1
Tiểu luận Tỷ giá hối đoái và vai trò của ngân hàng Trung
ương trong việc điều hành chính sách tỷ giá
2
MỞ ĐẦU
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, các mối quan hệ kinh tế trên mọi
lĩnh vực của một quốc gia ngày càng được mở rộng ra các nước, do đó vấn đề thanh toán,
định giá, so sánh, phân tích, đánh giá về mặt giá trị và hiệu quả trở nên phức tạp hơn nhiều.
Đơn vị thanh toán không chỉ còn bó hẹp tiền tệ trong nước mà còn phải sử dụng các loại
ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc trao đổi tiền tệ của nước khác. Tiền của mỗi nước được
quy định theo pháp luật của nước đó và đặc điểm riêng của nó, vì vậy phát sinh nhu cầu tất
yếu là phải so sánh giá trị, sức mua của đồng tiền trong nước với ngoại tệ và giữa các ngoại tệ
với nhau. Hoạt động chuyển đổi đồng tiền này thành đồng tiền khác trong quá trình quan hệ
giữa các nước nhóm nước với nhau đã làm nảy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái.
số lượng nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ.
Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp hơn giá trị ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai.
Chẳng hạn ở Việt Nam người ta thường nói đến số lượng đồng Việt Nam nhận được khi đổi
một đồng USD, DEM hay một FFR …
Có hai loại giá: giá trong nước (giá quốc gia) phản ánh những điều kiện cụ thể của sản
xuất trong một nước riêng biệt, và giá ngoại thương (giá quốc tế) phản ánh những điều kịên
sản xuất trên phạm vi thế giới. Tiền tệ là vật ngang giá chung của toàn bộ khối lượng hàng
hoá và dịch vụ trong nước. Tỷ giá thể hiện sự tương quan giữa mặt bằng giá trong nước và
giá thế giới. Tỷ giá dùng để tính toán và thanh toán xuất, nhập khẩu (không dùng để ổn định
giá hàng hoá sản xuất trong nước). Tỷ giá hàng xuất khẩu là lượng tiền trong nước cần thiết
để mua một lượng hàng xuất khẩu tương đưong với một đơn vị ngoại tệ. Tỷ giá hàng nhập
khẩu là số lượng tiền trong nước thu được khi bán một lượng vàng nhập khẩu có giá trị một
đơn vị ngoại tệ.
1.2. Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường
- Dựa trên tiêu thức là đối tượng quản lý:
+ Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do ngân hàng công bố chính thức trên thị trường để
làm cơ sở tham chiếu cho các hoạt động giao dịch, kinh doanh, thống kê…
+ Tỷ giá thị trường: tỷ giá được hình thành thông qua các giao dịch cụ thể của các
thành viên thị trường .
+ Tỷ giá danh nghĩa : là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so với nhau, đồng này đổi
được bao nhiêu đồng kia .
+ Tỷ giá thực: là tỷ giá phản ánh tương quan giá cả hàng hoá của hai nước được tính
theo một trong hai loại tiền của hai nước đó hoặc là giá trị tính bằng cùng một đồng tiền của
hàng xuất khẩu so với giá hàng nhập khẩu.
- Dựa trên kỹ thuật giao dịch:
+ Tỷ giá mua/bán trao ngay, kéo theo việc thay đổi ngay các khoản tiền
+ Tỷ giá mua/bán kỳ hạn ,kéo theo việc trao đổi các khoản tiền vào một ngày tương
lai xác định.
1.3. Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở
- Thứ nhất, Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) và ngoại thương: Tỷ giá giữa đồng nội tệ và
hàng nội địa vẫn bán được nhiều ngay cả với giá cao hơn của đồng nội tệ. Cầu đối với hàng
xuất của một nước tăng lên làm cho đồng tiền nước đó giảm giá.
2. Chính sách tỷ giá hối đoái và những tiền đề, mục tiêu cho việc hoạch định
chính sách tỷ giá hối đoái.
2.1. Chính sách tỷ giá hối đoái .
2.1.1. Khái niệm: Chính sách TGHĐ là một hệ thống các công cụ dùng để tác
động tới cung cầu ngoại tệ trên thị trường từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái
nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái tập trung
5
chú trọng vào hai vấn đề lớn là : vấn đề lựa chọn chế độ (hệ thống) tỷ giá hối đoái (cơ chế
vận động của tỷ giá hối đoái) và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái .
2.1.2. Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Trong nền kinh tế mở, động cơ hoạch định chính sách là những mục tiêu cân đối bên
trong và bên ngoài. Trên đây là hai nhóm mục tiêu cơ bản mà chính sách tỷ giá cuối cùng
phải hướng đến .Tuy nhiên trong giai đoạn nhất định nào đó, chính sách tỷ giá cũng có thêm
những mục tiêu cụ thể như: thường xuyên xác lập và duy trì mức tỷ giá cân bằng, duy trì và
bảo vệ giá trị đồng nội tệ, tiến tới thực hiện đầy đủ chức năng của đồng tiền (bao gồm việc
thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng tiền), gia tăng dự trữ ngoại tệ.
* Mục tiêu cân bằng nội: Là trạng thái ở đó các nguồn lực của một quốc gia được
sử dụng đầy đủ, thể hiện ở sự toàn dụng nhân công và mức giá cả ổn định. Mức giá biến
động bất ngờ có tác động xấu đến các khoản tín dụng và đầu tư. Chính phủ cần ngăn chặn
các đợt lên hay xuống phát triển đột ngột của tổng cầu để duy trì một mức giá cả ổn định có
thể dự kiến trước được. Vì vậy, tỷ giá hối đoái được xem như là một công cụ đắc lực, hỗ trợ
hiệu quả cho Chính phủ trong việc điều chỉnh giá cả, đặc biệt là trong nền kinh tế, xu thế hội
nhập quốc tế như hiện nay.
* Mục tiêu cân bằng ngoại: Khái niệm "cân bằng ngoại" khó xác định hơn nhiều so
với "cân bằng nội", nó chủ yếu là sự cân đối trong "tài khoản vãng lai". Tuỳ thuộc vào điều
kiện kinh tế, chính trị xã hội của một quốc gia mà Chính phủ phải có cách để điều chỉnh tỷ
Trong chế độ bản vị vàng, khi việc đúc tiền vàng, đổi tiền ra vàng và xuất nhập khẩu
vàng được thực hiện tự do thì tỷ giá hối đoái tách khỏi ngang giá vàng là rất ít vì nó bị giới
hạn bởi các điểm vàng. Thực hiện xuất nhập khẩu vàng sẽ quay quanh "điểm vàng". Giới
hạn lên xuống của tỷ giá hối đoái là ngang giá vàng cộng (hoặc trừ) chi phí vận chuyển vàng
giữa các nước hữu quan. Điểm cao nhất của tỷ giá hối đoái gọi là "điểm xuất vàng" vì vượt
quá giới hạn này, vàng bắt đầu "chảy ra khỏi nước". Điểm thấp nhất của tỷ giá hối đoái là
"điểm nhập vàng" vì xuống dưới giới hạn này, vàng bắt đầu "chảy vào trong nước".
Chế độ bản vị vàng có tính ổn định cao, tiền tệ không bị mất giá, tỷ giá ít biến động,
cán cân thương mại tự động cân bằng. Chế độ này có khả năng tự điều tiết khối lượng tiền tệ
trong lưu thông mà không cần đến sự can thiệp của Nhà nước, do đó nó có tác động tích cực
đối với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn đầu phát triển. Tuy nhiên chế độ bản vị
vàng tồn tại không lâu, đến 1914 nó sụp đổ do nhiều nguyên nhân
Chế độ tỷ giá cố định theo thoả ước Bretton Woods (1946 - 1971)
Nhằm ổn định lại sự phát triển thương mại quốc tế và thiết lập một trật tự thế giới mới
sau thế chiến thứ hai, Mỹ, Anh và 42 nước đồng minh đã họp hội nghị tại Bretton Woods
(Mỹ) tháng 7/1944 để bàn bạc xây dựng hệ thống tiền tệ và thanh toán chung. Tại đây 56
nước ký tên hiệp định chấp nhận thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới
(WB) và một chế độ tỷ giá hối đoái mới. Theo chế độ này, các nước cam kết duy trì giá trị
đồng tiền của mình theo đồng USD hoặc theo nội dung vàng trong phạm vi biến động không
quá 1% tỷ giá đăng ký chính thức tại quỹ. Nếu các nước tự thay đổi tỷ giá mà không được
sự đồng ý của IMF thì sẽ bị phạt cấm vận. NHTW các nước phải can thiệp vào thị trường
tiền tệ nước mình để giữ cho tỷ giá nước mình không thay đổi bằng cách mua bán đồng
USD.
Trong 25 năm độc quyền phát hành tiền tệ, Mỹ đã lợi dụng đồng USD để thu hút của
cải các nơi trên thế giới về tay mình. Hàng trăm tỷ USD được thả lang thang đi khắp các
nước mà không có gì bảo đảm, gây ra lạm phát USD. Chế độ Bretton Woods ngày càng bộc
lộ những hạn chế mà bản thân nó không tự khắc phục được.
7
Vào những năm 60, bối cảnh kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, khoa học kỹ thuật phát
tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị trường, chính phủ chỉ can thiệp khi có
những biến động mạnh vượt quá mức độ cho phép. Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ:
+ Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu và sẽ can
thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó.
+ Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá chính thức có
vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ dao động cho phù hợp với từng thời kỳ.
8
+ Kiểu tỷ giá đeo bám: Chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước làm tỷ giá mở
cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp.
2.2.2 Cơ sở lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái
Việc lựa chọn chế độ tỷ giá xoay quanh 2 vấn đề chính : Mối quan hệ giữa các nền
kinh tế quốc gia với cả hệ thống toàn cầu và mức độ linh hoạt của các chính sách kinh tế
trong nước.
Thứ nhất, lựa chọn chế độ tỷ giá là lựa chọn hệ thống mở của hay đóng cửa.Các
phương án lựa chọn hệ thống tỷ giá thiên về hoặc tỷ giá cố định hoặc tỷ giá linh hoạt.Một
quốc gia lựa chọn tỷ giá cố định tức là chấp nhận sự ràng buộc đối với các chính sách kinh tế
quốc gia.Các chính sách kinh tế của quốc gia phải phù hợp với duy trì tỷ giá hối đoái cố
định,vì vậy việc hoạch định chính sách đối nội trở thành ngoại sinh và tuân thủ theo thoả ước
tỷ giá.Từ đó có thể thấy rằng sự lựa chọn này ngang với việc áp đặt các ràng buộc quốc tế
vào các chính sách kinh tế quốc gia.Nói rộng hơn, lựa chọn cơ chế tỷ giá cố định tương
đương với lựa chọn một hệ thống mở cửa,trong đó luôn có sự tương tác giữa các nhân tố
quốc gia và cả hệ thống thế giới.Ngược lại,phương án tỷ giá linh hoạt, về nguyên tắc không
chấp nhận một sự ràng buộc nào vào các chính sách kinh tế đối nội.Các chính sách có tác
động gì đi nữa thì sự giao động tỷ giá sẽ giữ chúng chỉ gây ảnh hưởng trong phạm vi quốc
gia.Và tương ứng với điều đó,kết quả của các chính sách kinh tế nước ngoài dù thế nào đi
chăng nữa thì điều chỉnh tỷ giá sẽ giữ chúng ngoài phạm vi quốc gia.Thực tế, lựa chọn này
giữ cho chính sách quốc gia không bị ràng buộc quốc tế.Nói rộng hơn,lựa chọn cơ chế hối
đoái linh hoạt sẽ tach rời nền kinh tế quốc gia khỏi môi trường quốc tế.
Thứ hai, chúng ta cần quan tâm đến mức độ linh hoạt của các chính sách kinh tế đối
xem như tương đương 1:1. Do đó, TGHĐ chính thức giữa đồng Việt Nam và Dola Mỹ vào
năm 1985 là 1USD=18VND)
Cũng bắt đầu từ năm này, thị trường ngoại tệ chợ đen mà chủ yếu là thị trường Dola
Mỹ bắt đầu bột phát một cách mạnh mẽ, dòng kiều hối của kiều bào đổ về thay thế cho
những kiện hàng quà biếu mà một phần đáng kể là dưới hình thức bất hợp pháp. Những
lượng lớn Dola Mỹ được cất trữ từ khi miền Nam được giải phóng bởi các tiểu tư sản Sài
Gòn cũ cũng bắt đầu được tung ra ít nhiều.Thứ ba, cùng với việc xoá bỏ ngăn sông cấm chợ
thì dòng chảy hàng buôn lậu qua biên giới cũng gia tăng theo. Mức TGHĐ trên thị trường
chợ đen được hình thành và vận động theo những tín hiệu quy luật thị trựờng đã có một sự
chênh lệch lớn so với tỷ giá chính thức.
Tóm lại, TGHD được xác lập và vận hành ở Việt Nam trong giai đoạn trước tháng
3/1989 là một hệ thống khá phức tạp, được xác lập theo ý đồ phục vụ cho kế hoạch do Nhà
nước quyết định, không xuất phát từ luật thực tại trong nền kinh tế trong và ngoài nước mà
hậu quả là làm cho việc tính toán,phản ánh thu chi ngân sách Nhà nước bị sai lệch, công tác
điều hành ngân sách Nhà nước gặp khó khăn, cản trở các quan hệ kinh tế cả trong và ngoài
nước. Đây cũng là vừa một biểu hiện và cũng vừa là kết quả của một nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung.
10
2. Sự vận động của tỷ giá và chính sách TGHĐ từ tháng 3/1989 đến nay, thời kì
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa
2.1. Giai đoạn từ 1989-1992
Sự bao cấp của Việt Nam từ các thị trường truyền thống Đông Âu và Liên Xô (cũ)
bị gián đoạn khiến chúng ta phải chuyển sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng dola
Mỹ. Kể từ đó cơ chế tỷ giá ổn định đã được thay thế dần bằng cơ chế Nhà nước điều tiết theo
quan hệ thị trường. Để đi tới một chính sách TGHĐ tự chủ như ngày nay, cơ chế quản lý
ngoại tệ nói chung, quản lý hối đoái nói riêng đã trải qua những điều chỉnh lớn.
Chính trong giai đoạn này nền kinh tế chịu tác động của chính sách thả nổi tỷ giá.
Ngày 4/12/1991 giá dola Mỹ trên thị trường tư nhân tại Hà nội và TP Hồ Chí Minh là 14.450
VND/USD . Giá dola trong tháng 12/1990 đã tăng từ 60 đến 80% so với mức giá đầu năm.
của Trung Quốc …Trong khi đó, đồng Dollar Mỹ lại có sự ổn định trên thị trường Việt Nam,
điều này cho thấy biện pháp can thiệp của NHNN đã phát huy tác dụng. Các kết luận thường
cho rằng: Chính điều này là nguyên nhân gây ra tình trạng thâm hụt lớn trong ngoại thương
của Việt Nam. Sự thâm hụt trong cán cân thương mại của Việt Nam đặc biệt nghiêm trọng
trong 3 năm liên tiếp 1994,1995, 1996, có thể nói phần lớn do tác động trực tiếp của việc
Trung Quốc phá giá mạnh của đồng NDT vào đầu năm 1994. Số liệu thực tế cho thấy, ngay
sau cuộc phá giá kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc (chính ngạch) tăng lên rất nhanh. Nếu
như trong năm 1992 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là 31,8% USD, chiếm 1,3% tổng
kim ngạch xuất khẩu thì trong các năm 1994, 1995, 1996, con số này lần lượt là 144,2%
triệu USD chiến 2,7%, 793,9 triệu USD chiếm 10,5% và 926,5% triệu USD chiếm 8,8%.
Thực tế đó cũng đã chỉ ra rằng sự điều hành chính sách TGHĐ và chính sách ngoại thương
của Việt Nam trong giai đoạn từ cuối năm 1993 đến đầu năm 1997 đôi khi quá thụ động.
Trong suốt những năm 1993-1995, hoàn toàn không có bất kỳ một điều chỉnh nào trong
chính sách tỷ giá hối đoái nhằm phản ánh hay đối phó tình hình này (điều này phản ánh tính
tự chủ trong chính sách tiền tệ nói chung và trong đó có chính sách tỷ giá hối đoái nói riêng là
chưa cao).
2.3. Giai đoạn từ tháng 7 /1997 đến ngày 26/2/1999
Ngày 02/7/1997, Thái Lan thả nổi TGHĐ kết thúc gần 14 năm duy trì một chế độ cố
định đã đánh dấu nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam á. Cuộc khủng hoảng này có
ảnh hưởng ít nhiều đối với nền kinh tế Việt Nam.
- Thứ nhất, đối với lĩnh vực tài chính Ngân hàng: Tạo sức ép giảm giá đồng Việt
Nam trên thị trường ngoại tệ, tác động xấu đến hoạt động giai dịch ngoại tệ, tăng gánh nặng
nợ cho các doanh nghiệp, gây sức ép đối với lãi suất đồng tiền Việt Nam và đe doạ sự mất ổn
định của hệ thống Ngân hàng, tác động đến xuất khẩu. Thực tế cho thấy, đến cuối năm 1997,
hàng loạt các báo đi đều lên tiếng về tình trạng nhập lậu hàng gia tăng mạnh ở các tỉnh biên
giới tây nam.
- Thứ hai , đối với lĩnh vực đầu tư: Do tỷ giá tăng, lãi suất tăng, thị trường hàng hoá
diễn biến phức tạp cùng với dự đoán không tốt trong tương lai tất yếu sẽ làm doanh nghiệp
hạn chế đầu tư và Ngân hàng cũng dè dặt khi cho vay. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã
3.1. Một số nhận định chung
Chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay tuy còn một số hạn chế nhưng rõ ràng đã đem lại
nhiều kết quả tích cực cho nền kinh tế phát triển theo hướng mở cửa hội nhập. Điều đó đặc
biệt có ý nghĩa giữa bối cảnh nền Kinh tế thế giới đầy khó khăn, bởi trong khi nhiều quốc gia
lớn phải vật lộn với thực trạng và nguy cơ suy thoái thì Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng
khá và ổn định. Các nguyên nhân làm tăng tỷ giá thời gian qua là :
- Thứ nhất, đó là hậu quả của nhiều năm điều hành chính sách tỷ giá tách rời quy luật
thị trường trong một thời kỳ đóng cửa quá dài. Do đó đồng nội tệ bị đánh giá cao hơn giá trị
thực của nó.
- Thứ hai, sự mất cân đối giữa cung - cầu về ngoại tệ do giá USD tăng phổ biến trên thị
trường quốc tế (cho đến cuối năm 2001) gây sức ép mạnh mẽ lên tỷ giá trong nước ; hoạt
động XK bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái chung của toàn cầu.
- Thứ ba, tình hình thâm hụt cán cân thanh toán chưa được cải thiện: XK gặp nhiều khó
khăn về thị trường . Nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất là rất cao.
- Thứ tư, cơ chế quản lý nền Kinh tế còn nhiều bất cập: Chính phủ chưa làm tốt công
tác hướng dẫn thị trường; dự trữ ngoại tệ quá mỏng, chưa đủ để điều tiết thị trường ngoại hối
13
trong nước. Nước ta có điểm xuất phát thấp, tụt hậu nhiều năm trên con đường hội nhập nên
những khó khăn khi thực hiện mở cửa nền kinh tế không phải chỉ là vấn đề của riêng tỷ giá,
thế và lực của ta còn rất yếu.
- Thứ năm, đô la hoá ngày càng diễn biến phức tạp do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là
tâm lý găm giữ đồng USD chờ tiếp tục lên giá của dân chúng và tâm lý sợ rủi ro tỷ giá, đây là
thói quen có tính chất lịch sử do nhiều năm tiền VND liên tục mất giá để lại.
Chính sách tỷ giá hối đoái hiện hành về cơ bản là hợp lý. Tỷ giá có tính chất “bò
trườn”, thực chất có thể coi là đang phá giá Đồng Việt Nam dần dần theo diễn biến thị
trường mà không gây nên những cú sốc về tỷ giá. Đối với một nền Kinh tế mới hội nhập như
Việt Nam thì một chính sách thì chính sách tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nước là phù
hợp, vì những điều kiện để áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi chưa xuất hiện đầy đủ, trong đó có
các yếu tố sau.
dịch vốn, thời gian qua, NHNN đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, dưới sự chỉ đạo sát
sao của Chính phủ, đã có những thành công nhất định trong việc điều hành tỷ giá, góp phần
bình ổn thị trường ngoại hối là nhân tố quan trọng trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô. Cụ thể:
- Trong bối cảnh dư cung ngoại tệ năm 2007, trước sức ép lên giá VND, gây ảnh
hưởng xuất khẩu, NHNN, vừa tranh thủ mua ngoại tệ vào để tăng dự trữ ngoại hối vừa chủ
động hút VND khỏi lưu thông qua kênh thị trường mở và bán tín phiếu của NHNN. Quyết
định mua ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối năm 2007 là hoàn toàn hợp lý vì thị trường dư
cung ngoại tệ giai đoạn này chỉ là ngắn hạn và không bền vững do ngoại tệ dư thừa là từ
nguồn ngoại tệ các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam là luồng
tiền nóng có thể chảy ra bất cứ lúc nào, không bắt nguồn từ xuất khẩu như trường hợp của
Trung Quốc. Đồng thời, để giảm áp lực tăng lạm phát, khi đã mua được một lượng ngoại tệ
tương đối, NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng và điều chỉnh biên
độ tỷ giá đầu năm 2008 theo hướng sát hơn với tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường,
giảm áp lực bán ngoại tệ cho NHNN.
- Năm 2009 và quý I/2010 là một giai đoạn đầy sóng gió với NHNN trong điều hành
tỷ giá. Tình trạng dư cung ngoại tệ đã đảo chiều thành khan hiếm ngoại tệ. Cán cân thanh
toán tổng thể năm 2009 thâm hụt ở mức trên 8 tỷ USD. Tình hình khan hiếm ngoại tệ càng
trầm trọng hơn khi mà tình hình găm giữ ngoại tệ trong tổ chức và dân cư trở nên phổ biến.
Lượng ngoại tệ của Bộ Tài chính bán cho NHNN sụt giảm mạnh. Trước tình hình đó,
NHNN đã liên tục phải đưa ra các quyết sách đầy khó khăn như: (i) nới lỏng biên độ từ 3%
lên 5% vào những tháng đầu năm 2009; (ii) bán ngoại tệ cho các NHTM để phục vụ cho các
nhu cầu thiết yếu trong quí II, III/2009 và đặc biệt là can thiệp bán với quy mô lớn trên diện
rộng vào cuối năm 2009 và đầu năm 2010 kết hợp điều chỉnh tăng 2 lần với mức tăng khá
lớn (trên 8%); (iii) đồng thời triển khai việc yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty lớn bán ngoại
tệ cho NHTM; (iv) đưa ra quy định về trần huy động ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế là
1% (là đối tượng có số dư ngoại tệ lớn); (v) điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngoại tệ; (vi)
tăng lãi suất cơ bản VND nhằm tăng sức hấp dẫn VND, góp phần hạn chế tình trạng găm giữ
ngoại tệ của tổ chức và kéo theo là cá nhân. Ngoài ra, NHNN tăng cường đàm phán, giải
ngân hàng loạt các khoản vay song phương và đa phương như các khoản vay với Chính phủ
Nhật Bản, WB, ADB, tăng cường công tác tuyên truyền, cung cấp thông về dự trữ ngoại hối.
mối liên hệ qua lại với các chỉ số vĩ mô như lạm phát, vay nợ nước ngoài, tăng trưởng kinh
tế, theo dõi sát sao tình hình kinh tế trong và ngoài nước, diễn biến tình hình cung cầu ngoại
tệ trên thị trường, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công thương và Bộ Tài chính trong công tác điều
hành tỷ giá, NHNN sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ
mô, là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong tương lai.
- Những kết quả đã đạt được trong việc ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ 8 tháng
đầu năm 2013
Trong 8 tháng đầu năm 2013, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và chỉ đạo
của Chính phủ, NHNN đã thực hiện đồng bộ các biện pháp ổn định tỷ giá và thị trường ngoại
tệ, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ,
góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
16
Một số biện pháp quan trọng cho thấy sự chủ động của NHNN trong việc điều hành
chính sách quản lý tỷ giá và thị trường ngoại tệ như công khai ngay từ đầu năm định hướng
tiếp tục duy trì ổn định tỷ giá trong năm 2013 với mức biến động 2 - 3% nhằm ổn định tâm lý
thị trường, định hướng kỳ vọng tỷ giá và củng cố niềm tin của người dân vào VND.
Bên cạnh đó, NHNN đã điều chỉnh tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức
20.828 VND/USD lên mức 21.036 VND/USD kể từ ngày 28/6/2013, đồng thời điều chỉnh
giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng
(TCTD), đảm bảo phù hợp với diễn biến cung cầu ngoại tệ, các cân đối vĩ mô, diễn biến cán
cân thanh toán quốc tế, chính sách điều hành lãi suất VND và tiếp tục khuyến khích người
dân nắm giữ VND, giảm nắm giữ ngoại tệ.
Việc điều hành linh hoạt tỷ giá mua vào USD của NHNN đã khuyến khích các
TCTD bán ngoại tệ cho NHNN để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước và điều chỉnh linh hoạt tỷ
giá bán ra để can thiệp thị trường phù hợp với mục tiêu ổn định thị trường. Đồng thời,
NHNN đã kết hợp chặt chẽ việc điều hành chính sách quản lý tỷ giá và thị trường ngoại tệ
với các công cụ chính sách tiền tệ để điều hòa lượng tiền VND cung ứng khi mua ngoại tệ
tăng dự trữ ngoại hối nhà nước nhằm không gây áp lực lên lạm phát và không ảnh hưởng đến
điều hành tỷ giá.
nước ngoài. Mỗi chế độ trên đều có những ưu, nhược điểm riêng mà thực tiễn đã chỉ ra rằng:
nếu chỉ dựa vào một trong hai thì sớm hay muộn, nền Kinh tế cũng phải trả một giá đắt.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể rút ra định hướng lâu dài cho chính sách tỷ giá
của Việt Nam là :
- Trong giai đoạn đầu ( 8/2001), thực hiện chính sách tỷ giá thấp để khuyến khích cho
việc nhập khẩu các công nghệ sản xuất hiện đại, phát triển các mặt hàng xuất khẩu .
- Bên cạnh đó thực hiện chính sách nâng cao chi tiêu trong nước(kích cầu) bằng hàng
hoá do trong nuức sản xuất ra và hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng .
- Khi nền kinh tế đã vững mạnh, thoát khỏi sự lệ thuộc vào hàng hoá nhập khẩu thì
thực hiện chính sách tỷ giá cao để khuyến khích xuất khẩu. Việc XK tăng lên sẽ hạn chế tiêu
dùng trong nước vì giá cảc sẽ tăng lên nhưng sẽ tạo ra sự cân bằng đối ngoại , cân bằng cán
cân thanh toán quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam đang duy trì chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nước là
phù hợp với tình hình đất nước , tuy nhiên ràng buộc lớn nhất của nó là mức dự trữ ngoại tệ
của Nhà Nước quá eo hẹp. Về dài hạn nó sẽ tiếp tục hoàn thiện thêm nếu được tăng thêm tính
linh hoạt, qua đó qui luật cung – cầu phát huy tác dụng rõ nét hơn. Chính vì vậy, chúng ta
phải nhanh chóng đưa ra các giải phát nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động XK, tăng mức dự
trữ ngoại tệ trong nước để từ đó Nhà nước có thêm sức mạnh điều hành chính sách tỷ giá
theo hướng tăng tính linh hoạt và giảm bớt mức chênh lệch kinh niên giữa cung và cầu về
ngoại tệ trong nước.
2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành
-Thứ nhất, Chính phủ cần quan tâm sát sao và đầu tư mạnh cho khâu nghiên cứu, tổ
chức thị trường; tổ chức các ngành nghề xuất khẩu thành các hiệp hội; đào tạo cán bộ nghiên
cứu có năng lực, có khả năng khai thác và cung cấp thông tin thị trường, thậm chí có thể bán
thông tin cho các hiệp hội ngành xuất khẩu. Một khi đã tổ chức tốt các hiệp hội ngành sản
xuất và xuất khẩu thì chi phí để mua những thông tin thị trường là thấp nếu tính bình quân
trên số thành viên của hiệp hội thay vì những tổn thất hiện tại do quá thiếu thông tin. Song
18
song với đó phải tổ chức thu mua giữ giá, xây dựng kho bãi bảo quản hàng. Điều này là cực
ngoại tệ, ba là làm giảm đáng kể nguồn cung cho thị trường tự do.
b. Khuyến khích bằng thuế thu nhập doanh nghiệp, đơn giản thủ tục đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh bằng vốn kiều hối. Chính sách khuyến khích này đã được thực hiện đối
với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thì cũng áp dụng được đối với công ty hoạt động
19
kinh doanh bằng vốn kiều hối. Thêm vào đó, cần khuyến khích động viên lòng yêu nước của
các Việt kiều để họ xoá bỏ mặc cảm đầu tư về trong nước.
- Thứ ba, đẩy mạnh và quản lý chặt hoạt động xuất khẩu lao động, không để tình
trạng thiếu tổ chức (có cả hành vi lừa đảo) như hiện nay tiếp diễn. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, số lao động và chuyên gia Việt Nam làm việc ở nước ngoài là hơn 300.000 người, hàng
năm gửi về nước 1,5 tỷ USD; riêng tiền ký kết hợp đồng Nhà nước đã thu hơn 300 triệu
USD. Có thể nói đây là nguồn thu không nhỏ của Ngân sách, lại phù hợp với chủ trương
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nước nhà bởi số lao động XK sau một vài năm làm việc trở
về sẽ mang theo trình độ kỹ năng lao động, kinh nghiệm làm việc hiện đại để phục vụ đất
nước. Vì vậy, hợp đồng XK lao động cần nghiên cứu kỹ lưỡng, có sự bảo đảm an toàn cho
người lao động, không chỉ đưa họ đi mà còn tạo điều kiện việc làm ổn định cho họ. Số ngoại
tệ do nguồn này gửi về cũng có thể áp dụng biện pháp kết hối ngay tại cửa khẩu với tỷ giá ưu
đãi như đối với nguồn kiều hối.
-Thứ tư, giữ nguyên tỷ lệ kết hối (30%) và biên độ dao động tỷ giá như hiện nay
(0,25%), đồng thời theo dõi, phân tích thường xuyên thông tin thị trường ngoại hối trong và
ngoài nước để điều chỉnh dần theo hướng tự do hơn khi điều kiện dự trữ và các yếu tố khác
cho phép.
một số ý kiến xây dựng nhằm góp phần nhỏ bé, hoàn thiện thêm chính sách tỷ giá hối đoái
cho phù hợp với tình hình đất nước. Với những thành công ban đầu của hơn 10 năm qua và
từ kinh nghiệm của các nước đi trước, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng Việt Nam sẽ thành
công trong việc xác lập một chính sách tỷ giá linh hoạt, phù hợp nhất, góp phần đưa đất nước
tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế trên trường thế giới./.
21
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI 3
1. Tỷ giá hối đoái 3
Khái niệm 2
1.2. Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường 3
1.3. Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở 3
1.4. Những nhân tố tác động tới tỷ giá 3
2. Chính sách tỷ giá hối đoái và những tiền đề, mục tiêu cho việc hoạch định chính sách tỷ
giá hối đoái 3
2.1. Chính sách tỷ giá hối đoái . 3