báo cáo về nhà ở của người Hà Nhì ở Lào Cai - Pdf 14

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 2
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3. Mục đích nghiên cứu 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
6. Phương pháp nghiên cứu 9
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10
CHƯƠNG 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SƠ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Khái niệm về nhà ở nói chung. 11
1.1.2 Khái niệm về một số loại nhà ở khác 11
1.1.3 Cơ sở hình thành nên các hình thức nhà ở khác nhau ở Việt Nam 12
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
1.2.1 Vài nét về xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 13
21
Chương 2 21
Nhà ở của nguời Hà Nhì 21
ở Lao Chải – Y Tý – Bát Xát –Lào Cai 21
2.2.2 Công đoạn dựng nhà 26
2.2.3 Bố trí kiến trúc nhà ở 29
2.2.4 Ưu và nhược điểm của nhà trình tường dân tộc Hà Nhì đen 31
2.2.4.1 Ưu điểm 31
2.2.4.2 Nhược điểm 31
3.1 Những nghi lễ liên quan đến nhà ở 33
3.2 Một số kiêng kị trong văn hóa nhà ở của người Hà Nhì 35
3.3 Biến đổi về nhà ở 36

* Nhóm đề tài chúng tôi gồm có 6 thành viên:
Họ và tên Mã số sinh viên
1. Trần Thị Thanh Lâm DTZ1252201130014
2. Ngô Thùy Linh DTZ1252201130060
3. Lục Thế Vịnh DTZ1252201130040
4. Bế Văn Thịnh DTZ1252201130052
5. Nguyễn Thị Yến (15/3) DTZ1252201130035
6. Nguyễn Thị Yến (27/3) DTZ1252201130007
* Dưới sự hướng dẫn của các Giảng Viên:
1. Dương Thùy Linh
3
2. Phạm Văn Huy
Trong thời gian tiến hành nghiên cứu tại địa bàn xã Y Tý, huyện Bát
Xát, tỉnh Lào Cai chúng tôi đã gặp không ít khó khăn và trở ngại trong việc
đi tìm hiểu tài liệu và thu thập các nguồn thông tin. Nhưng dưới sự giúp đỡ
tận tình và chu đáo của các giảng viên hướng dẫn cuối cùng chúng tôi đã
hoàn thành tốt chuyến đi thực tế và đề tài nghiên cứu của mình. Báo cáo
của chúng tôi không tránh khỏi những hạn chế và sai sót, rất mong nhận
được sự góp ý của các bạn và quý thầy cô để bài báo cáo của chúng tôi
được hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lào Cai là một tỉnh miền núi giáp biên giới, là vùng đất rộng, núi
non hiểm trở, có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an
ninh… Nơi đây dân cư thưa thớt, nhiều bản chỉ có năm bảy nóc nhà, bản
nào nhiều nhất cũng chỉ có vài chục hộ… Điều kiện kinh tế - xã hội còn
nhiều khó khăn kéo theo đó là mức sống, trình độ nhận thức của nhân dân
trên địa bàn rất hạn chế. Cũng như một số xã trong địa bàn tỉnh, xã Y Tý -

phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
văn hóa Việt Nam cần mở rộng giao lưu với thế giới, tiếp thu có chọn lọc
những tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và
hiện đại, nhằm không ngừng làm giàu kho tàng văn hóa dân tộc, thúc đẩy
tiến trình phát triển chung của đất nước. Nhưng thực tế hiện nay, sự giao
thoa đó đã làm cho nền văn hóa truyền thống của nước ta phai nhạt dần,
tiêu biểu như nền văn hóa nhà ở của người Hà Nhì đã có nhiều sự biến đổi
lớn đã làm mất dần đi bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và nề văn hóa của
người hà Nhì nói riêng.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu nhà ở của
người Hà Nhì đen thôn Lao Chải- xã Y Tý- huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai .
Chúng tôi đã chọn đề tài: “Văn hóa nhà ở của người Hà Nhì đen, xã Y
Tý, huyện bát Xát, tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên cứu của nhóm mình.
Nhằm làm rõ hơn về văn hóa nhà ở của đồng bào và góp một phần nhỏ bé
của mình vào việc phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa vật chất tinh thần
ở nước ta.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lật lại những bài viết về xã Y Tý, có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm
với các đề tài trên với các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội và văn
6
hóa. Mặc dù đã có những bài viết đăng trên các trang mạng về nhà ở của
người Hà Nhì đen như trang dantocviet.vn, www.dongvan.vn nhưng chưa
có công trình nào hoàn chỉnh và tìm ra được những giá trị văn hóa mà ngôi
nhà đem lại, mà các bài viết này chỉ diễn tả một phần nào đó về quá trình
làn nhà, vì vậy những thông tin mà chúng em tìm hiểu về nhà ở của người
Hà Nhì đen qua chuyến đi thực tế vừa rồi, hi vọng sẽ góp phần làm rõ hơn
những bí ẩn về nhà ở của người Hà Nhì đen, đồng thời góp phần bảo tồn
các giá tri văn hóa của người Hà Nhì nói riêng và của cả dân tộc ta nói
chung.
7

Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Thời gian: Từ ngày 07/02/2014 đến 10/02/2014 dương lịch
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, nhóm chúng tôi đã sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu
Tìm kiếm tài liệu liên quan đến hình thức nhà ở của người Hà Nhì
đen trên các phương diện: Sách, báo, tài liệu chuyên nghành, tài liệu khoa
học, Internet… Thu thập thêm tài liệu từ người dân địa phương tại xã Y Tý.
- Phương pháp quan sát mô tả
Quan sát khái quát hệ thống nhà ở của người Hà Nhì đen xã Y Tý,
huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, chụp ảnh và ghi lại những dữ liệu quan trọng
bổ sung cho tài liệu tạo nên sự đặc thù cho đề tài.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn sâu với từng người dân địa phương về hình
thức trình tường tại xã Y Tý huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai, nhằm điều tra thu
thập được các thông tin mang tính tâm linh có ý nghĩa giá trị cao.
- Phương pháp phân tích & tổng hợp
Đây là phương pháp có sự kết hợp giữa hai phương pháp nhỏ dó là
phân tích và tổng hợp. Đối với phương pháp phân tích: tiến hành phân chia
vấn đề nghiên cứu về nhà ở thành các bộ phận yếu tố nhỏ hơn để thuận tiện
cho việc tìm hiểu và đảm bảo tính sâu sắc của từng bộ phận. Tuy nhiên
9
thông tin thu được chỉ giúp cho hiểu sâu sắc về từng bộ phận nhỏ vì vậy
cần sử dụng phương pháp tổng hợp. Trong thực tế hai phương pháp này
không bao giờ tách rời nhau. phương pháp tổng hợp giúp cho chúng ta có
cái nhìn sâu sắc, toàn diện nhất của khách thể nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh
Đặt hệ thống nhà ở của người Hà Nhì đen hiện nay trong phát triển
của xã hội để tìm ra những nêt đổi mới của nhà trình tường xưa và nay.

cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân(Theo Điều 1 của Luật Nhà ở).
1.1.2 Khái niệm về một số loại nhà ở khác.
1. Nhà ở thương mại là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành
phần kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê theo nhu cầu và cơ chế thị
trường.
2. Nhà ở xã hội là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc
các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại
Điều 53, Điều 54 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này mua, thuê
hoặc thuê mua theo cơ chế do Nhà nước quy định.
3. Nhà ở công vụ là nhà ở do Nhà nước đầu tư xây dựng cho các đối
tượng quy định tại Điều 60 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này
thuê trong thời gian đảm nhiệm chức vụ theo quy định của Luật Nhà ở và
Nghị định này.
4. Nhà biệt thự tại đô thị là nhà ở riêng biệt (hoặc có nguồn gốc là
nhà ở đang được dùng vào mục đích khác) có sân, vườn, hàng rào và lối ra
11
vào riêng biệt, có số tầng chính không quá ba tầng (không kể tầng mái che
cầu thang, tầng mái và tầng hầm), có ít nhất ba mặt nhà trông ra sân hoặc
vườn, có diện tích xây dựng không vượt quá 50% diện tích khuôn viên đất,
được xác định là khu chức năng trong quy hoạch đô thị được cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
5. Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang
và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá
nhân. Nhà chung cư có phần diện tích thuộc sở hữu riêng của từng hộ gia
đình, cá nhân, của chủ đầu tư và phần diện tích thuộc sở hữu chung của các
chủ sở hữu nhà chung cư.
1.1.3 Cơ sở hình thành nên các hình thức nhà ở khác nhau ở Việt Nam.
Về nguồn gốc nông nghiệp: Việt Nam được nhìn nhận như một trong
những cái nôi đầu tiên của lịch sử văn minh loài người Nền văn minh sông
Hồng lấy nông nghiệp trồng lúa nước_ phương thức sản xuất Châu Á và tổ

1.2.1 Vài nét về xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
* Vị trí địa lý của xã Y Tý
Vị trí địa lý: Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa
vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo
đường sắt và 345 km theo đường bộ. Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng
10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ ngày 01/01/2004
(sau khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu) diện tích tự nhiên:
6.383,88 km
2
(chiếm 2,44% diện tích cả nước, là tỉnh có diện tích lớn thứ
19/64 tỉnh, thành phố cả nước).
Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía
Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc với 203
km đường biên giới.
13
* Điều kiện tự nhiên
Địa hình: Địa hình Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức
độ chia cắt mạnh. Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con
Voi cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm về phía đông và phía tây tạo
ra các vùng đất thấp, trung bình giữa hai dãy núi này và một vùng về phía
tây dãy Hoàng Liên Sơn. Ngoài ra còn rất nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa
dạng, chia cắt tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau.
Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ
cao từ 300m - 1.000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh. Điểm cao nhất là
đỉnh núi Phan Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143m so với
mặt nước biển, Tả Giàng Phình: 3.090m.
Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồm thành phố Lào Cai -
Cam Đường - Bảo Thắng - Bảo Yên và phần phía đông huyện Văn Bàn
thuộc các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80 m thuộc địa phận
huyện Bảo Thắng), địa hình ít hiểm trở hơn, có nhiều vùng đất đồi thoải,

mưa trung bình từ 1.400mm - 1.700mm.
Sương: Sương mù thường xuất hiện phổ biến trên toàn tỉnh, có nơi ở
mức độ rất dày. Trong các đợt rét đậm, ở những vùng núi cao và các thung
lũng kín gió còn xuất hiện sương muối, mỗi đợt kéo dài 2 - 3 ngày.
Đặc điểm khí hậu Lào Cai rất thích hợp với các loại cây ôn đới, vì
vậy Lào Cai có lợi thế phát triển các đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác
không có được như: hoa, quả, thảo dược và cá nước lạnh.
Thổ nhưỡng: Đất có độ phì cao, màu mỡ, đa dạng bao gồm 10
nhóm, 30 loại đất, phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau.
Đặc điểm kinh tế văn hóa xã hội
Đặc điểm kinh tế : Người Hà Nhì chủ yếu trồng lúa trên nơi làm ruộng,
nương rẫy. Đồng bào giàu kinh nghiệm khai hoang ruộng, khơi mương, đào
phai đắp đập. Họ chọn đất để làm ruộng bậc thang không kể núi cao hay
thấp, miễn là những nơi đó có khả năng dẫn nước tưới ruộng. Mùa mưa,
khoảng từ tháng 5, tháng 6 âm lịch, là mùa vỡ hoang, lúc đó đất mềm dễ
đào sới. Khai phá ruộng bắt đầu từ trên đỉnh núi rồi dần dần làm thấp
xuống. Trước tiên phải phát cỏ, đánh gốc rồi dùng cày bừa san bằng mặt
ruộng, đắp bờ giữ nước. Dụng cụ lao động chỉ có cuốc, cuốc chim, thuổng,
cày và bừa gạt đất bằng gỗ. Với những công cụ đơn giản như vậy nhờ sức
lao động cần cù và sáng tạo của mình, người Hà Nhì đã biến bao núi đồi
thành những cánh đồng ruộng bậc thang trù phú.
Gắn liền với ruộng bậc thang đồng bào đã trú trọng xây dựng, đập,
mương máng để lấy nước. Ngày nay, nhiều công trình thủy lợi dân gian của
họ đã làm cho những ai đến đây đều phải khâm phục.
Ở những vùng làm ruộng, từ lâu người ta đã chú ý sử dụng phân tro,
chủ yếu là phân chuồng. Vì ruộng ở xa nhà, lại ở cao thấp khác nhau trên
sườn núi không gánh phân bỏ ruộng được, đồng bào đã biết lợi dụng
15
mương phai để đưa phân tới tận các chân ruộng. Hiện nay do làm ăn hợp
tác nên cách vận chuyển này càng thêm thuận lợi. Đồng bào làm bãi buộc

Chải(39 hộ) (xã Lao Chải) và A Lù (33 hộ)
Tuy ở trên sườn núi cao như người Mèo, nhưng bản của người Hà
Nhì chủ yếu ở nơi đất thuận tiện với phương thức canh tác của họ.
Đặc trưng văn hóa: Đa số dân cư ở nhà đất, trình tường dày 30cm đến
40cm. Thích hợp với khí hậu lạnh vùng cao. Nhà ở vùng Y Tý, A Lù có
đặc điểm là tường cao (3-4m), mái dốc và ngắn. Ở vùng này nhà không có
hiên và chỉ có một cửa ra vào. Bên trong nhà lại có một lần tường có tác
dụng phòng thủ và chống rét, chống sương, mây mù lùa vào nhà. Lớp
tường ngoài và lớp tường trong cách nhau trừng 1,5m tạo nên khoảng trống
gọi là hiên trong. Ở bức tường thứ hai mở một hoặc hai cửa để vào trong
nhà. Nhà của người Hà Nhì ở Y Tý thường được bố trí như sau: hai gian ở
hai đầu được ngăn thành hai buồng dành cho vợ chồng của chủ gia đình và
con cái hoặc vợ chồng con trai. Khoảng 1/3 chiều rộng của hai gian giữa là
phần đất, phần còn lại được dựng thành sàn. Ở phần đất có bếp lò nấu cơm,
cám lợn , có chạn bát. Phần sàn là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi ngủ của con
cái, khách. Trên sàn còn có bếp lửa để sưởi.
Ở Mường Tè về căn bản nhà cũng được cấu trúc như ở Y Tý, A Lù,
nhưng tường và mái thấp hơn. Nhà có hàng hiên phía trước. tường trong
thường lát ván hay liếp (riêng ở hai xã Ka Lăng, Thu Lủm bức tường này
cũng được trình đất) chia nhà theo chiều dọc thành hai nửa bằng nhau hoặc
nửa ngoài nhỏ hơn một chút. Nửa ngoài là nơi tiếp khách, có một bếp sưởi
và cối giã gạo. Nửa trong không có sàn như nhà ở xã Y Tý, được ngăn
thành từng buồng riêng và có bếp lò để nâu cơm, nấu cám lợn.
Trang phục của phụ nữ có hai loại. Ở Tây Bắc đồng bào ưa màu sắc sặc sỡ,
về cơ bản họ mặc giống phụ nữ La Hủ, nhưng áo ngoài (ngắn) nhiều khi
không xẻ ở ngực mà lại cài cúc bên nách phải và chỉ trang trí bằng cách
đính những đồng xu, khuy bạc hình bán cầu, nhiều dải hạt cườm trên nửa
bên phải thân áo phía trước.
17
Ở Hoàng Liên Sơn, phụ nữ thường mặc giản dị hơn. Cách may cắt quần áo

Người Hà Nhì ở Bát Xát không có tục hay một vài năm với mục đích thờ
phụng tổ tiên hoặc giúp đỡ bố mẹ khi tuổi già. Trong những trường hợp
này, rể không phải đổi họ. tài sản của bố mẹ vợ do anh em, họ hàng bên vợ
chia nhau và chia cho con rể một phần. Ở Mường Tè tục ở rể tương đối phổ
biến. Trước kia thời gian ở rể thường là 3-4 nă, nhiều nhất là 10-12 năm. Ở
rể không phải mất tiền cưới. Ai không muốn ở rể thì phải trả tiền cưới
khoảng 100-150 đồng bạc trắng.
Người Hà Nhì có hai hình thức cưới: Do bố mẹ đi hỏi và không qua lễ hỏi.
Đồng bào ở Tây Bắc có tục vợ đổi họ theo chồng sau khi đã về nhà chồng.
Với quan niệm người chết sẽ sang sống ở một thế giới khác, đồng bàot rất
coi trọng việc tang ma. Theo phong tục, sau khi bố , mẹ chết con phải dỡ
ngay một tấm liếp ở buồng riêng của bố mẹ và phá bàn thờ đi. Đó là dấu
hiệu trong nhà có tang. Người chết được khâm liệm cẩn thận rồi đặt trên
giường ở gian giữa, đàu hướng về phía ban thờ vừa bị phá. Ở Hoàng Liên
Sơn, thi hài còn được đậy chiếu giống như tổ tò vò. Mỗi vùng có một
phong cách cúng khác nhau. Ở Tây Bắc cúng gà nướng (không cắt tiết, chỉ
vặt lông), ở Hoàng Liên Sơn cúng gà để nguyên lông (sau khi đã cắt tiết)
cùng một ống gạo.
Về tôn giáo, tín ngưỡng, người Hà Nhì tin vào sự tồn tại của linh hồn. Mỗi
người có 12 hồn. Trước kia hàng năm có tục gọi hồn cho tất cả mọi người
trong gia đình và cho gia súc. Người ta luôn luôn chú ý giữ gìn, bảo vệ
những linh hồn của mình. Khi anh cả chết, bàn thờ truyền cho các em trai
con của anh cả lại lập bần thờ riêng thờ bố mẹ mình.
Ở xã Mù Cả, họ thờ tổ tiên hai đời: bố mẹ và ông bà, nhưng khi ra ở riêng,
nếu bố mẹ còn sống, con cái vẫn chưa được lập bàn thờ. Ở người Hà Nhì
Cố Chồ, vợ chủ gia đình là người chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Nếu
anh và em ở chung, vợ của anh cả hay vợ của em út là người chăm sóc việc
cúng. Việc cúng bái trong nhóm Hà Nhì La Mí do đàn ông (anh cả hoặc em
út) đảm nhiệm.
19

Nhà ở của nguời Hà Nhì
ở Lao Chải – Y Tý – Bát Xát –Lào Cai
2.1 Khái quát về nhà ở của nguời Hà.
21
Vượt qua cổng trời, ngược lên đỉnh Nhù Cồ San (núi Sừng Trâu), con
đường lượn xoáy ốc qua những đỉnh núi đá chót vót, hun hút và dường như
đã đủ thử sức khách lữ hành, thôn Lao Chải của người Hà Nhì đen, huyện
Bát Xát, tỉnh Lào Cai hiện ra trong sương mờ của cao nguyên Y Tý.
Trên cao nhìn xuống, Lao Chải nằm giữa vùng núi đá và các đồi cỏ tranh
với những căn nhà trình tường trông giống những cây nấm khổng lồ mọc
bên sườn núi ở độ cao 2.660m so với mặt biển. Đó là những ngôi nhà của
dân tộc Hà Nhì- một trong những dân tộc ít người nhất Việt Nam.
Nếu là người ưa khám phá, Y Tý (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai) là điểm du
lịch đáng để bạn ghé thăm. Từ Sa Pa đã nổi tiếng qua những địa danh Tả
Giàng Phìn, Pa Cheo, Bản Xèo, Mường Hum, Sáng Ma Sáo, Dền Sáng,
Ngải Chồ cung đường với hơn 120 km nép mình trong mây ngàn, thoắt
ẩn, thoắt hiện giữa lưng trời, chơi vơi quanh những dãy núi hùng vĩ đệ nhất
địa đầu Tây Bắc.
Thôn Lao Chải có 76 hộ dân, là thôn có số người Hà Nhì đen sinh sống
đông nhất ở xã vùng cao biên giới Y Tý. Các ngôi nhà ở đây đều được làm
theo kiểu trình tường, bằng đất với hai vòng trong và ngoài. Tường nhà
thường đắp dày 40-45cm, cao khoảng 4,5-5m trong lõi có xếp đá cục, bằng
nắm tay. Mỗi ngôi nhà rộng 65-80m2, có mái dốc ngắn, bốn mái lợp cỏ
tranh, không có hiên. Ở giữa ngôi nhà có một cửa ra vào và một hoặc hai
cửa thông gió ở bên trái hoặc bên phải của lối đi. Bên trong có lần cửa thứ
hai cũng dày như tường ngoài. Sau lần cửa này là bếp và giường ngủ của
chủ gia đình.
Cách làm nhà trình tường của đồng bào Hà Nhì rất đặc biệt. Trước khi làm
nhà trình tường, các gia đình xem ngày giờ tốt, chọn miếng đất lành bằng
phẳng, rồi mổ gà nấu xôi cúng tế. Bà con chọn loại đất núi có độ kết dính

đối lớn và chắc chắn, những viên đá được chọn này gia chủ sẽ nhờ anh em
trong họ hay bà con trong xóm đến vận chuyển đá về bằng cách vần đá hay
cho đá vào gùi và mang về để làm móng nhà. Ngoài hai vật liệu chính là đá
và đất thì một số nguyên vật liệu khác như gỗ để làm xà cột, cây và cỏ
gianh cũng đóng vai trò quan trọng. Gỗ được dùng là loại gỗ to có tuổi thọ
dài và độ bền cao. Chính vì thế mà người dân nơi đây người ta chủ yếu
dùng loại gỗ lim, đinh và sến để làm vì kèo, vì cột vì thế mà tuổi thọ trung
bình của ngôi nhà trình tường thường được kéo dài từ 60 đến 80 năm. Cây
nhỏ cũng được đồng bào lấy từ trên đồi, núi hoạc xung quanh khu vực làm
nhà, các loại cây được dùng chủ yếu là cây vầu hoạc các loại cây gỗ tạp
khác. Cây này được dùng để cho vào khuôn trình tường nhà cùng với đá và
đất để tạo lên tường nhà chắc chắn hơn. Cuối cùng cỏ gianh được đồng bào
23
lấy về để lợp mái, cỏ gianh là loại cây thân mềm sống ở vùng đồi núi và
cạnh các khe suối nhỏ,nó rất dẻo và có độ dai chính vì đặc tính này mà
người ta dùng nó để làm mái nhà. Tất cả những nguyên vật liệu trên đều
góp phần tạo nên sự hoàn thiện của ngôi nhà trình tường có kiến trúc độc
đáo hài hòa tạo ra vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng.
2.2.1.2 Công cụ làm nhà
Để xây dựng được một ngôi nhà thì các dụng cụ để xây dựng đóng một
vai trò hết sức quan trọng. Dụng cụ để làm nhà của nguời Hà Nhì thuờng là
những vật dụng trong gia đình gắn bó với nguời dân trong những mùa vụ,
đó là những chiếc cuốc, thuổng, xà beng, gùi, bàn nện, chầy…và cái quan
trọng nhất không thể thiếu đó là chiếc khuôn dùng để trình tường. Bất kỳ
một dân tộc nào làm nhà trình tuờng đều phải có khuôn, khuôn được làm
với kích thước to nhỏ dài ngắn khác nhau tùy thuộc vào mỗi địa phương,
mỗi vùng miền và phụ thuộc vào chiều rộng và chiều cao của ngôi nhà mà
gia chủ định xây dựng nhưng thông thường khuôn thường rộng từ từ 40cm-
50cm và có chiều dài khoảng 2,5m. Miếng ván tạo thành khuôn thường có
độ dầy 3cm-5cm. Hầu hết các loại khuôn này đều được làm bằng các loại

người đến hộ. Và việc làm nhà này sẽ có sự góp mặt của cả những người
phụ nữ trong thôn. Một điều khác lạ là việc dựng nhà của bất kì hộ nào
trong bản cũng đều coi là việc làm chung của thôn, từ công đoạn đào móng
nhà, trình tường, lợp mái đều được làm theo hình thức đổi công. Công việc
làm nhà này sẽ có sự giúp sức của tất cả bà con trong bản việc này thể hiện
sự cấu kết cộng đồng rất cao của bà con trong bản nơi đây, sức mạnh đoàn
kết này có lẽ do nền văn minh nông nghiệp của ta từ lâu đời, để làm nông
nghiệp
25

Trích đoạn Ưu và nhược điểm của nhà trình tường dân tộc Hà Nhì đen Giải pháp nhà nước
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status