc hƣởng bảo hiểm. Do sản
phẩm bảo hiểm là một sản phẩm dịch vụ, khách hàng không thể đánh giá ngay từ
lúc mua mà phải thông qua quá trình thực hiện hợp đồng đến khi xảy ra sự kiện.
Trong thời gian đó, sản phẩm bảo hiểm chỉ là một lời hứa sẽ thực hiện, thế nên việc
thực hiện theo nguyên tắc này rất quan trọng đối với khách hàng.
Đối với khách hàng: nguyên tắc này đòi hỏi khách hàng phải khai báo đầy đủ
trung thực các rủi ro tham gia bảo hiểm để công ty bảo hiểm xác định đƣợc một
mức phí hợp lý. Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo cho hoạt động chi trả bồi
thƣờng cho khách hàng từ phía công ty bảo hiểm.
 Nguyên tắc quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm
Nguyên tắc này yêu cầu ngƣời tham gia bảo hiểm phải có lợi ích tài chính bị
tổn thất nếu đối tƣợng bảo hiểm gặp rủi ro. Nói cách khác, ngƣời tham gia bảo hiểm
phải có một số quan hệ với đối tƣợng đƣợc bảo hiểm và đƣợc pháp luật công nhận.
Mối quan hệ này thể hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền tài sản, quyền
sử dụng, quyền và nghĩa vụ nuôi dƣỡng, cấp dƣỡng đối với ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Nguyên tắc về quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm nhằm loại bỏ khả năng bảo hiểm cho
tài sản của ngƣời khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn
bảo hiểm.
1.3 Phân loại bảo hiểm

Bảo hiểm giúp ổn định tài chính của các hộ gia đình và các doanh nghiệp. Một
rủi ro có thể trở nên quá lớn đối với một cá nhân hoặc một doanh nghiệp, có thể dẫn
đến khánh kiệt hoặc phá sản, kéo theo hàng loạt những đổ vỡ có thể có đối với nền
kinh tế nhƣ thất nghiệp hàng loạt, ảnh hƣởng xấu đến các doanh nghiệp cùng kinh
doanh, giảm nguồn thu thuế của Nhà nƣớc. Rủi ro này có thể đến với tất cả mọi cá
nhân hoặc doanh nghiệp. Khi chuyển nó cho nhà bảo hiểm thông qua cơ chế chia sẻ
rủi ro, gánh nặng ấy đƣợc chia sẻ. Sự ổn định kinh tế đƣợc mang lại thông qua hoạt
động bảo hiểm sẽ khuyến khích các cá nhân hay doanh nghiệp tiến hành chuyên
môn hóa, tạo nên của cải vật chất và sẽ chỉ phải dự trù cho những khoản phải trả đã
nằm trong kế hoạch của họ.
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp 9
Khía cạnh thứ hai của bảo hiểm đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất
nước chính là việc giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Bảo hiểm, nhất là
bảo hiểm nhân thọ có thể thay thế cho các chƣơng trình an sinh của Chính phủ. Các
sản phẩm bảo hiểm thay thế lƣơng hƣu, trợ cấp cho giáo dục, y tế có thể giúp Chính
phủ không những góp phần ổn định đời sống kinh tế xã hội mà còn giúp giảm ngân
sách chính phủ đáng kể, giảm áp lực lên các hệ thống phúc lợi xã hội và do đó tạo
cơ hội cho các đầu tƣ khác thiết thực hơn cho sự phát triển kinh tế. Vai trò thay thế
này trở nên càng quan trọng trong điều kiện những thách thức tài chính ngày càng
lớn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Khía cạnh thứ ba, bảo hiểm có thể giúp tập trung tiết kiệm, từ đó tạo ra tốc
độ tăng trưởng cao hơn. Các công ty bảo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong
việc thu hút tiết kiệm cá nhân vào đầu tƣ cho nền kinh tế theo ba cách
Thứ nhất là, thông qua các công ty bảo hiểm chi phí giao dịch trong tất cả
các hoạt động phục vụ cho tiết kiệm và đầu tƣ đều đƣợc giảm đáng kể. Các công ty
bảo hiểm tập hợp đƣợc hàng ngàn cá nhân theo cách này tạo nên một khoản đầu tƣ
khổng lồ vào các hoạt động sinh lợi. Hoạt động tìm kiếm thông tin đầu tƣ đƣợc các

Bằng cách đánh giá khả năng tổn thất, các công ty bảo hiểm buộc các đối tƣợng
đƣợc bảo hiểm phải tự lƣợng hóa đƣợc các hoạt động gây rủi ro và giảm cũng nhƣ
quản lý đƣợc rủi ro đó một cách hợp lý. Thông qua các chƣơng trình, hoạt động
kiểm soát rủi ro của mình, các công ty bảo hiểm còn mang lại nhiều phúc lợi cho xã
hội nhƣ hoạt động phòng cháy, phòng ngừa thiệt hại, các hoạt động về an toàn và
sức khỏe nghề nghiệp.
Thứ năm, bảo hiểm đóng góp vào nâng cao hiệu quả của nền kinh tế
thông qua việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn. Các công ty bảo hiểm
thu thập vô số thông tin để đánh giá trong quá trình quyết định có thực hiện bảo
hiểm không. Các công ty bảo hiểm sẽ chọn bảo hiểm và tài trợ cho những doanh
nghiệp, dự án và những nhà quản trị nào hiệu quả nhất. Họ phải duy trì mối quan
tâm thƣờng xuyên đến các dự án và giám sát các hoạt động kinh doanh và khuyến
khích những hoạt động hiệu quả. Do đó các công ty bảo hiểm chính là nguồn cung
cấp thông tin về sự chấp thuận của thị trƣờng đối với các hoạt động tốt, và nhờ đó
họ tạo ra đƣợc sự phân bổ tài chính hiệu quả hơn của các nguồn tài chính.
Không chỉ thể hiện ở năng lực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của bảo
hiểm nói chung, vai trò của bảo hiểm đối với các nền kinh tế trong thời kỳ mở cửa
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp 11
hội nhập còn được thể hiện ở vai trò của các công ty bảo hiểm nước ngoài trong
việc khuyến khích phát triển nền kinh tế tại thị trường nội địa.
Việc xuất hiện các hãng bảo hiểm nƣớc ngoài tại thị trƣờng nội địa trƣớc hết
sẽ tạo ra một làn sóng cạnh tranh giúp cải thiện chất lƣợng dịch vụ, đa dạng hóa thị
trƣờng bảo hiểm, nâng cao sự quan tâm của ngƣời dân và các tổ chức kinh tế trong
nƣớc dẫn đến sự gia tăng tiết kiệm nội địa, gia tăng đầu tƣ nội địa và cải thiện nền
kinh tế. Thị trƣờng bảo hiểm nằm trong sự phát triển chung của thị trƣờng tài chính,
trong đó có ngành ngân hàng và chứng khoán. Sự phát triển của cái này nhất định sẽ
có tác dụng tốt, thúc đẩy kéo theo sự phát triển của các cái kia và ngƣợc lại.

diện với nhiều rủi ro hơn. Một lý giải nữa cho sự khuyến khích phát triển ngành bảo
hiểm trong những nền kinh tế phát triển là do xuất hiện nhiều các định chế tài chính
với thị trƣờng tài chính phát triển tạo nên nhiều cơ hội kinh doanh kiếm lời cho các
doanh nghiệp bảo hiểm khiến nó trở thành một ngành kinh doanh kiếm lời thay vì
chỉ là những công cụ để chia sẻ rủi ro nhƣ trƣớc đây.
Khía cạnh thứ hai là tỷ lệ tiết kiệm trong nền kinh tế. Bảo hiểm nhân thọ
đóng một vai trò quan trọng trong tiết kiệm của các hộ gia đình. Nhu cầu về bảo
hiểm nhân thọ rất lớn ở các nƣớc có tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập
cao. Tại một số nƣớc đang phát triển hoặc mới phát triển, tham gia bảo hiểm đối với
ngƣời dân đồng nghĩa với tiết kiệm một khoản tiền cho tƣơng lai. Tỷ lệ tiết kiệm
cao sẽ dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trƣờng bảo hiểm với các hợp đồng dài
hạn, và do đó kích thích sự phát triển của cả ngành bảo hiểm
Yếu tố kinh tế nhƣ lạm phát và chiều sâu thị trƣờng cũng có ảnh hƣởng đến
sự thâm nhập của ngành bảo hiểm. Sự gia tăng lạm phát thƣờng đi đôi với sự gia
tăng các yếu tố bất định khác. Trong thời gian có lạm phát cao nền kinh tế không ổn
định, ngƣời dân thƣờng có xu hƣớng tìm kiếm những khoản đầu tƣ ngắn hạn và có
tính thanh khoản cao. Bảo hiểm nhân thọ đƣợc xem nhƣ là một khoản chi cố định
và dài hạn, thế nên lạm phát cao thƣờng đi đôi với sự giảm sút trong nhu cầu bảo
hiểm nhân thọ.
Chiều sâu thị trƣờng cũng có thể ảnh hƣởng đến nhu cầu bảo hiểm. Mỗi
chiều sâu và đặc thù của thị trƣờng có thể có những ảnh hƣởng khác nhau lên thị
trƣờng bảo hiểm. Nhƣ phân tích ở trên, tại các quốc gia có thị trƣờng tài chính phát
triển và số lƣợng phong phú các định chế tài chính thì sẽ tạo nhiều điều kiện tốt cho
sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm. Tuy nhiên, trong những thị trƣờng nhƣ Hàn
Quốc, nơi mà có cả xu hƣớng tiết kiệm cao và một số lƣợng hạn chế các phƣơng
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp 13
tiện tiết kiệm khác thì sự xâm nhập của bảo hiểm nhân thọ có thể cao đến mức đáng
14
thay vào đó là nhu cầu cho các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tạo ra tiềm năng to lớn
của nhu cầu cho thị trƣờng bảo hiểm nhân thọ tại các nƣớc đang phát triển trong đó
có Việt Nam.
Yếu tố cuối cùng có ảnh hƣởng đến sự phát triển của ngành bảo hiểm là mức
độ chuyên môn hóa trong đời sống sản xuất. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp
hóa dẫn đến sự chuyên môn hóa trong lực lƣợng lao động. Khi đô thị hóa và công
nghiệp hóa xảy ra trong mọi ngành nghề sẽ dẫn đến sự phân hóa sản xuất trong mọi
tầng lớp xã hội. Sự chuyên môn hóa sẽ làm gia tăng tính dễ bị tổn thƣơng trong dân
cƣ do hậu quả của việc phải thay đổi sở thích thị hiếu, thay đổi công nghệ kỹ thuật
và thay đổi các môi trƣờng kinh tế tác động đến môi trƣờng sống. Điều này làm gia
tăng sự lo sợ xảy ra những hậu quả tiêu cực của khả năng bị mất thu nhập, mất sức
khỏe và tài sản trong môi trƣờng thay đổi dẫn đến sự gia tăng nhu cầu đƣợc bảo
hiểm.
1.5.3 Các nhân tố chính trị
Chính trị luôn mang một tầm ảnh hƣởng trên cả cả hai bình diện: bao quát và
cụ thể đối với từng ngành nghề kinh tế. Nhóm các nhân tố chính trị này có thể ảnh
hƣởng đến sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm theo bốn khía cạnh: những tác
động của hệ thống thuế, quan điểm của chính phủ có liên quan hoặc không liên
quan đến mục tiêu chính trị, sự ổn định chính trị, các hoạt động kinh doanh của
chính phủ và tất cả những tồn tại của hệ thống luật trong các nƣớc.
Chính phủ có thể tác động vào sự tăng trƣởng của ngành bảo hiểm thông qua
các chính sách thuế. Sự phát triển của các định chế tài chính phi ngân hàng trong đó
có ngành bảo hiểm phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thuế. Vai trò của sự nhƣợng
bộ về thuế và những sự khuyến khích khác nhƣ một phƣơng tiện để thúc đẩy sự
phát triển các định chế tài chính đƣợc chứng minh là rất quan trọng qua nhiều
trƣờng hợp tại các nƣớc. Tại các nƣớc nhƣ Hàn Quốc và Nam Mỹ với các chính
sách nhƣợng bộ thuế đáng kể đối với bảo hiểm nhân thọ đã tạo điều kiện thuận lợi

Các chính phủ cũng có thể có sự ảnh hƣởng không trực tiếp đến sự tăng
trƣởng của ngành công nghiệp bảo hiểm thông qua sự cung cấp của họ các nguồn
khác của các khoản tiết kiệm dài hạn. Dòng lƣơng hƣu hào phóng có thể là sự
không khuyến khích đối với sự tăng trƣởng của các hợp đồng tiết kiệm dài hạn
trong bảo hiểm nhân thọ. Ngƣợc lại, vẫn có một vấn đề tranh cãi về một trong
những lý do mà ngành công nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Đức phát triển mạnh mẽ
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp 16
là do sự nhận thức rộng rãi rằng dòng lƣơng hƣu công sẽ không thể thỏa mãn đƣợc
những hứa hẹn của nó.
Cuối cùng, hệ thống luật lệ quản lý các định chế có thể là nhân tố tiêu cực,
hoặc tích cực ảnh hƣởng đến sự phát triển của bảo hiểm. Nếu các quy định quản lý
minh bạch, rõ ràng, đầy đủ và có hiệu lực, đó sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy sự
tham gia thị trƣờng của các định chế, còn ngƣợc lại hệ thống luật chƣa hoàn chỉnh
sẽ là một trở ngại đáng kể cho sự thâm nhập thị trƣờng của tất cả các ngành trong
đó có ngành kinh doanh bảo hiểm.
1.5.4 Các nhân tố xã hội
Các nhân tố xã hội tác động đến sự phát triển của ngành bảo hiểm thông qua
2 yếu tố: các yếu tố văn hóa và các tiêu chuẩn xã hội.
Các yếu tố văn hóa có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định
mức độ thâm nhập của bảo hiểm vào thị trƣờng. Tại rất nhiều nƣớc, đặc biệt là
Châu Á, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đƣợc mua với mục đích đầu tiên nhƣ một
cách tiết kiệm. Vì vậy những nƣớc với xu hƣớng tiết kiệm cao thƣờng có sự xâm
nhập của bảo hiểm vào thị trƣờng cao hơn.
Trong một vài nền văn hóa, các tiêu chuẩn xã hội cũng có ảnh hƣởng đến sự
xâm nhập của bảo hiểm. Tại Hàn Quốc sẽ bị coi là bất lịch sự khi từ chối một lời
mời từ những ngƣời bạn thân hoặc họ hàng. Bảo hiểm lại thƣờng đƣợc bán chủ yếu
qua phƣơng thức vận động (từ ngƣời này đến ngƣời kia, qua các mối quan hệ quen

các nƣớc thành viên WTO.
Tự do hoá thƣơng mại dịch vụ tài chính (và việc chuẩn bị bản chào để ràng
buộc theo GATS) đang triển khai thậm chí sau khi kết thúc đàm phán, mặc dù
khủng hoảng kinh tế và tài chính đang diễn ra. Nhiều nƣớc đã thực hiện các biện
pháp nhằm tự do hoá việc thành lập các công ty con thuộc các ngân hàng nƣớc
ngoài và các tổ chức tài chính nhƣ là một phần của chƣơng trình cải cách kinh tế tài
chính.
Trong cam kết của các nƣớc đối với WTO tại lĩnh vực tài chính, có thể dễ
dàng nhận thấy một điều là có khá nhiều quy định thận trọng và quy định trong
nƣớc khác với các hạn chế thƣơng mại
Về vấn đề hạn chế tiếp cận thị trƣờng đƣợc các thành viên WTO áp dụng đối
với hiện diện thƣơng mại của nhà cung cấp dịch vụ tài chính, các hạn chế đối với
các loại hình tổ chức pháp lý cụ thể hoặc các liên doanh và các hạn chế về việc
tham gia của vốn nƣớc ngoài ở các tổ chức tài chính địa phƣơng là phổ biến.
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp 18
Hình thức khác về hạn chế tiếp cận thị trƣờng bao gồm việc hạn chế đối với
số lƣợng giấy phép đƣợc cấp hoặc là dƣới hình thức số lƣợng hạn ngạch. Một số
nƣớc áp dụng lệnh ngừng hoạt động hoặc đóng băng đối với giấy phép mới về hoạt
động ngân hàng.
Liên quan đến đối xử quốc gia, yêu cầu cho phép đặc biệt đối với các tổ chức
nƣớc ngoài, hạn chế đối với sở hữu đất đai, đòi hỏi về quốc tịch và vấn đề cƣ trú đối
với các thành viên của ban giám đốc là rất phổ biến. Thuế và trợ cấp cũng gây ra sự
quan tâm về đối xử quốc gia, thuế thƣờng là nhân tố xác định đối với quyết định về
vị trí các giao dịch tài chính và có thể sửa đổi các điều kiện cạnh tranh giữa các nhà
cung cấp dịch vụ tài chính. Trợ cấp thƣờng không phải là hiếm nhƣng thƣờng dƣới
dạng các khoản cho vay ƣu đãi từ ngân hàng trung ƣơng hoặc các tổ chức chính phủ
rất khó xác định.

mô lớn buộc mỗi doanh nghiệp phải tự cố gắng nhiều hơn trong cuộc đua giành thị
phần và do đó sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho các khách hàng sử dụng dịch vụ.
Bốn là, đối với một số dịch vụ mới trong thị trƣờng dịch vụ tài chính nhƣ
dịch vụ bảo hiểm, việc tự do hóa thị trƣờng mang lại cơ hội quảng bá thông tin đến
đông đảo ngƣời tiêu dùng. Ngoài lợi ích mở rộng thị phần cho các doanh nghiệp
dịch vụ, còn lợi ích chung đối với xã hội, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của
ngành, từ đó nâng cao việc sử dụng dịch vụ và làm thay đổi tích cực chất lƣợng
cuộc sống.
Năm là, việc phải tham gia một sân chơi chung cũng làm hoàn thiện hệ thống
luật quản lý thị trƣờng tại quốc gia sở tại. Những luật lệ trƣớc kia theo chủ quan của
hệ thống nhiều hơn nay phải tìm cách phù hợp với thông lệ của thế giới. Điều này
có nghĩa là phải hiệu quả hơn, minh bạch hơn và thông thoáng hơn.
2.2.2 Những tác động tiêu cực
Tác động tiêu cực đầu tiên nảy sinh từ cạnh tranh. Một vấn đề luôn luôn có
hai mặt. Cạnh tranh thúc đẩy phát triển song cũng loại bỏ kẻ yếu. Trong cuộc đua
giành thị phần, các công ty trong nƣớc chắc chắn sẽ kém các công ty nhiều kinh
nghiệm quốc tế tại nhiều lĩnh vực nhƣ: quy mô vốn, kỹ năng kỹ thuật chuyên môn,
chiến lƣợc lâu dài mang tầm cỡ toàn cầu,và kẻ yếu sẽ bị loại bỏ không thƣơng tiếc.
Thị trƣờng toàn cầu là một cuộc chơi không dễ dàng và rất khó để làm lại vì một khi
bị loại bỏ có nghĩa là đã cách rất xa so với thị trƣờng, nơi mà tốc độ phát triển
nhanh một cách chóng mặt.
Ngành bảo hiểm Việt Nam gia nhập WTO: thực trạng và giải phỏp 20
Hai là, việc tự do hóa thị trƣờng mang lại nhiều cơ hội việc làm cho quốc
gia, nhƣng cũng lại là con dao hai lƣỡi. Các công ty quốc tế với chế độ làm việc và
đào tạo chuyên nghiệp, môi trƣờng làm việc năng động và hiệu quả chắc chắn sẽ là
đích ngắm đến của nhiều lực lƣợng lao động trình độ cao trong nƣớc. Và nhƣ vậy,
vấn đề chảy máu chất xám sẽ là điều khó tránh khỏi.

biết cần thiết về lĩnh vực này. Hơn nữa, thị trƣờng tài chính chƣa phát triển làm hạn
chế các công cụ đầu tƣ cho thị trƣờng bảo hiểm cộng với việc tại Trung Quốc đã có
cả một thời kỳ mà toàn bộ ngành bảo hiểm nƣớc này đều nằm trong tay các nhà bảo
hiểm nƣớc ngoài, do đó các nhà đầu tƣ tiềm năng vào thị trƣờng bảo hiểm Trung
Quốc đều đƣợc kiến nghị thực hiện các bƣớc tiếp cận thị trƣờng thận trọng trƣớc
khi thực sự triển khai hoạt động kinh doanh. Các nhà hoạch định chính sách tin rằng
các mối quan hệ lâu bền với chính quyền địa phƣơng và khách hàng sẽ có một ý
nghĩa quan trọng cho sự thành công của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại
thị trƣờng này.
Khi đàm phán gia nhập, WTO đã yêu cầu Trung Quốc tiến hành mở cửa
mạnh mẽ đối với lĩnh vực bảo hiểm, mà tại thời điểm đó đang bị chi phối bởi các
công ty bảo hiểm quốc doanh. Trung Quốc đã ký kết các cam kết hợp lý để vừa bảo
vệ đƣợc các doanh nghiệp bảo hiểm trong nƣớc vừa thu hút đƣợc các doanh nghiệp
nƣớc ngoài vào thị trƣờng này. Những cam kết đó có thể tóm tắt nhƣ sau:
Về hình thức kinh doanh: Ngay sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nƣớc ngoài sẽ đƣợc phép thành lập các chi nhánh hoặc liên doanh
ở Trung Quốc. Các công ty nƣớc ngoài đƣợc phép nắm giữ không quá 51% cổ phần
ở các liên doanh. Sau hai năm hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài sẽ
đƣợc thành lập các chi nhánh 100% vốn của mình tại Trung Quốc. Các nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài cũng đƣợc chọn đối tác liên doanh độc lập. Sau năm năm gia nhập
WTO các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nƣớc ngoài sẽ đƣợc phép thiết lập các
công ty con độc lập khác. Với việc bãi bỏ dần các hạn chế về địa lý, các công ty bảo
hiểm nƣớc ngoài sau khi đã đƣợc cấp giấy phép sẽ đƣợc phép thành lập các chi
nhánh của mình tại Trung Quốc.
Các giới hạn về địa lý: ngay sau khi gia nhập WTO, các công ty bảo hiểm
nƣớc ngoài sẽ đƣợc phép cung cấp các dịch vụ tại Thƣợng Hải, Quảng Châu, Đại
Liên, Thẩm Quyến và Phật Sơn. Hai năm sau khi gia nhập, hoạt động của các doanh
nghiệp này sẽ đƣợc phép tại Bắc Kinh, Vũ Hán, Giang Tô, Trùng Khánh, Phúc kiến,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status