PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quế là một lâm sản có giá trị lớn. Trên thế giới quế phân bố tự nhiên và
được gây trồng trở thành hàng hoá ở một số nước Châu Á và Châu Phi như
Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Xrilanca, Xây xen và Madagaxca. Trong
các nước có quế, cây quế cũng chỉ phân bố ở một số địa phương nhất định, có
đặc điểm khí hậu, đất đai và địa hình thích hợp với nó, ở ngoài vùng sinh thái
cây quế sinh trưởng và phát triển không tốt.
Trước đây, ở nước ta cây quế tự nhiên mọc hỗn giao trong các khu rừng
tự nhiên nhiệt đới ẩm, từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên cho đến nay quế tự nhiên
đã không còn nữa và thay vào đó cây quế đã được thuần hóa thành cây trồng.
Từ lâu đời nước ta đã hình thành 4 vùng trồng quế lớn, đó là Yên Bái, vùng
Thanh hóa, Nghệ An, vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi và Quảng Ninh. Mỗi
vùng có những sắc thái riêng gắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc ít
người nước ta như Dao (Yên Bái), Thái, Mường (Nghệ An, Thanh Hoá) Cà
tu, Cà toong (Quảng Nam, Quảng Ngãi) và Thanh Y, Thanh Phán (Quảng
Ninh).
Tại Yên Bái, Theo thống kê rừng Yên Bái hiện có 415.103 ha, trong đó
diện tích rừng tự nhiên 234.337 ha, rừng trồng 172.521 ha, trong đó đất rừng
quế tập trung có khoảng 20.000 ha, tỷ lệ che phủ đạt 59,6%, đứng thứ tư toàn
quốc. Rừng của Yên Bái được phân bổ ở các huyện, xã trong tỉnh. Trong đó
huyện Lục Yên là một trong những huyện có diện tích rừng khá lớn và vốn là
huyện nổi tiếng về trồng quế, chè, sắn và keo. Điển hình của huyện là xã
Trung Tâm.
Trung Tâm là một xã miền núi thuộc huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái có
tiềm năng lớn về đất lâm nghiệp để phát triển rừng trồng nói riêng và sản xuất
lâm nghiệp nói chung, xã Trung Tâm có đủ điều kiện nuôi trồng và phát triển
1
1
toàn bộ cây trồng chủ lực nổi tiếng của huyện. Nhưng cây được người dân
trong xã trồng đa số là cây quế, do cây quế là cây có giá trị kinh tế lớn, người
của sản xuất quế.
Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế của sản xuất quế trên địa bàn xã
Trung Tâm, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất quế.
Đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của
sản xuất quế trong thời gian tới.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu hiệu quả kinh tế của sản
xuất quế trên địa bàn xã Trung Tâm, huyện Lục Yên, Tỉnh Yên Bái.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Phạm vi về mặt không gian
Đề tài được thực hiện nghiên cứu trên địa bàn xã Trung Tâm là xã có
điều kiện thích hợp và diện tích trồng quế nhiều nhất huyện Lục Yên, tỉnh
Yên Bái.
1.3.2.2. Phạm vi về mặt thời gian
Số liệu thứ cấp: nghiên cứu thu thập số liệu, báo cáo từ năm 2013 trở
về trước.
Số liệu sơ cấp: nghiên cứu thu thập số liệu năm 2014 để có thông tin
cần thiết.
3
3
1.3.2.3. Phạm vi về mặt nội dung
Nghiên cứu tập trung vào thực trạng sản xuất, hiệu quả kinh tế và phân
tích ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế của sản xuất quế trên địa
bàn xã Trung Tâm, từ đó có thể đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế của sản xuất quế.
4
4
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
CỦA SẢN XUẤT QUẾ
Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh. Theo
quan điểm này hiệu quả kinh tế được thể hiện qua công thức:
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả sản xuất
C là chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất (Nguyễn Đông
Văn, 2007).
Quan điểm này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng nguồn lực, xem xét
được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả, hay một
đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực, từ đó có thể so sánh
được hiệu quả kinh tế của các đơn vị sản xuất có quy mô khác nhau.
Quan điểm thứ hai: Theo hệ thống quan điểm thứ hai cho rằng hiệu quả
kinh tế là phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi trừ đi chi phí.
Nó được đo bằng chi phí và lời lãi. Theo quan điểm này hiệu quả kinh tế được
thể hiện qua công thức
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả sản xuất
C là chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất (Nguyễn Đông
Văn, 2007).
Quan điểm này phản ánh được quy mô của hiệu quả kinh tế nhưng
chưa rõ ràng và chỉ phản ánh được quy mô của hiệu quả kinh tế chứ không
phản ánh được trình độ sử dụng nguồn lực, cũng không thể so sánh được hiệu
6
6
quả kinh tế giữa các đơn vị sản xuất có quy mô khác nhau. Trong thực tế
nhiều trường hợp quan điểm này không tính được hiệu quả kinh tế hoặc tính
được nhưng không có ý nghĩa. Vì vậy hiện này quan điểm này chỉ được sử
dụng trong vài trường hợp nhất định.
Quan điểm thứ ba: Quan điểm thứ ba cho rằng trước tiên phải xem xét
hiệu quả kinh tế trong thành phần biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất.
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện bằng tỷ số giữa phần tăng thêm của kết quả
gồm hai bộ phận cấu thành, đó là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Hiệu
quả kỹ thuật được xác định như là khả năng của người nông dân có thể đạt
được một mức sản lượng nào đó so với mức sản lượng tối đa với điều kiện
các đầu vào và kỹ thuật hiện đại. Hiệu quả phân bổ là việc sử dụng các yếu tố
đầu vào theo những tỷ lệ nhằm đạt được lợi nhuận tối đa khi biết cụ thể các
giá trị đầu vào.
Hiệu quả kinh tế = Hiệu quả kỹ thuật x Hiệu quả phân bổ
Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn
vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện
cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng (Phạm Văn Hùng, 2009). Hiệu quả
kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử
dụng các nguồn lực cụ thể. Hiệu quả kỹ thuật này thường được phản ánh
trong mối quan hệ về các hàm sản xuất. Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực
dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu sản phẩm.
Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả, hiệu quả trong các yếu tố sản
phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản xuất thu thêm trên một
đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Hiệu quả phân bổ là thước đo
phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp
các đầu vào tối ưu, nghĩa là tỷ số giữa sản phẩm biên của hai yếu tố đầu vào
8
8
nào đó sẽ bằng tỷ số giá cả giữa chúng (hiệu quả phân bổ còn được gọi là hiệu
quả giá) (Phạm Văn Hùng, 2009).
Như vậy, cho đến nay đã và đang có nhiều quan điểm khác nhau khi
nghiên cứu về phạm trù hiệu quả kinh tế. Theo mỗi quan điểm có các cách
tính toán khác nhau về hiệu quả kinh tế. Từ nghiên cứu các quan điểm trên
nhằm thực hiện mục tiêu đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế của sản xuất
quế phục vụ cho nghiên cứu này chúng tôi kết hợp sử dụng cả hai nhóm quan
điểm truyền thống và quan điểm của kinh tế học sản xuất về hiệu quả kinh tế.
1.1.2. Bản chất hiệu quả kinh tế của sản xuất quế
* Khả năng tiếp nhận kỹ thuật mới của người sản xuất: Sự tiếp thu kỹ thuật
của người nông dân và năng suất của cây quế có mối quan hệ chặt chẽ đến
kiến thức và kỹ thuật canh tác (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997). Vì
vậy trình độ và kinh nghiệm có thể thấy sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
của sản xuất quế.
* Về đất đai: Những đặc tính lý, hóa của đất quy định độ phì nhiêu tốt hay xấu,
địa hình, vị trí khu vực sản xuất có thuận lợi khó khăn gì cho giao thông vận
chuyển vật phục vụ sản xuất,… (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997).
* Thời tiết khí hậu: Trong sản xuất nông – lâm nghiệp các đối tượng sản xuất
khác nhau thường bị ảnh hướng về điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu cũng
khác nhau (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997). Vì vậy trong sản xuất
quế cần xác định các vùng sinh thái phù hợp với điều kiện sinh trưởng phát
triển tốt của cây, từ đó sẽ đạt được hiệu quả kinh tế.
* Thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của quá trình sản xuất: Trong
sản xuất nông – lâm nghiệp, phần lớn thị trường có tính cạnh tranh hoàn hảo
cao hơn so với các nghành khác (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997). Vì
vậy, khi tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng là điều kiện để nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Môi trường lành mạnh đó các thành phần
10
10
kinh tế có quyền ngang nhau trong tạo vốn, sử dụng thông tin, mua bán các
sản phẩm.
* Chính sách của chính phủ: Có hai nhóm chính sách, một là các chính sách
thông qua giá như chính sách giá sản phẩm, chính sách đầu vào, thuế,… có
tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh tế. Hai là chính sách không
thông qua giá như phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, khuyến nông, cung cấp
tín dụng, nghiên cứu và phát triển… có tác động gián tiếp đến hiệu quả kinh
tế (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997).
1.1.4. Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất quế
Nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng khan hiếm trong khi đó nhu
- Đa dạng hóa đối tượng sản xuất nông – lâm nghiệp, tạo nền vùng sản
xuất chuyên canh, sản xuất hàng hóa, vùng sinh thái nông nghiệp bền vững.
- Cung cấp một lượng lớn sản phẩm làm nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến, y học, xuất khẩu.
Ngoài lợi ích về mặt kinh tế - xa hội, cây quế còn đóng góp vào bảo vệ môi
trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đất đồi
núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa.
1.1.5. Đặc điểm sản xuất quế
Cây quế là loài thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành cao trên
15m, đường kính có thể đạt 40 cm. Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có
3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá có màu xanh
đậm. Mặt trên có màu xanh bóng, các gân bên song song.
Trong các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh
dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 - 5%.
Tinh dầu quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm
khoảng 70 - 90%.
Những cây quế trên 15 tuổi, cho nhiều quả và chất lượng hạt giống ổn
định về di truyền, chu kỳ sai quả thường 2 đến 3 năm một lần, nên chọn
12
12
những cây sinh trưởng và phát triển tốt, tán rộng, cân đối, không bị sâu bệnh
và nhất là hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao để làm cây lấy giống.
Gieo ươm
Trồng quế là một phong tục tốt và lâu đời của đồng bào các dân tộc
Dao, Mường, Thái, Ca Toong, Boo ở nước ta. Một năm có hai mùa trồng quế,
mùa xuân vào các tháng 2, 3 và mùa thu vào các tháng 8, 9. Tùy vào thời tiết
từng vùng, đồng bào Yên Bái tập trung trồng quế vào các tháng đầu xuân, các
tỉnh miền Trung thì trồng vào vụ thu khi đã có mưa nhiều, đất ẩm, thời tiết dịu
và tránh được gió nóng vào mùa hè.
Mật độ trồng quế phụ thuộc vào cường độ và mục đích kinh doanh, ở
quế dầu cần được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát và tránh để ánh nắng
chiếu trực tiếp (Báo Nhân dân ra ngày, 2005).
1.1.6. Nội dung nghiên cứu hiệu quả kinh tế của sản xuất quế
Nội dung nghiên cứu hiệu quả kinh tế của sản xuất quế bao gồm: Đánh
giá chi phí sản xuất của cấy quế, đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế của sản
xuất quế. Cụ thể được tiến hành như sau:
1.1.6.1. Đánh giá chi phí sản xuất của quế
Chi phí sản xuất quế là số tiền mà hộ sản xuất chi để mua các yếu tố đầu
vào cần thiết cho quá trình sản xuất nhằm mục đích sẽ thu được lợi nhuận.
Việc giảm chi phí sản xuất đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận.
Đánh giá chính xác chi phí của sản xuất quế có ý nghĩa rất quan trọng và
liên quan với nhiều vấn đề khác nhau của quá trình sản xuất. Đánh giá chi phí
sản xuất quế cũng là nội dung đầu tiên cần xem xét khi tiến hành đánh giá
hiệu quả kinh tế của sản xuất quế.
Tổng chi phí (TC) trong sản xuất bao gồm toàn bộ số chi phí cần thiết để
thực hiện quá trình sản xuất. Tổng chi phí sản xuất này được chi ra thành hai
loại: chi phí cố định (tính cho một chu kỳ sản xuất) và chi phí biến đổi.
TC = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi
14
14
Đối với sản xuất quế, tổng chi phí sản xuất của cây quế bao gồm toàn bộ
những chi phí bỏ ra đầu tư vào quá trình sản xuất. Tổng chi phí của sản xuất
quế được xác định là tổng các chi phí vật chất (như chi phí thuốc BVTV, phân
bón, cây giống, đất đai, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, chi
phí cho bảo quản, ) và chi phí lao động.
TC = Chi phí vật chất + Chi phí lao động
Đánh giá chi phí sản xuất của cây quế phải căn cứ theo quy mô trồng và
mức đầu tư của từng hộ trồng quế.
1.1.6.2. Đánh giá kết quả của sản xuất quế
Đánh giá kết quả của sản xuất quế là tính toán các chỉ tiêu kinh tế về sản
tổng chi phí sản xuất quế.
Hiệu quả được tính theo công thức 1 biểu hiện qua các chỉ tiêu cụ thể
như:
+ Giá trị gia tăng được tính (VA)
+ Thu nhập hỗn hợp được tính (MI)
+ Lợi nhuận được tính (Pr)
Công thức 2:
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được / Chi phí bỏ ra
(H) (Q) (C)
Việc tính toán theo công thức này cho phép xác định kết quả sản xuất
quế (tính phần tử số) và chi phí sản xuất quế (phần mẫu số) có phạm vi rộng
hơn.
Phần tử số có thể là kết quả và hiệu quả chung như là tổng giá trị sản
xuất, hoặc giá trị gia tăng, hoặc thu nhập hỗn hợp, hoặc lợi nhuận.
Phần mẫu số có thể hiểu là chi phí các yếu tố đầu vào như tổng chi phí
bằng tiền (chi phí thời gian, chi phí tài chính, chi phí sản xuất) hay tổng vốn
đầu tư sản xuất; tổng diện tích đất canh tác; tổng số lao động đầu tư trong sản
xuất ra sản phẩm đó.
16
16
Công thức 3:
So sánh mức chênh lệch của kết quả sản xuất với mức chênh lệch của chi
phí bỏ ra. So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối, công thức tính cụ thể như
sau:
H = ΔQ – ΔC (1) và H = ΔQ/ΔC (2)
Cách xác định kết quả sản xuất thu được và chi phí sản xuất bỏ ra cũng
được hiểu tương tự như đối với công thức thứ hai trên. Xác định ΔQ và ΔC là
chênh lệch của Q và C theo thời gian hay theo tình huống của đối tượng cụ
thể mà ta cần nghiên cứu. Do đó, ở đây cũng có nhiều chỉ tiêu xác định cụ thể,
tùy từng đối tượng và mục đích nghiên cứu mà lựa chọn chỉ tiêu cho phù hợp.
Nhu cầu sản phẩm quế nói chung là rất lớn và ngày càng tăng lên. Ngày
nay, trên thế giới đang hướng vào con đường bào chế thuốc chữa bệnh bằng
nguyên liệu dược thảo nhiều hơn là hóa dược. Sản phẩm quế cũng như các
sản phẩm dược liệu khác vì vậy có nhu cầu lớn và tăng nhanh trên thị trường.
Nhu cầu lớn nhưng khả năng sản xuất lại hạn chế. Chính sự mất cân đối giữa
cung và cầu đã tạo cho sản phẩm quế một giá trị đặc biệt. Giá trị của sản
phẩm quế nhiều khi còn vượt xa giá trị thực tế sản xuất ra nó. Cho nên sản
xuất xuất quế đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất, nhất là những nước
có điều kiện tự nhiên phong phú, thuận lợi như nước ta.
Tuy nhiên, khả năng sản xuất quế bị hạn chế rất nhiều do thời gian sản
xuất dài là đặc trưng cơ bản của ngành hàng sản xuất quế. Một chu kỳ sản
xuất quế trung bình mất 10-15 năm, thậm chí còn lâu hơn, tùy theo điều kiện
sản xuất. Đặc điểm này đã hạn chế rất nhiều khả năng sản xuất, kể cả việc mở
rộng quy mô cũng như kích thích người sản xuất. Thời gian sản xuất dài nên
ngành sản xuất quế không thể sản xuất ngay một số lượng sản phẩm lớn, đáp
ứng nhu cầu tăng lên thường xuyên và nhiều khi có tính chất đột biến trên
một số thị trường.
1.2.1.2. Tình hình cung về sản phẩm quế
18
18
Trong những năm gần đây lượng sản phẩm quế trên thế giới không
ngừng gia tăng về số lượng xuất khẩu, bình quân mỗi năm là trên 30 nghìn
tấn. Những nước tiêu dùng quế nhiều lại chính là những nước không thể tự
sản xuất được quế vì thiếu điều kiện tự nhiên và môi trường. Do đó, điều kiện
này chính là yếu tố quyết định, là lợi thế cho những nước sản xuất và xuất
khẩu sản phẩm quế chính trên thế giới.
Cây quế sinh trưởng và phát triển ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, những nơi
đó quế cũng chỉ phát triển tốt và thích hợp ở một số vùng. Cung cấp sản phẩm
quế trên thị trường thế giời chủ yếu là Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam và
Xrilanca. Trong đó nước có khối lượng xuất khẩu lớn nhất là Indonesia chiếm
quế được các dự án Lâm nghiệp xã hội chọn làm cây trồng chủ yếu, đặc biệt
là các chương trình xoá đói giảm nghèo. Tình hình trồng quế có thể thấy qua
bảng 2.1 kê dưới đây.
Bảng 2.1: Diện tích trồng Quế ở các tỉnh trong giai đoạn 1980-1998
ĐVT: ha
Vùng và tỉnh 1980 1990 1998
Toàn quốc 5.353,1 19.248,0 61.820,0
Đông Bắc 423,1 4.880,0 18.926,3
Quảng Ninh 392,0 3.539,0 5.024,8
Cao Bằng 9,1 560,0 2.060,0
Bắc Cạn - - 2.673,9
Thái Nguyên 1,0 131,0 7.554,6
Bắc Giang 21,0 850,0 1.613,0
Lào Cai 95,0 763,4 5.618,5
Yên Bái 2.485,0 13.019,0 20.836,0
Hà Giang - - 26,5
Tuyên Quang - - 1.113,2
Bắc Trung Bộ 2.003,0 578,0 6.301,6
Thanh Hoá 320,0 374,0 1.500,0
20
20
Nghệ An 1.683,0 174,0 4.187,0
Hà Tĩnh - - 514,6
Quảng Bình - 30,0 100,0
Nam Trung Bộ 347,0 - 8.997,0
Quảng Nam 319,0 - 6.243,0
Quảng Ngãi 28,0 - 2.754,0
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006
Qua bảng 2.1 trên cho thấy rõ được sự phát triển của việc trồng quế trong
đất Lâm nghiệp các hộ gia đình và có sự kích thích của thị trường xuất khẩu.
không nhiều, chủ yếu để làm gia vị và dược liệu.
Qua bảng 2.3 thống kê kim ngạch xuất khẩu có thể thấy, kim ngạch xuất
khẩu quế của cả nước có xu hướng tăng, nhưng không ổn định biến đổi hàng
năm phụ thuộc tình hình cung cầu trên thị trường.
Bảng 2.3 : Kim ngạch xuất kheu sản phem quế của Việt Nam 1995-
2002
Năm
KNXK lâm sản
( triệu USD)
KNXK quế
(nghìn USD)
1995 153,9 7259
1996 212,2 6753
1997 225,2 7421
1998 191,4 1689
1999 175,5 4868
2000 206,3 8177
2001 218,9 9008
2002 220,4 9594
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006
Trong những năm từ 1995-2002, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm quế cả
nước có sự thay đổi, lên xuống đáng kể. Nguyên nhân của sự tăng - giảm kim
ngạch xuất khẩu này một phần do khối lượng xuất khẩu không đồng đều, và
do chất lượng quế đã ảnh hưởng tới giá trị sản phẩm xuất khẩu.
Năm 1996 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm quế của cả nước đạt 6.753
nghìn USD, giảm 17% so với năm 1995. Đến năm 1997, kim ngạch xuất khẩu
lâm sản và kim ngạch xuất khẩu quế đều tăng, tuy nhiên tăng không đáng kể.
22
22
Năm 1998 và 1999, kim ngạch xuất khẩu quế giảm mạnh đặc biệt năm 1998
Chất lượng của vỏ Quế biểu hiện ở chiều dầy, hàm lượng tinh dầu và
thành phần của tinh dầu. Nhưng những chỉ số này còn phụ thuộc vào độ cao
của lập địa trồng Quế. Ở độ cao trên 700m, cây có đường kính 22 - 25 cm cho
vỏ dầy 0,7 - 1,0 cm, hàm lượng tinh dầu 4 - 4,5%, hàm lượng aldehyt
cinnamic lên tới 88%, ở độ cao 200 - 300 m, chỉ số đó là 84%.
Như vậy, đặc thù về địa hình vùng trồng quế thể hiện khá rõ nét khi so
sánh địa hình chung của xã Trung Tâm với huyện Lục Yên. Các đặc điểm về
địa hình và địa mạo trên rất phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây
24
24
quế. Hơn nữa, đặc thù của địa hình đã tạo ra tiểu vùng khí hậu đặc trưng, là
một yếu tố quan trọng đem lại quế có chất lượng cao, chất lượng khác biệt so
với các vùng khác trong và ngoài tỉnh.
1.1.1.3. Khí hậu
Nằm trong vùng đồi núi cao Bắc bộ nên khí hậu của xã mang những nét
đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa khô lạnh
kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau thường có mưa phùn và
giá rét kéo dài do ảnh hưởng của các đợt gió mùa đông bắc. Mùa mưa nóng
ẩm kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung vào các tháng 7,8,9
chiếm tới 70% lượng mưa cả năm.
Qua nghiên cứu đặc điểm khí hậu, có thể thấy rằng điều kiện khí hậu
của vùng trồng quế ở Trung Tâm có nhiều điểm thuận lợi và phù hợp cho các
yêu cầu sinh thái của cây quế, đặc biệt là vào hai thời kỳ sinh trưởng chính
của cây quế là tháng Ba, tháng Tư và tháng Tám, tháng Chín. Về khí hậu, các
yếu tố chính như: lượng mưa, độ ẩm không khí, nhiệt độ, biên độ ngày của
nhiệt độ không khí có ảnh hưởng lớn đến cây quế, đặc biệt là ảnh hưởng đến
quá trình ra chồi, phát lộc và tích lũy nước, tích lũy tinh dầu trong vỏ và lá
quế.
Điều kiện khí hậu thời tiết xã Trung Tâm là vùng có lượng mưa lớn, độ
ẩm không khí cao, lượng bức xạ nhiệt thấp, lượng bốc hơi thấp, nhưng trong