thực trạng và giải pháp về án lệ trọng tài và tranh chấp từ hợp đồng xuất nhập khẩu - Pdf 14

Lời nói đầu
Khi chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế mở rộng và phát triển quan
hệ kinh tế thơng mại với nớc ngoài cảu Đảng và Nhà nớc ta thì các doanh nghiệp
Việt Nam đã tham gia một cách tích cực bằng cách mở rộng thị trờng xuất nhập
khẩu, đã đóng góp có hiệu quả trong việc đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nớc. Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, nhiều daonh
nghiệp Việt Nam đã cố gắng thực hiện đúng hợp đồng với thơng nhân nớc ngoài,
đồng thời yêu cầu thơng nhân nớc ngoài thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng để đảm
bảo lợi ích cho cả đôi bên. Nhng trong thực tế, ký kết và thực hiện hoạt động ký kết
cũng phát sinh những tranh chấp và cần phải giải quyết tranh chấp đó.
Để tìm hiểu thêm thực tiễn xét xử các tranh chấp giũa các doanh nghiệp Việt
Nam em đã chọn đề tài: Thực trạng và giải pháp về án lệ trọng tài và tranh chấp
từ hợp đồng xuất nhập khẩu. Em xin chân thành cảm ơn thầy Tuấn đã hớng dẫn
cho em hoàn thành đề tài này.
Nội dung
1. Khái quát về án lệ trọng tài.
Trên thị trờng thế giới, hàng hoá đợc sản xuất ở nớc này và bán cho nớc khác.
Từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, hàng phải vận tải đờng dài bằng các loại phơng
1
tiện qua biên giới các nớc phải làm thủ tục thông quan. Việc thanh toán tiền phải
qua Ngân hàng của các nớc. Hàng đi đờng dài và trong thời gian dài có thể bị rủi
ro, h hỏng, mất mát. Ai phải gánh chịu chi phí đó? Ngời mua và ngời bán phải giao
dịch, đàm phán và thoả thuận với nhau về nghĩa vụ cảu từng bên, trong đó phải
quan tâm trứoc hết dến các vấn đề quan trọng nh :
- Giao hàng ở địa điểm nào và theo phơng thức nào?
- Vào thời điểm nào và ở đâu rủi ro về hàng hoá chuyển từ ngời bán sang ngời
mua?
- Vào thời điểm nào và ai phải chịu chi phí về vận chuyển, bốc xếp hàng và
các chi phí liên quan đến bảo hiểm, làm thủ tục xuất nhập khẩu.
Xa kia, khi cha có quy tắc về mau bán hàng ngày nh ngày nay, các bên mua và
bán phải mất nhiều công sức và thời gian để đàm phán và thoả thuận với nhau một

đơn hoàn hảo có số lợng 105 NT. Ngày 25-04-1994 hàng đến cảng Vladivostok,
ngời mua đỗ 7 container lạc xuống cầu cảng. Ngời mua mời công ty giám định đến
giám định 2 container tại cảng Vladivostok. Ngày 26-05-1994 công ty giám định
cấp biên bản giám định phẩm chất 2 container lạc đã kết luận là lạc kém phẩm
chất, độ ẩm 13%, lạc mốc, mọc mầm.
Năm container còn lại ngời mua chở đến Rostopnadonu. Ngày 16-06-1994 ngời
mua mời công ty giám định ở Rostopnadonu đến giám định lô lạc đã kết luận lạc
kếm phẩm chất theo hợp đồng. Ngày 28-06-1994 ngời mua lạc nội địa đã huỷ toàn
bộ lô lạc và lập biên bản huỷ khi ngời nhập khẩu giao 7 container lạc cho ngời mua
nội định. Ngời mua Nga đã khiếu nại ngời bán Việt Nam đòi giao thay thế hàng
đúng phẩm chất hoặc trả lại tiền hàng. Ngời bán bác khiếu nại, sau nhiều lần khiếu
nại không đợc, ngời mua đòi ngời bán hoàn trả tiền hàng. Nhng hợp đồng đã quy
định giấy chứng nhận phẩm chất do Vinacontrol cấp có tác dụng cuối cùng nên bị
đơn không chịu trách nhiệm. Qua sự việc đó trọng tài đã phân tích nh sau: Ngời
mua hàng và ngời bán hàng đã cùng thoả thuận với quyết định trong hợp đồng và đ-
ợc Vinacontrol cấp giấy chứng nhận phẩm chất. Điều đó chứng tỏ ngời mua bị ràng
buộc bởi giấy này. Tuy nhiên ngời mua không bị ràng buộc một cách tuyệt đối bởi
vì nếu Vinacontrol điều hành kiểm tra không đúng phơng pháp tiêu chuẩn quy
định, ngời mua đợc quyền bác bỏ. Trong trờng hợp này, ngời nhập khẩu Nga không
yêucầu ngời xuất khẩu Việt Nam giám định lô lạc, cũng không yêu cầu ngời xuất
khẩu Việt Nam dùng chỉ định quốc tế làm giám định lô lạc, do đó ngời nhập khẩu
không thể bác bỏ.
2.2 Vụ kiện về việc giao hàng không đúng tiêu chuẩn xuất khẩu:
Nguyên đơn là một công ty Ba lan, bị đơn là một doanh nghiệp Việt nam.
Các vấn đề đợc cần giải quyết:
- Luật áp dụng cho hợp đồng.
- Giá trị hiệu lực của giấy chứng nhận phẩm chất và biên bản giám định phẩm
chất.
- Những thiệt hại phải bồi thờng.
3

3. Nguyên nhân về vụ kiện do ng ời nhập khẩu vi phạm hợp đồng.
3.1 Vụ kiện về nhập khẩu trả thiếu tiền hàng.
Nguyên đơn là một công ty Nga, bị đơn là một doanh nghiệp Việt Nam ( ngời
nhập khẩu).
Các vấn đề cần đợc giải quyết :
4
- Nghĩa vụ trả tiền đã đợc chuyển cho ngờ khác hay cha.
- Số tiền hàng còn nợ.
Giữa nguyên đơn và bị đơn đã đăng ký hai hợp đồng mua bán ngày 14-11-1993
và ngày 18-11-1993, theo đó, nguyên đơn bán cho bị đơn 11.650MT sắt xây dựng
theo điều kiện CIF cảng Việt Nam, tổng trị giá là 3.030.800 USD, thanh toán ngay
90% trị giá hàng khi hàng đến cảng đến, còn 10% thanh toán sau khi nhận hàng
xong và có chứng th giám định của Vinacontrol. Thời gian giao hàng là tháng 11 và
12 năm 1993.
Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã thuê tàu chở hàng đến cảng Hải Phòng và
cảng Sài Gòn vào ngày 26-12-1993 và hoàn tất việc dỡ hàng vào ngày 11-01-1994.
Vinacontrol Hải Phòng cấp chứng th giám định ngày 02-02-1994, Vinacontrol
thành phố Hồ Chí Minh cấp chứng th giám định ngày 14-02-1994.
Đến ngày 20-1-1994 bị đơn mới trả cho nguyên đơn 849.447,50 USD
Ngày 21-02-1994 hai bên đã cùng nhau ký với công ty Hoa Anh ( Việt Nam)
một Bản thoả thuận, theo đó bbị đơn đã trả cho nguyên đơn 849.447,50 USD, số
tiền còn lại công ty Hoa Anh sẽ chịu trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn, bị
đơn sẽ không chịu trách nhiệm về việc thanh toán này nữa. Nhng công ty Hoa Anh
không nghiêm chỉnh thực hiện cam kết, chỉ trả một phần tiền, mặc dù nguyên đơn
đã nhiều lần đôn đốc bị đơn.
Không đợc bị đơn và công ty Hoa Anh trả hết tiền hàng, nguyên đon đã khởi
kiện bị đơn ra trọng tài đòi bị đơn phải trả 560.754,91 USD gồm : tiền hàng còn
thiếu, lãi suất ngân hàng, lệ phí ngân hàng.
Trong văn th gửi trọng tài,bị đơn lập luận nh sau:
Ngày 21-02-1994 các bên cùng nhau ký biên bản thoả thuận thanh toán, trong

tách rời cảu hợp đồng chính Đây là một sai sót nghiêm trọng về pháp lý, vì công
ty Hoa Anh không phải là một bên ký vào hợp đông chính, đông thời lúc đó công ty
Hoa Anh không có quyền trực tiếp xuất nhập khẩu. Vì thế Bản thoả thuận không đủ
hiệu lực để giải phóng hoàn toàn ngời mua( bị đơn) khỏi nghĩa vụ thanh toán đợc
quy định trong hợp đồng mua bán đã ký với ngời bán ( nguyên đơn).
- Bản thoả thuận không ghi số tiền còn nợ phải thanh toán là bao nhiêu, tính
toán căn cứ vào đâu mà chỉ ghi tiền đã trả là 849.447,50 USD.
- Bản thoả thuận không quy định rõ phơng thức thanh toán , thời hạn thanh
toán.
Từ đó ,trọng tài kết luận Bản thoả thuận ngày 21-02-1994 không đủ hiệu lực để
giải phóng nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho ngời mua, cho nên ngời mua vẫn còn
nghĩa vụ trả tiền cho ngời bán và và nguyên đơn kiện ngời mua là có cơ sở.
b) Về số tiền hàng còn nợ
Trong đơn kiện , nguyên đơn đòi bị đơn phải trả tổng cộng 560.754,91 USD
gồm tiền hàng còn thiếu , lãi ngân hàng, lệ phí ngân hàng Trong văn th ngày 20-
4-1995 gửi trọng tài , nguyên đơn lại đòi tổng cộng là 523.386,11 USD. Cuối cùng
trong văn th ngày 29-5-1995 nguyên đơn lại đòi bị đơn 650.962,00 USD. Nh vậy,
6
nguyên đơn không nhất quán về số tiền đòi bị đơn phải trả và trọng tài không thừa
nhận số tiền do nguyên đơn đa ra.
Trong khi đó , bị đơn căn cứ vào các biên bản giám định do Vinacontrol cấp
sau khi cân hàng tại cảng đến để tính tổng số tiền phải trả, đó là 2.836.975,50 USD.
Trọng tài thừa nhận cách tính toán của bị đơn là hợp lý ,phù hợp với quy định của
hợp đồng và thông lệ buôn bán quốc tế .
Ngày 06-12-1994 , nguyên đơn , bị đơn và công ty Hoa Anh đã ký biên bản
quyết toán , theo đó số tiền đã trả cho nguyên đơn là 2554.447,51 USD. Nguyên
đơn không phản đối số tiền đã nhận ghi trong biên bản quyết toán này.
Từ đó trọng tài xác định số tiền hàng còn nợ nguyên đơn là: 2.836.917,50USD-
2.554.447,51USD = 282.469,99 USD.
c) Về tiền lãi suất ngân hàng và lệ phí ngân hàng

đơn nhng vẫn cha đợc trả tiền .
Hết ngày 30-12-1999, nguyên đơn không nhận đợc tiền hàng ,nguyên đơn đã
khởi kiện bị đơn ra trọng tài đòi trả 195380 USD tiền hàng và lãi suất 9%/năm .tính
từ ngày nhận hàng 10/9/1999 đến ngày trọng tài xét xử .Trớc những vấn đề đặt ra
trọng tài đã đa ra những quyết định chính xác với những lý lẽ chặt chẽ, trớc hết là :
Khi hai bên đã ký hợp đồng mua hàng thì bị đơn phải có nghĩa vụ trả tiền hàng
cho nguyên đơn . Theo phơng thức thanh toán D/P ,bị đơn phải trả tièn hàng cho
nguyên đơn thì mới nhận đợc bộ chứng từ ngân hàng, trong đó có vận đơn để nhận
hàng . Trên thực tế , bị đơn cha trả tiền hàng nhng đẫ nhận đợc hàng và bán lô hàng
đó cho ngòi khác thì bị đơn có nghĩa vụ phải trả tiền hàng cho nguyên đơn, điều
này rõ ràng bị đơn đã cố tình vi phạm nghãi vụ trả tiền hàng vì khi đã hết hạn bị
đơn lại kéo dài thời hạn nhng đến thời hạn kéo dài mà bị đơn vẫn cha trả. Còn về
tiền lãi suất , ngày 10-9-1999 là ngày bị đơn nhận xong hàng . ảtọng tài xác định
mốc thời gian hợp lý để tính lãi suất sẽ là từ ngày 20-9-1999,mức lãi suất là
9%/năm do nguyên đơn tính toán là quá cao và không phù hợp mức lãi suất tiền
vay do Ngân hàng nhà nớc Việt Nam công bố . Từ đó , trongj tài chấp nhận đối với
thời gian chậm trả tiền hàng từ ngày 20-9-1999 đến ngày 8-7-2000 , nguyên đơn
chỉ đợc hởng lãi suất theo mức lãi suất tiền vay trung bình do Ngân hàng nhà nớc
Việt Nam công bố vào thòi gian này là 5%/năm; Ngân hàng North Banc khi đã thu
đợc tiền hàng thì phải chuyển trả số tiền đó cho ngân hàng nhờ thu Việt Nam . Còn
khi không thu đợc tiền từ ngời nhập khẩu và Ngân hàng đòi lại bộ chứng từ thì
Ngân hàng North Banc phải có nghĩa vụ trả lại bộ chứng từ đó .Việc Ngân hàng
North Banc im lặng , không trả tiền ,cũng nh không trả lại bộ chứng từ cho Ngân
hàng Việt Nam là hoàn toàn sai trái, là vi phạm nghĩa vụ trong quan hệ nhờ thu
theo D/P .Ngân hàng Việt Nam có quyền khiếu nại và kiện ngân hàng North Banc
nếu cần.
4. Các biện pháp giải quyết có hiệu quả những tranh chấp phát sinh và có lien
quan đến hợp đồng xuất nhập khẩu.
4.1 Lựa chọn phơng pháp giải quyết tranh chấp một cách phù hợp.
8

Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã
cố gắng thực hiện đúng hợp đồng với thơng nhân nớc ngoài và cũng yêu cầu ngợc
lại. Nhng trong thực tế, việc thực đúng theo hợp đồng còn là một vấn đề nan giải
đối với nhà kinh doanh. Do đó cần sự quyết định của trọng tài, trọng tài phân tích
và đa ra những quyết định đúng đắn cho những sự việc bị đa ra tố tụng, trọng tài
tìm hiểu thực tiễn xét xử các tranh chấp giữa thơng nhân Việt Nam và thơng nhân
nớc ngoài giúp cho các doanh nghiệp có nhận thức đúng đắn về vấn đề này, từ đó
góp phần hạn chế tranh chấp hoặc giải quyết tranh chấp có hiệu quả hơn.
10
Mục lục
A. Mở đầu.
B. Nội dung:
1. Khái quát về án lệ trọng tài.
2. Nguyên nhân về vụ kiện do ngời xuất khẩu vi phạm hợp đồng
. 2.1 Vụ kiện do ngời giao hàng kém phẩm chất .
2.2 Vụ kiện về việc giao hàng không đúng tiêu chuẩn xuất khẩu .
3. Nguyên nhân về vụ kiện do ngời nhập khẩu vi phạm hợp đồng .
3.1 Vụ kiện về ngời nhập khẩu trả thiếu tiền hàng .
3.2 Vụ kiện ngời nhập khẩu không thực hiện hợp đồng .
4. Các biện pháp giải quyết có hiệu quả những tranh chấp phát sinh từ và có
liên quan đến hợp đồng xuất nhập khẩu.
4.1 Lựa chọn phơng pháp giải quyết tranh chấp một cách phù hợp.
4.2 Vận dụng đúng luật tố tụng của nớc toà án hay quy tắc tố tụng của
trọng tài khi đi kiện .
C .Kết luận.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Ngoại thơng Trờng Đại học Quản lý Kinh doanh Hà Nội
2. Báo Ngoại thơng Sài Gòn.
11
- PGS TS Trần Văn Chu Quản lý và nghiệp vụ kinh doanh thơng mại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status