Thực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp phụ trội ô tô nước ta - Pdf 14

Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ (CNPT) 4
1.1. Các quan niệm về CNPT 4
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến CNPT 6
1.3. Sự tác động của CNPT đến nền kinh tế 7
II. THỰC TRẠNG NGÀNH ÔTÔ VIỆT NAM 10
2.1. Thực trạng ngành ôtô Việt Nam 10
2.2. Công nghiệp phụ trợ ôtô Việt Nam 16
III. GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CNPT ÔTÔ VIỆT NAM
25
3.1. Các giải pháp từ phía Nhà nước 25
3.2. Các giải pháp từ phía Doanh nghiệp 27
KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
1
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta, trong đó công nghiệp phụ trợ (CNPT) có thể
nói là một trong những ngành có vai trò thúc đẩy và xuyên suốt cho quá trình
này.
Là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng cao vượt bậc trong
năm qua với sản lượng tiêu thụ đạt hơn 100.000 chiếc (n¨m 2007), thị trường
ôtô Việt Nam đang được đánh giá là thị truờng đầy tiềm năng cho các nhà đầu
tư trong và ngoài nước. Đó là một trong những cơ hội cho thấy khả năng phát
triển cao của ngành công nghiệp quan trọng này và cũng là điều kiện để đẩy
nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Thế nhưng có một thực tế là ngành công nghiệp ôtô nước ta hiện nay vẫn
chưa phát triển một cách đầy đủ và hoàn thiện theo đúng nghĩa của nó. Với

I. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ (CNPT)
1.1. Các quan niệm về CNPT
Khái niệm công nghiệp phụ trợ (Supporting industry – SI – còn được gọi
là công nghiệp hỗ trợ) bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960, phổ biến ở Nhật
Bản và sau này là các nước công nghiệp trẻ châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan,
hay vùng lãnh thổ Đài Loan. Đây là những nơi mà chi tiết các sản phẩm hoàn
chỉnh cuối cùng. Chẳng hạn, để sản xuất một chiếc ôtô hoàn thiện, đòi hỏi từ
20000 đến 30000 linh kiện phụ tùng: động cơ, thân xe, giảm sóc và hàng trăm
linh phụ kiện khác… Và vì lẽ đó đương nhiên các nhà sản xuất ôtô không tự
mình cung ứng tất cả chi tiết đó, mà họ phải thuê các nhà cung cấp nội địa gia
công những bộ phận hay công đoạn không thực sự quan trọng. Nếu nhìn rộng
hơn, chúng ta sẽ thấy thực trạng tương tự trong các nghành công nghiệp khác
như ôtô, dệt may gia giầy, điện tử…
Như vậy CNPT là nền tảng cho sự phát triển của các nghành công
nghiệp chính yếu, nó cung cấp linh kiện, phụ tùng, nguyên phụ liệu… cho các
ngành công nghiệp sản xuất. Cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể
nào cho ngành CNPT ở Việt Nam và nó đang được hiểu như một ngành công
nghiệp phụ giúp cho việc lắp ráp các sản phẩm cuối cùng, thông qua việc
cung cấp các bộ phận, chi tiết hoặc các sản phẩm hàng hóa trung gian khác,
bao gồm các công nghệ và cơ sở sản xuất chuyên đảm nhiệm cung cấp đầu
vào (thiết kế, nguyên vật liệu, linh kiện, bán thành phẩm…). Nói cách khác,
thay vì sản xuất sản phẩm với tất cả các bộ phận chi tiết (sản xuất trọn gói),
các công đoạn sản phẩm sẽ được chuyên môn hóa thành từng phần, và mỗi
ngành công nghiệp chỉ sản xuất một phần của sản phẩm đó. Quá trình chuyên
môn hóa như vậy cũng được hiểu là CNPT.
4
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
Vì thế mà CNPT phải gắn kết với một sản phẩm hoặc một nhóm sản
phẩm công nghiệp (tức đối tượng được hỗ trợ) và việc phân cấp hỗ trợ là tùy
theo đặc tính công nghệ của sản phẩm hay nhóm sản phẩm đó.

tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ngành sản xuất nói riêng và nền kinh tế
nói chung. Chúng ta có thể hình dung CNPT như chân núi, tạo phần cứng để
hình thành nên than núi và đỉnh núi chính là ngành công nghiệp sản xuất và
lắp ráp các sản phẩm công nghiệp hoặc tiêu dung. Do vậy CNPT thông
thường phải phát triển trước làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của ngành
công nghiệp chính yếu.
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến CNPT
Là một ngành sản xuất quan trọng mà sản phẩm của nó trực tiếp tác động
đến sự phát triển và thành công của các ngành công nghiệp mà nó phụ trợ,
CNPT hiểu theo nghĩa giản đơn như vậy thôi đã phần nào cho thấy tầm quan
trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
Xét trong mối liên hệ mật thiết với các ngành sản xuất khác và toàn bộ
nền kinh tế, CNPT chịu ảnh hưởng của rất nhiều những yếu tố.
Trước hết đó là những cơ chế chính sách của nhà nước có tác động rất
lớn đến sự phát triển của các ngành CNPT. Những cơ chế chính sách này có
thể tạo những điều kiện thông thoáng cũng như những cản trở không nhỏ đến
sự phát triển của các ngành này.
Khả năng nguồn lực cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
sự phát triển của các ngành CNPT, đó là các nhân tố về điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên, khoáng sản, các điều kiện xã hội và nguồn lực con người
(một trong những nhân tố quyết định trực tiếp).
Trình độ công nghệ cao hay thấp, tiên tiến hay lạc hậu ảnh hưởng rất lớn
đến khả năng phát triển các ngành CNPT. Ở nước ta do sự thiếu thốn về
6
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
nguồn lực tài chính nên các công nghệ của ta rất lạc hậu, chính lý do này là
bước cản đường khiến các ngành sản xuất của ta chậm phát triển trong đó có
CNPT ôtô.
Ngoài ra còn có rất nhiều các yếu tố khác tác động đến sự phát triển của
các ngành CNPT nói riêng và nền kinh tế nói chung như môi trường kinh tế,

tùng, và đây chính là nguyên nhân trực tiếp nhất khiến ngành công nghiệp sản
xuất chính yếu kém phát triển. Ở nước ta có thể kể đến hàng loạt những ngành
sản xuất kém phát triển mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu CNPT gây nên.
Dệt may, gia dầy là hai ngành có đóng góp cao nhất trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của nước ta trong những năm gần đây nhưng có một thực tế là
chúng ta chủ yếu làm công việc gia công cho các đối tác nước ngoài, phải phụ
thuộc rất nhiều vào họ từ nguyên phụ liệu, mẫu mã, giá cả…chính vì vậy mà
sản phẩm sản xuất ra không có giá trị gia tăng cao, khả năng cạnh tranh yếu
kém và thường xuyên xảy ra các vụ kiện tụng thương mại rắc rối. Ngoài ra
không thể không kể đến các ngành như cơ khí chế tạo máy, ôtô xe máy, điện
tử tin học cũng là những ngành mũi nhọn mà chúng ta hướng tới nhưng lại
không thể phát triển mạnh vì bài toán CNPT kém phát triển như hiện nay ở
nước ta.
Nếu CNPT phát triển điều đó đồng nghĩa với việc tỷ lệ nội địa hóa sẽ
được nâng cao, sản phẩm được sản xuất ra với chi phí và giá thành thấp do
không phải nhập khẩu linh phụ kiện, bán thành phẩm…từ đó có thể nâng cao
được năng lực và vị thế cạnh tranh của các sản phẩm, doanh nghiệp trong
nước. Tạo điều kiện mở rộng xuất khẩu ra thị trường khu vực và thế giới.
Đồng thời việc phát triển CNPT cũng là một minh chứng cho trình độ chuyên
môn hóa cao, các doanh nghiệp tập trung sản xuất một bộ phận, chi tiết của
sản phẩm từ đó nâng cao trình độ chuyên môn hóa, hiệp tác hóa tạo điều kiện
tăng khả năng cạnh tranh.
8
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
Phát triển CNPT còn là lời giải cho bài toán giải quyết lao động dư dôi
và thất nghiệp ngày một đông ở nước ta. CNPT phát triển sẽ thu hút rất nhiều
lao động ở tất cả mọi ngành nghề, lĩnh vực đồng thời góp phần khai thác hợp
lý các nguồn lực trong nước, tận dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn
tài nguyên sẵn có. Từ đó giảm tỷ lệ nhập siêu các nguyên phụ liệu và giảm tỷ
lệ xuất khẩu các sản phẩm thô. Đó chính là biện pháp khai thác nguồn tài

hạ nguồn. Từ đó tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào phát triển
công nghiệp. Sự phát triển của CNPT tạo nên những mắt xích quan trọng, có
ảnh hưởng lan tỏa trong hệ thống công nghiệp ở những khu vực có lợi thế,
giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng vừa mở
rộng vừa chuyên sâu. Tạo sự phát triển bền vững và toàn diện cho nền kinh tế
nước ta nói chung.
Trong buổi đầu tiên của quá trình hội nhập với kinh tế thế giới này, sức
ép cạnh tranh đối với tất cả các ngành kinh tế nói riêng và cả nền kinh tế nước
ta nói chung là vô cùng lớn. Có rất nhiều khó khăn và thử thách cần phải đối
mặt và vượt qua, trong đó có phát triển CNPT nhằm vào một số ngành trọng
điểm để có thể duy trì sự tồn tại và nâng cao khả năng cạnh tranh của các
ngành này là rất quan trọng bởi lẽ những tác động mà một ngành CNPT phát
triển mang lại là vô cùng to lớn.
II. THỰC TRẠNG NGÀNH ÔTÔ VIỆT NAM
2.1. Thực trạng ngành ôtô Việt Nam
Chẳng còn phải bàn cãi gì về vai trò và tầm quan trọng của công nghiệp
ôtô đối với bộ mặt và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nữa. Bởi một lẽ
rất hiển nhiên là những quốc gia có nền công nghiệp ôtô phát triển cũng chính
là những quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới như: Nhật Bản,
Hàn Quốc, Mỹ, Đức…
10
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
Công nghiệp ôtô là một ngành công nghiệp mang tính tổng hợp cao, đó
là nơi quy tụ những thành tựu tiên tiến nhất của khoa học kỹ thuật. Những bộ
phận trong ngành ôtô là những công nghệ cao từ các kết quả nghiên cứu áp
dụng của toán học, vật lý học, hóa học, vật liệu (hệ thống nhún, hệ thống
thắng, dầu nhớt, bánh xe, bố thắng ) và của cả ngành điện tử (chip điện tử,
chip design ). Hơn nữa sản phẩm ôtô là sản phẩm có thị trường tiêu thụ cao
(nếu biết làm) vì thế nếu xây dựng được ngành công nghiệp ôtô thì sẽ thúc
đẩy kinh tế Việt Nam phát triển bền vững hơn (từ tiếp thu công nghệ đến đào

nghiệp ô tô là nhu cầu về ô tô của thị trường Việt Nam tương đối nhỏ, chỉ
khoảng 80.000 xe/ năm, trong khi đó ASEAN là 2,1 triệu xe/ năm; Trung
Quốc 5,2 triệu xe/ năm; Nhật Bản 5,9 triệu xe/ năm… Đến nay, số lượng xe ô
tô ở Việt Nam mới chỉ đạt 8 xe/1.000 dân, trong khi ở Trung Quốc là 24
xe/1.000 dân; Thái Lan 152 xe/1.000 dân; Hàn Quốc 228 xe/1.000 dân; Mỹ
882 xe/1.000 dân Bên cạnh đó, ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công
nghiệp sản xuất ô tô cũng chưa phát triển. Hiện tại ở Việt Nam mới có gần 40
nhà sản xuất FDI và 30 nhà sản xuất trong nước cung cấp linh kiện cho ô tô.
Theo ông Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược Chính
sách công nghiệp: Hiện Việt Nam còn có quá ít nhà phụ trợ. Theo tính toán,
để tránh khỏi lắp ráp giản đơn thì một doanh nghiệp ô tô phải cần tối thiểu 20
nhà cung cấp với nhiều loại linh kiện khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay chưa
doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô nào tại Việt Nam có được 20 nhà cung cấp
linh kiện trong nước. Lại nói đến CNPT có thể cho rằng mọi lời giải, mấu
chốt của vấn đề phát triển ngành ôtô nước ta đều nằm ở đây. Thế nhưng lời
giải ấy không phải chỉ một hai ngày hay vài cấp, vài doanh nghiệp và vài lời
nói là có thể giải quyết được. Nó đòi hỏi sự quan tâm cũng như cố gắng của
tất cả các ban ngành có liên quan, các doanh nghiệp và của cả ngành công
nghiệp trọng điểm này nữa.
12
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
Theo ông Ngô Văn Trụ, Phó vụ trưởng Vụ Cơ khí, Luyện kim và Hóa
chất (Bộ Công nghiệp trước đây), đối với bài toán phát triển ngành công
nghiệp ôtô Việt Nam thì vấn đề mấu chốt chính là ở ngành công nghiệp phụ
trợ. Thế nhưng, Việt Nam lại là nước đi sau các nước trong khu vực hàng
chục năm, và đang trong giai đoạn hội nhập, công nghiệp ôtô Việt Nam sẽ
càng gặp nhiều khó khăn.
Dù đã được bảo trợ hơn 10 năm song nói như các chuyên gia kinh tế,
"hình bóng" ngành công nghiệp ôtô Việt Nam vẫn rất mờ nhạt bởi tỷ lệ nội
địa hóa chưa đáng là bao. Có người ví von, công nghiệp ôtô Việt Nam mới là

thiết sau:
Thứ nhất là phải tạo thị trường để các hãng ô tô mạnh dạn đầu tư. Cần
biết, năm 2006 Trung Quốc đã sản xuất trên 7 triệu chiếc ô tô và năm 2008 có
khả năng làm ra 9 triệu chiếc. Nếu Việt Nam chỉ giới hạn ở con số 220.000 xe
trong năm 2020 như mục tiêu đã đề ra thì đó chỉ là sự "tính toán tiểu thương"
mà thôi. Nhưng muốn mở rộng thị trường trong nước thì ngoài việc giảm thuế
nhập khẩu đối với ô tô nguyên chiếc (theo lộ trình cam kết trong WTO chúng
ta buộc sẽ phải giảm, nhưng cần giảm sớm hơn lộ trình để cho các doanh
nghiệp sản xuất ô tô "có dịp cọ xát"), trước hết phải bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt
50% đối với ô tô. Đây là loại thuế không thuyết phục được người tiêu dùng và
"không giống ai" trên thế giới. Thay vào đó sẽ áp dụng các loại thuế và phí
sau đây:
Thuế môi trường. Loại thuế này sẽ đánh cao hay thấp tùy theo kỹ thuật
của xe (ít tiêu hao nhiên liệu, ít khí thải thì thu thuế môi trường thấp và ngược
lại). Làm như vậy không những giá xe sẽ giảm, thị trường tiêu thụ mở rộng
mà còn tạo được sức ép để các nhà sản xuất đưa vào thị trường những sản
phẩm kỹ thuật có chất lượng cao nhất của thế giới. Để được công bằng, những
người đã mua xe trước khi bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ được miễn giảm thuế
môi trường tương đương trong một thời gian thích hợp.
14
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
Phí tham gia giao thông trong thành phố. Loại phí này mang nhiều ý
nghĩa. Nhiều người tiêu dùng sở hữu một chiếc xe vì nhiều lý do, chưa hẳn họ
sử dụng thường xuyên trong thành phố, nên phí này sẽ là một nghĩa vụ công
bằng. Phí này sẽ tính theo cường độ tham gia giao thông, ai chạy xe trong
thành phố nhiều phải trả nhiều, ai chạy xe ít trả ít, tham gia giao thông giờ cao
điểm trả nhiều hơn so với giờ bình thường. Phương pháp này đã được nhiều
nước áp dụng, gần ta nhất là Singapore, ai sang đó sẽ thấy. Kỹ thuật thu phí
cũng không có gì là mới mẻ, chỉ cần tham khảo kinh nghiệm các nước là biết
làm. Với phương pháp này, chúng ta có thể điều tiết giao thông mà không cần

tổng hợp khác nữa nhằm ngày một hoàn thiện ngành công nghiệp ôtô Việt
Nam, từ đó góp phần vào phát triển kinh tế và hoàn thành sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
2.2. Công nghiệp phụ trợ ôtô Việt Nam
2.2.1. Thực trạng
Từ những trình bày trên đây chúng ta đã hiểu được vai trò vô cùng quan
trọng mà CNPT nói chung và CNPT ôtô nói riêng tác động đến sự phát triển
của nền kinh tế nước nhà. Có thể nói rằng CNPT Việt Nam mới chỉ đang thai
nghén, vẫn vô cùng sơ khai và manh mún trong tất cả các ngành không chỉ
riêng gì ngành ôtô. Với xuất phát điểm thấp kém lại bị chiến tranh tàn phá
nặng nề, nước ta gặp rất nhiều những khó khăn cả về vốn và công nghệ. Tuy
nhiên không phải như thế nghĩa là CNPT Việt Nam không có cơ hội để phát
triển. Chúng ta có rất nhiều tiềm năng nhưng có lẽ vai trò của CNPT mà điển
hình là CNPT ôtô chưa hề được quan tâm đúng mức. Chỉ khi mà thực trạng
những ngành công nghiệp chính yếu quá nghèo nàn và chậm phát triển thì
người ta mới quan tâm đến vai trò quan trọng của CNPT.
16
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
Điều đầu tiên thể hiện sự thiếu quan tâm đến CNPT đó là thiếu định
nghĩa pháp lý về CNPT, còn nhiều những cách hiểu, quan niệm khác nhau
giữa các cơ quan, chính phủ cũng như các doanh nghiệp. Chính vì vậy ở Việt
Nam nói đến CNPT nhiều doanh nghiệp vẫn rất mơ hồ chứ chưa nói gì đến
định hướng cho doanh nghiệp mình làm CNPT.
Được biết theo dự thảo quy hoạch phát triển CNPT của Viện Nghiên cứu
Chiến lược (Bộ Công nghiệp trước đây) giai đoạn 2001 – 2010, tầm nhìn
2020, trong 4 ngành được ưu tiên phát triển CNPT, ôtô được coi là một trong
những ngành quan trọng nhất. Ngoài ra còn có các ngành khác đó là: cơ khí,
điện tử - tin học và dệt may - gia dầy. Mặc dù vậy không thể phủ nhận thực tế
là CNPT ôtô nói riêng và CNPT nói chung ở Việt Nam hiện nay là vô cùng

(chỉ đáp ứng được khoảng 2,3 doanh ngiệp lắp ráp) như trên là quá ít ỏi để
đảm bảo cho một ngành công nghiệp mũi nhọn như ôtô phát triển được ở Việt
Nam theo kỳ vọng của nhiều người.
Diện mạo các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện cho ôtô trong nước
tưởng là ít thì có cơ để làm ăn và cứ thế mà phát triển, không phải cạnh tranh
với ai, song nhìn toàn cảnh người ta chỉ thấy có một “gương mặt” buồn.
Doanh nghiệp sản xuất phụ tùng ôtô đã ít, quy mô sản xuất lại rất yếu, cộng
với chất lượng thậm chí chưa đạt tới tiêu chuẩn trong nước chứ chưa nói đến
việc sẽ đáp ứng được các tiêu chuẩn của nước ngoài. Số doanh nghiệp đạt
được “một vài” tiêu chuẩn của quốc tế chỉ đếm trên đầu ngón tay. Một số
doanh nghiệp trong nước đã và đang tiếp cận với công nghệ hiện đại để phục
vụ thị trường, tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp này lại mắc phải một căn
bệnh trầm kha là không có vốn, trình độ lao động vận hành công nghệ chuyển
giao không có. Chính vì thực trạng đó mà hầu hết các doanh nghiệp lắp ráp
trong nước đều phải nhập khẩu linh kiện và phụ tùng trực tiếp từ các nước
như Trung Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a Mặc dù nhập khẩu
như vậy nhưng không phải điều kiện nhập hàng và chất lượng hàng lúc nào
18
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
cũng đồng đều và thuận lợi. Các hãng xe như Toyota, Ford, Mazda… có nhà
máy tại Việt Nam thời gian qua phải nhập khẩu phụ tùng ở nước ngoài về
phục vụ lắp ráp cho các nhà máy ôtô của họ. Hãng nào nhập ít cũng phải từ
vài trăm triệu USD mỗi năm. Ví như hãng Toyota, năm 2002 đã nhập khẩu
linh kiện trị giá 150 triệu USD, năm 2005 nhập đến 460 triệu USD, hãng
Mazda cũng nhập giá trị linh kiện tới 280 triệu USD. Trong khi các doanh
nghiệp lắp ráp phải đi nhập linh kiện từ nước ngoài về thì việc sản xuất các
linh kiện phụ tùng trong nước như “chơi vui” và cũng chỉ sản xuất được một
số sản phẩm “dễ” như săm lốp, dây điện. Doanh thu cả năm chưa bằng một số
lẻ của các hãng nhập về, cụ thể là năm 2005 doanh thu từ sản xuất linh kiện
chỉ đạt 2,3 triệu USD.

xuất được loại thép này. Vì vậy, với mức tiêu thụ như hiện tại không biết bao
giờ chúng tôi mới thu hồi lại vốn", ông Thắng nói. Đây là lý do rất nhiều nhà
cung cấp phụ tùng trong nước từ chối lời đề nghị hợp tác từ TMV.
Có rất nhiều doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ôtô khi được hỏi phấn đấu
nội địa hóa được bao nhiêu thì trả lời khoảng 30% nhưng khi hỏi sẽ nội địa
hóa cái gì thì trả lời lung tung. Đó là chưa kể, hiện rất nhiều đơn vị đang đầu
tư, đã đầu tư hoặc những người muốn đầu tư còn chưa nhận thức rõ, chưa
nắm rõ khi mình sản xuất linh kiện sẽ là linh kiện gì và có thể cung cấp cho
ai…Đó chính là một biểu hiện thực trạng yếu kém của CNPT ôtô Việt Nam.
(Trích dẫn lời ông Ngô Văn Trụ, Phó vụ trưởng Vụ Cơ khí, Luyện kim và
Hóa chất Bộ Công nghiệp trước đây).
Sau hơn 10 được bảo hộ, với những cam kết ban đầu của nhiều liên
doanh lắp ráp và sản xuất ôtô là phấn đấy nội địa hóa 30 – 40% sau khi đầu tư
vào Việt Nam nhưng thực tế cho đến nay chỉ có một số ít các doanh nghiệp
đạt được con số khoảng 20%. Trong khi đó theo chiến lược thì ngành ôtô phải
phấn đấu đến năm 2010 đưa con số nội địa hóa lên 50%, liệu con số ấy có là
quá lạc quan cho một nền CNPT kém phát triển như ở nước Việt Nam ta.
20
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
Đúng vậy CNPT yếu là thế nhưng mọi vấn đề đều có nguyên nhân của
nó, vậy thì nguyên nhân vì sao mà CNPT nước ta lại yếu và thiếu đến như thế.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này cụ thể có một số nguyên
nhân quan trọng sau.
Đầu tiên phải kể đến đó là sự nhận thức chưa thật sự đúng đắn và đầy đủ
của các doanh nghiệp cũng như các bộ, ban ngành, cơ quan quản lý nhà nước
về CNPT và vai trò của nó. Vẫn có sự lẫn lộn, không thống nhấy giữa các
ngành, các cấp và các doanh nghiệp. Nhiều ngành nhiều doanh nghiệp nói đến
CNPT vẫn không biết đó là gì và làm CNPT nghĩa là phải làm gì. Và cũng
như đã nói trong phần thực trạng thì đó là sự thiếu vắng của một khái niệm
pháp lý về CNPT nói chung và CNPT ôtô nói riêng.

chung chưa phhát triển đó là do các nhà sản xuất và lắp ráp nước ngoài thiếu
thông tin về các công ty cung cấp linh kiện trong nước. Các doanh nghiệp
Nhật Bản cho biết hiện nay, họ phải dùng danh bạ điện thoại, các mối quan hệ
cá nhân của nhân viên hoặc chia sẻ thông tin giữa những nhóm người Nhật để
tìm đối tác. Một doanh nghiệp Nhật cho biết họ đã đến thăm khoảng 100
doanh nghiệp Việt Nam mới tìm được một nhà cung cấp linh kiện phù hợp.
Để bắt nhịp với làn sóng nội địa hoá, các doanh nghiệp Nhật cho rằng Việt
Nam cần sớm xây dựng các cơ sở dữ liệu hiệu quả về công nghiệp phụ trợ.
Đây sẽ là cơ sở hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật tăng tỷ lệ nội địa hoá và cho
phép các công ty sản xuất linh kiện trong nước thiết lập quan hệ với các công
ty sản xuất nước ngoài.
Cũng cần phải nói đến một nguyên nhân khách quan đó là do xuất phát
điểm của nước ta quá thấp, đi lên từ một nền nông nghiệp nghèo nàn lại bị tàn
phá nặng nề sau hai cuộc chiến tranh, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trên tất
cả mọi vấn đề như: cơ sở hạ tầng phải xây dựng lại gần như toàn bộ, nguồn
vốn cho đầu tư xây dựng và phát triển thiếu trầm trọng, công nghệ nghèo nàn
lạc hậu, nhân lực yếu kém do không có điều kiện để học tập, đào tạo và phát
22
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
triển…Nhiều doanh nghiệp trong nước muốn đầu tư phát triển nhưng đều gặp
phải bài toán khó giải quyết đó là lấy vốn ở đâu ra, nguồn nhân lực trình độ
cao thì rất ít, với lại để đầu tư xây dựng và phát triển được một doanh nghiệp
chuyên cung cấp linh phụ kiện ôtô đạt tiêu chuẩn và có khả năng cung ứng tốt
cả về số lượng và chất lượng phải đầu tư rất lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng,
mua dây truyền thiết bị kỹ thuật công nghệ cao, thời gian thu hồi vốn chậm.
Doanh nghiệp nước ngoài cũng gặp phải vấn đề tương tự như vậy ở trình độ
lao động nước ta còn nhiều yếu kém.
Đồng thời cũng cần phải nói rằng chưa có một sự quan tâm đúng đắn
đến vai trò, tác động mà CNPT mang lại cho sự phát triển ngành ôtô nói riêng
và các ngành kinh tế khác nói chung của các doanh nghiệp, các bộ, ban

Minh chứng thứ ba đó là sự lên ngôi của các doanh nghiệp tư nhân trên
tất cả mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Những năm gần đây chúng ta đã
được chứng kiến sự lớn mạnh và trỗi dậy của những doanh nghiệp khu vực tư
nhân, vai trò của những doanh nghiệp này đang được đánh giá vô cùng quan
trọng trong đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà cũng như bộ
mặt của đất nước. Đã qua rồi cái thời chiếm thế độc quyền của các doanh
nghiệp nhà nước vốn đã già nua và cũ kỹ. Các doanh nghiệp tư nhân nổi lên
như một sức trẻ vươn mình trỗi dậy, có thể nói đến hai cái tên nổi bật trong
ngành sản xuất và lắp ráp ôtô đó là xí nghiệp tư nhân Xuân Kiên (Vinaxuki)
và công ty ôtô Chu Lai – Trường Hải (Thaco). Đó là những doanh nghiệp tư
nhân đã rất thành công trên con đường chinh phục ngành công nghiệp đầy
khó khăn và thử thách này.
Ngoài ra có thể dễ dàng nhận thấy rằng nước ta có rất nhiều những lợi
thế cho việc phát triển CNPT, cụ thể đó là nguồn tài nguyên khoáng vật rất
phong phú và đa dạng, lao động Việt Nam nổi tiếng có tay nghề khéo léo, giá
nhân công ở Việt Nam vào mức thấp đồng thời các chi phí ở Việt Nam cũng
24
Sinh viªn: TrÇn quèc ViÖt GVHD: Hoµng Thanh H¬ng
thấp hơn so với nước ngoài. Điều tra của JBIC cũng cho thấy, khoảng 32% số
công ty Nhật Bản coi Việt Nam là nước tiềm năng để phát triển sản xuất và tỏ
rõ sự quan tâm tới Việt Nam, coi đây như là ‘’nơi phân chia rủi ro của các
nước khác’’. Ngành Công nghiệp chế tạo Nhật Bản cũng xác định, trong 3
năm tới, trong số các nước có tiềm năng phát triển sản xuất, Việt Nam được
đặt ở vị trí thứ 4 sau Trung Quốc, Thái Lan và Mỹ. Theo đánh giá của ngài
Tomoharu Washio, Phó chủ tịch Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản
(Jetro), cho rằng nếu so với Thái Lan, một trong những quốc gia hàng đầu về
công nghiệp phụ trợ, Việt Nam không chỉ có khả năng theo kịp mà còn có thể
vượt qua.
Một tín hiệu đáng mừng nữa đến với ngành CNPT ôtô nước ta là gần đây
một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status