Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 1/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
Tiểu luận
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 2/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, các ngân hàng thương mại đóng vai trò
Nhóm 2 3/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI 4
1.
KHÁI Q UÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIVÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1. Khái niệm 4
1.2. Các nghiệp vụ của NHTM 4
2.
VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA NHTM ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ 9
2.1. Chức năng của NHTM. 9
2.2. Đánh giá vai trò, vị trí NHTM đối với nền kinh tế 10
CHƯƠNG II 11
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 11
1. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM 11
2. TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NƯỚC 11
Nhóm 2 4/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái quát về ngân hàng thương mại và các hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất
trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng.
Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước xác định:" Ngân hàng
thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi
từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán".
Như vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ
chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ
tài chính, mặc dù các tổ chức tài chính trung gian khác cũng có một số chức năng tương tự
nhưng người ta vẫn phải tách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó
như: chức năng huy động vốn thông qua phát hành các chứng chỉ tiền gửi, hơn nữa khối lượng
séc hay tài khoản gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng
cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế.
1.2. Các nghiệp vụ của NHTM
1.2.1. Nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản
Các NHTM có 3 loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn (nghiệp vụ nợ),
nghiệp vụ sử dụng vốn (nghiệp vụ có) và nghiệp vụ trung gian (dịch vụ ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác).
1.2.1.1. Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn (nghiệp vụ nợ)
hàng cho phép người gửi có thể rút trước kèm một số điều kiện cụ thể. Mục đích của người gửi
tiền chủ yếu là lấy lãi.
Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm
mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có hai hình thức: một là, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là
loại tiền gửi mà người gửi có thể ký thác nhiều lần và rút ra theo nhu cầu sử dụng và không cần
báo trước; hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi đến kỳ mới được rút.
Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước. Trái
phiếu, kỳ phiếu có thời hạn cụ thể và chỉ đến thời hạn đó mới được thanh toán.
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 6/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
Hình thức kỳ phiếu thường được áp dụng theo 2 phương thức, một là phát hành theo
mệnh giá (người mua kỳ phiếu trả tiền mua theo mệnh giá và được trả cả gốc lẫn lãi khi đến
hạn); hai là phát hành dưới hình thức chiết khấu (người mua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua bằng
mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và sẽ được hoàn trả theo đúng mệnh giá khi đến hạn).
c) Vốn vay
Bao gồm vốn vay của Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cho vay
ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụng khác và các khoản vay khác trên
thị trường như phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành hợp đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ,
các khoản vay USD ngoài nước Với nguồn vốn này NHTM có trách nhiệm sử dụng có hiệu
quả và hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi.
d) Các nguồn vốn khác
Bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác đầu tư. Vốn này để cho
loại là: ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; ứng trước không bảo đảm là việc
cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.
Thấu chi (tín dụng hạn mức): Là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt
được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư nợ
trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.
Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa
đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu
và hoa hồng phí.
Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đó để rồi
sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.
Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện thông qua
việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết hạn thuê bên thuê được
chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.
Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụng bảo lãnh.
Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư
Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên doanh và
kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một hình thức khá phổ biến, nó
mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng,
nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao). NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính
phủ, nó vừa tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường
xuyên. NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc
thành lập và quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ được đầu tư chứng khoán có giới
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 8/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
Nhóm 2 9/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
1.2.2.1. Các hợp đồng bảo lãnh
Tùy theo nhu cầu của khách hàng, các NHTM sẽ ký kết các hợp đồng bảo lãnh vay vốn,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh dự
thầu,…
1.2.2.2. Các hợp đồng tài chính tương lai và hợp đồng quyền chọn
NHTM ký kết các hợp đồng tài chính tương lai và hợp đồng quyền chọn với khách hàng
trong đó ngân hàng đồng ý giao hay nhận những chứng khoán tại một mức giá đã được đảm bảo.
1.2.2.3. Các hợp đồng tỷ giá hối đoái
NHTM ký kết với khách hàng trong đó ngân hàng đồng ý giao hay nhận một lượng ngoại
tệ nhất định.
1.2.2.4. Các cam kết ngoại bảng khác
2. Vai trò, vị trí của NHTM đối với nền kinh tế
2.1. Chức năng của NHTM.
2.1.1. Chức năng trung gian tín dụng, tập trung vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một
cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng
muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động
kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng
nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình,
nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay, trở
thành cầu nối giữa những người có vốn dư thừa và những người có nhu cầu về vốn.
phí và lượng tiền mặt lưu thông, đảm bảo an toàn trong thanh toán, qua đó thúc đẩy quá trình lưu
thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và gia tăng hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội.
NHTM cũng là cánh tay đắc lực của Chính phủ và NHNN trong việc thực thi các chính sách tiền
tệ. Có thể nói NHTM là một trong những hạt nhân trung tâm có vai trò vô cùng to lớn đối với sự
tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 11/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1. Đánh giá chung về tình hình kinh tế thế giới và tác động đối với Việt Nam
Năm 2008, khủng hoảng tín dụng bất động sản ở Mỹ do việc cho vay dưới chuẩn đã ảnh
hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Mỹ và lan rộng đến toàn thế giới.
Khủng hoảng kinh tế Mỹ có những tác động nhất định đến thị trường tài chính - tiền tệ
Việt Nam, vì kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn chiếm 30% tổng sản lượng, chu chuyển vốn thị
trường thế giới. Trong điều kiện hiện nay, tất cả các quốc gia đều đã hội nhập nên “nhất cử, nhất
động” của một nền kinh tế nào đó cũng có ảnh hưởng nhất định đối với thế giới, chưa nói tới một
nền kinh tế lớn như M ỹ .
Trước mắt có những vấn đề, ví dụ lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế - LIBOR và
SIBOR - đang tăng. Nó có thể ảnh hưởng tới nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng
thương mại và doanh nghiệp.
7.7
8.43
8.17
8.5
6.2
5.32
0
2
4
6
8
10
12
1
9
9
0
1
9
9
5
2
0
0
0
2
0
0
1
2
9
Năm
GDP (%)
Nam
GDP(%)
Biểu đồ 1 : Tốc độ tăng trưởng GDP (Nguồn : Tổng cục thống kê Việt Nam)
GDP từ năm 2000 đến 2007 tăng và ổn định , năm 2008 và năm 2009 do ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế thế giới , GDP Việt Nam giảm thấp xuống mức kỷ lục trong vòng 10 năm
qua .
Trong những năm gần đây, một số chính sách tiền tệ của NHNN đã tác động đến hoạt
động của hệ thống NHTM Việt Nam .
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 13/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
Bảng 1 : Tổng hợp một số thay đổi về lãi suất trong hệ thống NH năm 2008 và 2009
Ngày 16-1, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký Quyết định 187 về việc điều chỉnh dự trữ
bắt buộc đối với tổ chức tín dụng. Theo đó, kể từ tháng 2-2008, tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ
tăng thêm 1% đối với các loại tiền gửi so với tỷ lệ quy định hiện nay. Cụ thể, đối với tiền
VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có
Từ những năm 90, lượng vốn huy động qua hệ thống NHTM tăng trưởng không ngừng
với tốc độ nhanh và vững chắc. Do sự ổn định giá trị đồng Việt Nam cùng với việc giảm mức
lạm phát từ phi mã xuống còn 1 con số, các NHTM Việt Nam đã phát huy được hiệu quả trong
chiến lược huy động vốn từ dân chúng. Lượng vốn huy động của toàn hệ thống qua các năm đều
tăng với mức trung bình từ 25-30%/năm.
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 15/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn 2005-2009
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
Từ năm 2008, tình hình huy động vốn của các NHTM giảm sút rõ rệt; theo số liệu từ
Ngân hàng Nhà nước, tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tháng 4/2009
tăng khoảng 3,74% so với cuối tháng trước và tăng 9,88% so với cuối năm 2008; đến hết tháng 7
tăng 20,92% so với đầu năm. Nguyên nhân là do trong năm 2008, lạm phát cao bùng phát và
năm 2009, Việt Nam đã có những dấu hiệu rõ rệt về suy giảm kinh tế do tác động của suy giảm
kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, trong năm 2009, Chính Phủ chủ trương thực hiện kích cầu nhằm
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4%. Hơn nữa, một số kênh đầu tư
khác tỏ ra hấp dẫn hơn lãi suất ngân hàng như đầu tư vàng và ngoại tệ khiến dòng tiền chảy vào
những kênh đầu tư này hơn là gửi tiết kiệm trong ngân hàng.
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng
dụng tăng khoảng trên 24% so với cuối năm 2008, cá biệt một số tổ chức tín dụng còn trên 50%.
Kết thúc năm 2009, với chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ để kích thích phát triển
kinh tế, Chính Phủ sử dụng chính sách tiền tệ như gói kích cầu lãi suất ưu đãi 4%, giảm tỉ lệ dự
trữ bắt buộc, giảm lãi suất cơ bản (còn 7%/ năm), và sử dụng chính sách tài khóa như tăng cường
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 17/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…, đã làm tín dụng tăng trưởng khoảng 37%. Từ đó giúp cho tốc
độ tăng trưởng GDP trong 2009 của Việt Nam đạt 5,32%.
Tốc Độ Tăng Trưởng Tín Dụng
36.50%
53.90%
20%
37%
32.10 %
0%
20%
40%
60%
2005 2006 2007 2008 2009
Biểu đồ 3 : Tốc độ tăng trường tín dụng 2005-2009
Nguồn: NHNN
trí quan trọng hàng đầu.
3.4. Với vai trò trung tâm thanh toán của nền kinh tế, NHTM VN góp phần quan trọng
đẩy nhanh tốc độ chu chuyển thanh toán, chu chuyển vốn:
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 19/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
Nền kinh tế càng phát triển, chu chuyển thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng tăng
vai trò của NHTM trong thanh toán ngày càng mạnh hơn. Với việc áp dụng công nghệ kỹ thuật,
tốc độ thanh toán qua ngân hàng đã tăng nhanh. Hiện có 5 chi nhánh NHNN, trên 35 NHTM với
159 đơn vị tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, bình quân mỗi ngày xử lý 7.000
chứng từ với số tiền 3.000 tỷ đồng, ngày cao điểm 12.000 chứng từ với 5.500 tỷ đồng. Mỗi thanh
toán thực hiện chỉ dưới 10 giây (Trước kia chuyển tiền từ Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh phải mất
trung bình từ 3 đến 5 ngày). Bên cạnh đó, các NHTM có xu hướng hoạt động liên kết và thống
nhất với nhau hơn, cụ thể như hợp tác đồng tài trợ các dự án lớn, cùng nhau hỗ trợ khách hàng
của các ngân hàng trong hệ thống.
Hoạt động thanh toán đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các hoạt động kinh tế
diễn ra một cách liên tục. Các yêu cầu của một hệ thống thanh toán, đó là: an toàn, nhanh chóng,
thuận tiện.
Sự phát triển của các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần giảm tỉ lệ
thanh toán bằng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà
nước, trong năm 2008, dịch vụ thẻ ngân hàng và mở tài khoản cá nhân, trả lương qua dịch vụ
ngân hàng tự động ATM phát triển nhanh chóng. Đến nay, toàn hệ thống ngân hàng có khoảng
15 triệu tài khoản cá nhân, tăng 36% so với cuối năm 2007; số lượng thẻ trong lưu thông đạt
Có thể nói rằng hệ thống NHTM đã có những thành công nhất định trong việc phát triển
dịch vụ ngân hàng hiện đại. Nếu so với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì mức độ phát
triển của sản phẩm ngân hàng hiện đại của hệ thống NHTM Việt Nam chưa đạt được chuẩn quốc
tế, nhưng đã có sự chú trọng và đã xây dựng được hướng phát triển trong tương lai cũng như
bước đầu tạo được hình ảnh tốt trong thị trường nội địa.
3.6. NHTM VN đã thiết lập được đội ngũ chi nhánh đông đảo trong tất cả các tỉnh
thành trong cả nước
Đây là điều kiện thuận lợi giúp các ngân hàng tăng cường khả năng huy động vốn và tín
dụng đến những vùng tiềm năng.
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 21/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
3.7. Hệ thống NHTM đã nâng cao vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, từ đó tác động đến nền kinh tế
Từ cuối năm 2008, Chính Phủ bắt đầu thực hiện gói kích cầu nền kinh tế, trong đó các
biện pháp tài chính, tiền tệ là chủ đạo. Các biện pháp tiền tệ gồm:
Giảm lãi suất cơ bản: Tính từ ngày 21/10 cho đến hết năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã
5 lần giảm lãi suất cơ bản, khiến lãi suất cơ bản đã giảm mạnh từ mức đỉnh 14%/năm (ngày 11/6)
xuống còn 8,5%/năm.
Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc: tính đến hết tháng 6/2009, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần
giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc cũng có 2 lần điều chỉnh giảm.
trừ một số lĩnh vực kinh doanh bất động sản, chứng khoán hay đảo nợ.
4. Một số hạn chế của hệ thống Ngân hàng Việt Nam
4.1. Tăng trưởng tín dụng với tốc độ cao khiến tính thanh khoản của hệ thống ngân
hàng giảm sút trong những năm gần đây
Việc tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh là điều thiết yếu đối với mỗi ngân hàng.
Tuy nhiên các NHTM thường đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong khi chưa đạt được các yếu tố
khác (như nguồn vốn đầu vào, trình độ công nghệ, trình độ quản lý, khả năng kiểm soát rủi ro…)
điều này có thể dẫn đến sự tăng trưởng không bền vững và tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống ngân
hàng thương mại.
Trước ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 tính thanh khoản của hệ thống
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 23/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
ngân hàng giảm sút mạnh, tuy nhiên được cải thiện dần ở những tháng cuối năm 2008 và đầu
năm 2009. Bắt nguồn từ việc tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ từ cuối năm 2007 với mức tăng
trưởng trung bình lên đến 54% đã dẫn đến CPI tăng 22.47% làm giá hàng hóa đầu vào tăng cao
và lạm phát trở thành mối lo ngại chung của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước phải tăng lãi suất
cơ bản từ 8.25% đầu năm 2008 lên 14% vào giữa năm 2008 qua 4 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản
để kìm hãm tăng trưởng dư nợ và lạm phát.
Các ngân hàng tăng trưởng tín dụng quá nóng trong năm 2007 đến đầu năm 2008 đều
thiếu hụt nguồn vốn dẫn đến phải huy động với lãi suất cao trên thị trường liên ngân hàng (bình
quân trên 20%/năm, cá biệt có một số thời điểm lên tới 30% thậm chí hơn 40%/năm) và huy
động khách hàng với lãi suất 18-20% để duy trì thanh khoản. Lãi suất huy động tiền gửi một số
của Việt Nam.
Bảng 2: Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các NHTM Việt Nam
Số TT Tổ chức TD nước ngoài Tỷ lệ sở hữu Tổ chức TD trong nước
01 HSBC 20% Techcombank
02 Standard Chartered 15% ACB
03 SMFG 15% Eximbank
04 Malayan BanKing 15% ABBank
05 BNPParibas 10% Oricombank
06 ANZ 10% Sacombank
07 Duetsche Bank 10% Habubank
08 United Oversea Bank 10% Phương Nam
09 Societe Generale 10% SeaBak
(Nguồn: Reuters)
4.3. Quy mô vốn hoạt động còn nhỏ nên chưa thực hiện được mục tiêu kinh doanh
một cách hoàn chỉnh
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 25/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19
Quy mô vốn của các ngân hàng Việt Nam chưa tương xứng tiềm năng phát triển và còn
rất nhỏ so với tiêu chuẩn của thế giới. Theo hướng dẫn về vốn pháp định và các tiêu chuẩn quốc
tế Basel 1, các ngân hàng của Việt Nam cần duy trì một hệ số vốn tối thiểu (CAR) là 8%. Đến
cuối năm 2010, các ngân hàng Việt Nam sẽ buộc phải đăng ký vốn tối thiểu là 3.000 tỷ đồng. Rõ
ràng có một sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ CAR của các NHTMCP và các NHTM NN từ 7% đến