lời mở đầu
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội ngày một tăng, cũng nh để đáp
ứng sự phát triến sản xuất của doanh nghiệp mình, một trong những biện pháp
đợc các nhà quản lý đặc biệt quan tâm hiện nay là công tác kế toán. Trong đó
hạch toán chi phí sản phẩm và tính giá thành đợc coi là một khâu trung tâm của
công tác kế toán, mở ra hớng đi hết sức đúng đắn cho các doanh nghiệp. Thực
chất chi phí sản xuất là đầu vào của quá trình sản xuất, do vậy tiết kiệm chi phí
sản xuất là hạ giá thành sản phẩm, đồng thời đảm bảo đầu ra của quá trình sản
xuất, do vậy tiết kiệm chi phí là hạ giá thành sản phẩm, đồng thời đảm bảo đầu
ra của quá trình sản xuất , sao cho nó đợc xã hội chấp nhận và làm tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp mình. Hơn nữa, mục đích cuối cùng của quá trình sản
xuất là tạo ra sản phẩm và giá thành sản phẩm chính là chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp, phản ánh chất lợng toàn bộ các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Xuất phát
từ vấn đề đó mức tính gía thành sản phẩm đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ chi phí
sản xuất bỏ ra theo đúng chế độ của nhà nớc.
Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thịđảm bảo u thế cạnh tranh, thu lợi nhuận cao thì bên cạnh
việc sản xuất ra sản phẩm có chất lợng tốt,mẫu mã đẹp, hợp thị hiếu ngời tiêu
dùng, một yếu tố quan trọng khác là sản phẩm đó phải có giá thành hạ, phù hợp
với sức mua của đa số nhân dân. Đặc biệt trong ngành xây dựng cơ bản, hạ giá
thành sản phẩm đã đợc đặt ra nh một yêu cầu bức thiết, khách quan nhằm tạo
tiền đề cho các ngành sản xuẩt trong nền kinh tế quốc dân cùng hạ giá thành
sản phẩm. Bởi xây dựng cơ bản nhằm trang bị tài sản cố định cho tất cả các
ngành kinh tế quốc dân khác góp phần xây dựng cơ sở vật chát kỹ thuật nâng
cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
Với ý nghĩa đó, trong thời gian thực tập tại công ty xây dựng số 4, em
nhận thấy vấn đề chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là vấn đề nổi bật,
cần phải đựoc các nhà quản lý và hạch toán quan tâm. Tuy còn nhiều thiếu xót
và hạn chế, song với vốn kiến thức đã đợc học và tích luỹ trong nhà trờng , kết
hợp với các tài liệu đọc thêm , em quyết định đi sâu vào nghiên cứu đề tài: Kế
trong doanh nghiệp xây dựng, cụ thể :
1.1.1.1. Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định
Sản phẩm xây dựng sau khi hoàn thành thì không thể di chuyển từ nơi này
sang nơi khác mà nơi sản xuất đồng thời là nơi sử dụng công trình sau này nên
lực lợng sản xuất của nghành xây dựng thờng xuyên di chuyển từ công trình này
sang công trình xây dựng khác.Điều này ảnh hởng rất lớn đến sự ổn định đời
sống ngời lao động, đến chi phí cho khâu di chuyển .
1.1.1.2. Sản phẩm xây lắp có thời gian sử dụng lâu dài
Sản phẩm của xây dựng cơ bản thờng tồn tại và hoạt động trong nhiều năm
và có thể tồn tại vĩnh viễn. Đặc điểm này đòi hỏi việc quản lý và tổ chức sao cho
chất lợng công trình phải đảm bảo và phản ánh đúng theo từng thời điểm phát
sinh
1.1.1.3 Sản phẩm xây lắp có qui mô lớn, kết cấu phức tạp
Đặc điểm này đòi hỏi: khối lợng vốn đầu t, vật t lao động, máy thi công
nhiều, giải pháp thi công khác nhau.Do vậy trong quản lý xây lắp phải chú trọng
3
kế hoạch khối lợng, kế hoạch vốn đầu t, lập định mức kinh tế - kỹ thuật và quản
lý theo định mức.
1.1.1.4. Thời gian xây dựng công trình thờng dài
Sản phẩm của xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh, thời gian
sản xuất ra chúng thờng dài, phải tính theo tháng, theo năm. Đặc điểm này làm chi
vốn đầu t xây dựng của chủ đầu t và vốn sản xuất của tổ chức xây dựng thờng bị ứ
đọng lâu tại công trình. Các tổ chức xây dựng có thể gặp phải những rủi ro ngẫu
nhiên theo thời gian nh: thời tiết, lãi suất, giá cả, tỷ giá... Công trình xây dựng
xong dễ bị hao mòn vô hình do sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ.Do
vậy đòi hỏi công tác quản lý kinh tế tài chính trong xây dựng phải chú ý đến yếu tố
thời gian, lựa chọn phơng án tiến độ xây dựng hợp lý cho từng hạng mục công
trình cũng nh toàn bộ công trình để sớm đa công trình vào khai thác sử dụng,
công ty
1.1.2. Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng:
Do đặc điểm của xây dựng và sản phẩm xây lắp rất riêng nên việc quản lý
đầu t xây dựng cơ bản khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Vì vậy trong
quá trình quản lý đầu t xây dựng phải đáp ứng đợc những yêu cầu sau:
- Phải tạo ra những sản phẩm xây lắp đợc thị trờng chấp nhận cả về giá cả,
chất lợng, đáp ứng đợc mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất từ các nguồn đầu t trong và
ngoài nớc.
- Xây dựng phải đúng theo qui hoạch đợc duyệt, thiết kế hợp lý thẩm mỹ,
xây dựng đúng tiến độ đạt chất lợng cao.
Thực tế trong nhiều năm qua xây dựng cơ bản là một ngành làm thất thoát
một phần không nhỏ nguồn vốn đầu t của Nhà nớc. Nguyên nhân cơ bản là do
quản lý vốn đầu t cha đợc chặt chẽ.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phơng pháp
đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng. Doanh nghiệp muốn trúng thầu một công
trình phải xây dựng một giá thầu hợp lý cho công trình đó dựa trên cơ sở xác
định mức đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà nớc ban hành trên cơ sở giá thị trờng
5
và bản thân doanh nghiệp. Giá trúng thầu không vợt quá giá tổng dự toán đợc
duyệt.Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.
Để thực hiện tất cả các yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cờng
công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý về tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành.Trong đó trọng tâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp.
1.1.3. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Việc giảm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa
thành sản phẩm xây lắp.
1.2.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
xây dựng
1.2.1.1. Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây dựng:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào, dù lớn hay nhỏ, dù sản xuất kinh doanh trong
lĩnh vực nào đi nữa thì quá trình sản xuất đều nhất thiết phải có sự kết hợp của
ba yếu tố cơ bản đó là : Đối tợng lao động, t liệu lao động, và sức lao động.
Các yếu tố về t liệu lao động, đối tợng lao động (biểu hiện cụ thể là hao phí
về lao động vật hoá) dới sự tác động có mục đích của sức lao động(biểu hiện là
hao phí về lao động sống), qua quá trình biến đổi sẽ tạo nên các sản phẩm lao vụ,
dịch vụ .
Để đo lờng hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong từng thời kỳ hoạt động là
bao nhiêu, nhằm tổng hợp và xác định kết quả đầu ra phục vụ cho nhu cầu quản
lý, thì mọi hao phí cuối cùng đều đợc biểu hiện bằng tiền gọi là chi phí sản xuất
Nh vậy , chi phí sản xuất của doanh nghiệp là toàn bộ hao phí về lao động
sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh mghiệp đã bỏ ra
trong một thời kỳ nhất định, đợc biểu hiện bằng tiền.
1.2.1.2.Phân loại chi phí sản xuất
Với mỗi loại doanh nghiệp, Chi phí sản xuất có nội dung kinh tế khác nhau,
công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Để
lập kế hoạch và tính chính xác giá thành sản phẩm, để khống chế và thống nhất
các loại chi phí, nhằm nghiên cứu các yếu tố trong giá thành sản phẩm, yêu cầu
7
khách quan là phải phân loại chi phí sản xuất thành từng nhóm riêng theo tiêu
thức nhất định.
Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp đợc phân loại theo các tiêu thức sau:
a) Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế là việc sắp xếp các chi
vật liệu làm công trình tạm, các chi phí vận chuyển vật liệu trên công trờng ngoài
cự ly định mức lao động và định mức sử dụng máy thi công
+Chi phí nhân công trực tiếp: Là toàn bộ lơng cơ bản và các khoản phụ
cấp cho ngời lao động trực tiếp xây lắp theo chế độ hiện hành .
+Chi phí sử dụng máy thi công:Là toàn bộ chi phí sử dụng máy thi công
trực tiếp tham gia hoàn thành các khối lợng công tác xây lắp , bao gồm: chi phí
khấu hao cơ bản, chi phí sửa chữa lớn, chi phí sửa chữa thờng xuyên, chi phí
nguyên vật liệu, nhiên liệu động lực , tiền lơng của công nhân lái máy , chi phí
quản lý máy và chi phí khác của máy.
+Chi phí chung: Là những chi phí không liên quan trực tiếp đến việc hoàn
thành các khối lợng công tác và kết câú xây lắp của công trình nhng rất cần thiết
cho quá trình thi công,bao gồm: Các khoản tiền lơng, phụ cấp lơng, lơng phụ,
phụ cấp lu động phải trả cho nhân viên quản lý đội xây dựng ; khoản trích
BHXH, BHYT, KPCĐ đợc tính theo tỷ lệ phần trăm qui định hiện hành trrên tiền
lơng phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và
nhân viên quản lý đội ;chi phí dụng cụ sản xuất; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí
dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp và phơng pháp lập dự toán
trong xây dựng cơ bản là dự toán đợc lập cho từng đối tợng xây dựng theo các
khoản mục gía thành, nên phơng pháp này là phơng pháp đựơc sử dụng phổ biến
nhất trong các doanh nghiệp xây dựng.
c) Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ và khả năng qui nạp chi phí
vào các đối tợng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất đợc phân làm hai loại :
+ Chi phí trực tiếp :là những khoản chi phí có liên quan trực tiếp tới quá
trình sản xuất và tạo ra một công trình , một hạng mục công trình .Những chi phí
9
này có thể tập hợp trực tiếp cho từng từng công trình, hạng mục công trình độc
xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng:
Do đặc điểm riêng biệt của các sản phẩm xây lắp nên giá thành đợc chia
làm ba loại:
1.2.2.2.1. Giá thành dự toán (Zdt)
Sản phẩm xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài, mang tính đơn
chiếc... nên mỗi công trình, hạng mục công trình đều có giá dự toán riêng. Giá
thành dự toán của công trình, hạng mục công trình là giá thành công tác xây lắp
đợc xác định trên khối lợng thiết kế đợc duyệt, các định mức dự toán và đơn giá
XDCB do cấp có thẩm quyền ban hành và dựa theo mặt bằng giá cả thị trờng.
Giá thành dự toán công trình,hạng mục công trình khác với giá trị dự toán
xây lắp ở điểm sau: Giá thành dự toán công trình,hạng mục công trình nhỏ hơn
giá trị dự toán công trình,hạng mục công trình ở phần thu nhập chịu thuế tính tr-
ớc và thuế giá trị gia tăng đầu ra. Do dó căn cứ vào giá trị dự toán của từng công
trình, hạng mục công trình ta có thể xác định đợc giá thành dự toán của chúng:
Giá thành dự toán
của công trình,hạng
mục công trình
=
Giá trị dự toán
công trình,hạng
mục công trình
sau thuế
-
Thu nhập chịu
thuế tính trớc
-
Thuế giá trị gia tăng đầu
ra
Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp nên giá thành dự toán công trình,hạng
Giá thành thực tế công trình,hạng mục công trình là chỉ tiêu phản ánh toàn
bộ chi phí thực tế để hoàn thành khối lợng xây lắp.Giá thành này đợc tính trên cơ
sở số liệu kế toán về chi phí sản xuất đã tập hợp đợc cho khối lợng xây lắp thực
hiện trong kỳ.Giá thành công trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị thiết bị
đa vào lắp đặt,bởi vì thiết bị này thờng do đơn vị chủ đầu t bàn giao cho doanh
nghiệp nhận thầu xây lắp.
Muốn đánh giá đợc giá trị chất lợng hoạt động sản xuất thi công của
doanh nghiệp xây dựng thì ta phải tiến hành so sánh các loại giá thành trên với
nhau. Giá thành dự toán mang tính xã hội cho nên việc so sánh giá thành thực tế
với giá thành dự toán cho phép ta đánh giá sự tiến bộ hay yếu kém trong doanh
nghiệp xây dựng trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ tổ
chức quản lý của bản thân doanh nghiệp. Trong việc so sánh này cần đảm bảo
tính thống nhất và có thể so sánh đợc, tức là đợc thực hiện trên cùng một đối tợng
tính giá thành (từng công trình, hạng mục công trình, hoặc khối lợng xây lắp
hoàn thành nhất định).
Về nguyên tắc thì mối quan hệ giữa các loại giá thành trên phải đảm bảo
nh sau : Zdt > Zkh > Ztt.
12
Đây cũng là nguyên tắc khi xây dựng giá thành và tổ chức thực hiện kế
hoạch giá thành. Có nh vậy doanh nghiệp mới đảm bảo có lãi, có tích luỹ cho
Nhà nớc và cho doanh nghiệp.
1.2.3. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp xây dựng:
1.2.3.1. Đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây dựng phát sinh luôn gắn liền với
nơi diễn ra hoạt động sản xuất và với sản phẩm đợc sản xuất ra.Vì vậy, kế toán
cần xác định đợc đối tợng để tập hợp chi phí sản xuất, trên cơ sở đó thực hiện
việc tập hợp chi phí sản xuất, kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm hay
trọng trong việc tính chính xác giá thành sản phẩm xây lắp. Bộ phận kế toán giá
thành phải cân đối, xem xét tổng thể các căn cứ sau để xác định khối lợng tính
giá thành cho phù hợp:
- Cơ cấu tổ chức sản xuất và đặc điểm qui trình công nghệ.
- Đặc điểm của sản phẩm,đặc điểm sử dụng của các sản phẩm.
- Dựa vào yêu cầu hạch toán kế toán, hạch toán nội bộ doanh nghiệp và
yêu cầu xác định hiệu quả kinh tế của từng loại sản phẩm.
-Khả năng và trình độ quản của của doanh nghiệp nói chung và khả năng
của cán bộ hạch toán nói riêng.
Trong các doanh nghiệp xây dựng, đối tợng tính giá thành thờng phù hợp
với đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, đó có thể là: công trình, hạng mục công
trình hay khối lợng xây lắp hoàn thành bàn giao. Trong trờng hợp các doanh
nghiệp xây dựng có tổ chức thêm các phân xởng sản xuất phụ (sản xuất vật
liệu...) thì đối tợng tính giá thành là tổng giá thành và giá thành đơn gị sản phẩm,
lao vụ cung cấp.
1.2.3.3. Kỳ tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng:
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành
công việc tính giá thành cho các đối tợng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá
thành thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm đợc
hợp lý, khoa học, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành thực tế của các sản
14
phẩm lao vụ kịp thời, phát huy đầy đủ chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành sẩn phẩm của kế toán.
Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp, kế toán phải căn cứ vào đặc điểm
tổ chức sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm. Căn cứ vào đặc điểm
riêng của ngành xây dựng cơ bản nên kỳ tính giá thành trong xây dựng cơ bản th-
ờng là:
- Đối với các loại sản phẩm mà đợc sản xuất liên tục, cung cấp cho những
Tuy nhiên, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bản chất chung
đều là phạm vi giới hạn để tập hợp số liệu về chi phí sản, các chi phí sản xuất đã
tập hợp trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành. Đối
tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây dựng thờng phù hợp với nhau. Một bên là công trình, hạng mục
công trình, còn một bên là công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành.
1.2.4. Phơng pháp kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng
Các phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất
* Phơng pháp tập hợp trực tiếp chi phí sản xuất:
áp dụng phơng pháp này đối với những chi phí trực tiếp. Những chi phí
trực tiếp là các chi phí liên quan đến một đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản
xuất. Ta căn cứ vào các chứng từ gốc về chi phí phát sinh để tập hợp trực tiếp cho
từng đối tợng.
* Phơng pháp phân bổ gián tiếp chi phí sản xuất:
Phơng pháp này áp dụng đối với những chi phí gián tiếp liên quan đến
nhiều đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất khác nhau. Ta tiến hành thực hiện
tập hợp chi phí sản xuất, phân bổ chi phí theo các bớc sau:
- Bớc 1:Lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý và tính hệ số phân bổ chi phí.
Tiêu thức phân bổ hợp lý là tiêu thức phải đảm bảo đợc mối quan hệ tỷ lệ thuận
giữa tổng chi phí cần phân bổ với tiêu thức phân bổ của các đối tợng. Hệ số phân
bổ chi phí đợc xác định nh sau:
H =
T
C
Trong đó : H: Hệ số phân bổ chi phí
16
C: Tổng chi phí cần phân bổ
T: Tổng đại lợng của tiêu thức phân bổ của các đối tợng
tập hợp chi phí sản xuất để phục vụ cho việc tính gía thành cho từng đối tợng tính
giá thành.
*Trình tự kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí về các loại nguyên vật
liệu chính (gạch, đá, vôi, cát, sỏi, xi măng, sắt, thép), nửa thành phẩm (panen, vật
kết cấu,thiết bị gắn liền với vật kiến trúc), vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công
cụ lao động thuộc tài sản lu động.
Chi phí NVL trực tiếp đợc căn cứ vào các chứng từ xuất kho để tính giá trị
thực tế vật liệu trực tiếp xuất dùng. (Giá thực tế)
Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp nên việc tập hợp chi phí NVL sử dụng
phơng pháp tập hợp chi phí trực tiếp, tức là NVL liên quan đến công trình, hạng
mục công trình, hợp đồng hoặc đơn đặt hàng nào thì tập hợp chi phí NVL trực
tiếp cho công trình,hạng mục công trình,hợp đồng hoặc đơn đặt hàng đó.
Sơ đồ trình tự kế toán chi phí NVLTT
TK111, 112, 331
TK 621
tk 152
tk 154
TK152
TK133
TK141
18
1.2.4.2. Phơng pháp kế toán chi phí nhân công trực tiếp. (TK 622).
* Tài khoản sử dụng: TK 622 "Chi phí nhân công trực tiếp" dùng để tập hợp
và kết chuyển số chi phí tiền công của công nhân sản xuất xây lắp trực tiếp (bao
gồm tiền công, tiền lơng, tiền thởng, và các khoản phải trả có tính chất tiền lơng
của công nhân sản xuất xây lắp. Cuối kỳ kết chuyển sang TK 154.
TK 622 "Chi phí nhân công trực tiếp" không phản ánh chi phí trích 19%
hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.
Không hoạch toán vào TK 623 chi phí về trích KPCĐ, BHXH, BHYT tính
theo lơng công nhân điều khiển máy (hoạch toán vào TK 627).
*Trình tự kế toán chi phí sử dụng máy thi công:
Máy thi công là các loại máy phục vụ trực tiếp cho sản xuất xây lắp nh máy
trộn bê tông, cần trục, cần cẩu tháp, máy ủi, máy xúc....
Chi phí sử dụng máy thi công gồm toàn bộ các chi phí về vật t, lao động,
khấu hao và chi phí bằng tiền trực tiếp cho quá trình sử dụng máy thi công của
xí nghiệp. Trong xây dựng chi phí sử dụng máy thi công đợc chia làm hai loại
(Chi phí tạm thời và chi phí thờng xuyên).
Trong chi phí sử dụng máy thi công không bao gồm các khoản mục sau: l-
ơng công nhân vận chuyển, phân phối vật liệu cho máy ngừng sản xuất, chi phí
lắp đặt lần đầu cho máy, chi phí sử dụng cho sản xuất phụ...
TK 621,622,627
20
TK 154TK 334 TK 622
Phơng pháp hoạch toán chi phí sử dụng máy thi công tuỳ thuộc vào hình
thức quản lý và sử dụng máy thi công nh thế nào của từng doanh nghiệp.
Có hai hình thức sử dụng máy thi công là tổ chức đội máy thi công riêng
và không có đội máy thi công riêng.
+ Đối với DN có tổ chức đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp quản
lý để theo dõi riêng chi phí nh một bộ phận sản xuất độc lập. Sản phẩm của bộ
máy thi công cung cấp cho các công trình xây dựng có thể tính theo giá thành
sản xuất thực tế hoặc giá khoán nội bộ.
+ Nếu DN không có tổ chức bộ máy thi công riêng biệt, hoặc có nhng
không phân cấp thành một bộ phận độc lập và không theo dõi riêng chi phí thì
chi phí phát sinh đợc tập hợp vào TK 623
Sơ đồ trình tự kế toán chi phí sử dụng máy thi công:
xuất chung cần
phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ
cho tất cả các đối tợng
Còn các khoản chi phí sản xuất chung chỉ liên quan đến một công trình,
hạng mục công trình sẽ đợc tập hợp trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công
trình đó.
Việc tập hợp và phân bổ chi phí chung đợc thực hiện trên TK 627
22
sơ đồ trình tự kế toán chi phí sản xuất chung
1.2.4.5.Phơng pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
23
TK154 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đợc mở chi tiết theo từng
đối tợng tập hợp chi phí sản xuất. Các doanh nghiệp xây dựng thì thông thờng
doanh nghiệp có thể mở chi tiết theo từng đội sản xuất, từng công trình xây dựng,
từng công trình hoặc hạng mục công trình...
Cuối kỳ, các chi phí sản xuất đã tập hợp ở các TK621, TK622, TK623,
TK627 sẽ đợc kết chuyển sang TK 154 để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp trong kỳ.
trình tự kế toán chi phí sản xuất kinh doanh toàn
doanh nghiệp theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
1.2.5. Đánh giá sản phẩm làm dở dang trong doanh nghiệp xây dựng
24
TK 621
Việc xác định chính xác mức độ hoàn thành của khối lợng sản phẩm
xây dựng rất khó do sản phẩm xây dựng có đặc điểm là kết cấu phức tạp. Vì
vậy khi đánh giá sản phẩm làm dở, kế toán cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận
kỹ thuật, bộ phận tổ chức lao động để xác định mức độ hoàn thành của khối l-
ợng xây lắp dở dang một cách chính xác. Trên cơ sở kết quả kiểm kê sản
phẩm đã đợc tổng hợp đợc kế toán tiến hành đánh giá sản phẩm làm dở.
Các doanh nghiệp xây dựng thờng áp dụng một trong các phơng pháp
đánh giá sản phẩm làm dở sau:
1.2.5.1. Phơng pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí dự toán:
CP thực
tế của
KLXLD
DCK
=
CP thực tế của
KLXLDD ĐK
CPKLXLHT bàn
giao trong kỳ
+
+
CP thực tế KLXL
CPKLXLDDCK
theo dự toán
x
CPXLDDCK
theo dự toán
1.2.5.2 Phơng pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo tỷ lệ hoàn thành tơng đ-
ơng.
25