KINH ÐÔ HUẾ VÀ DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI
Việc nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô và đầu
tư xây dựng suốt 1,5 thế kỷ đã để lại cho Huế một
di sản kiến trúc vật chất đồ sộ với quần thể cung
điện, lăng tẩm, thành quách, đình tạ, miếu đường
nguy nga, lộng lẫy. Hơn thế nữa, trong tiến trình
lịch sử lâu dài của Huế đã hình thành nên một di
sản văn hóa phi vật thể do bao thế hệ dày công xây dựng hun đúc nên với những vốn qúy
tinh thần, những phong tục tập quán, lễ hội, các ngành nghệ thuật, những ngành nghề thủ
công truyền thống đã tạo cho Huế một giá trị đặc trưng nổi bật, một bản sắc riêng độc
đáo.
Nhưng vùng đất thơ mộng này đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt, lại còn
chịu tác động khắc nghiệt của môi trường và khí hậu, nên đã một thời quần thể di tích Huế
xuống cấp nghiêm trọng, đến nỗi trong lần thăm Huế vào tháng 11.1981 ông Tổng Giám đốc
Unesco Amadou Mahtar M'Bow đã phải khẩn thiết kêu gọi "cứu vãn Huế" với những lời tâm
huyết "Huế phải được cứu vãn, phải được cứu vãn cho Việt nam mà Huế là một cao điểm.
Ở đó thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc , phải được cứu vãn cho thế giới, vì Huế cũng là một
bộ phận tổ thành của di sản văn hóa loài người". Kể từ khi lời kêu gọi đó được phát đi,
nhóm công tác Huế - Unesco (Hue-Unesco working Group) và chính quyền Việt Nam các cấp
đã thực hiện nhiều chương trình hoạt động rất tích cực nhằm từng bước trùng tu và bảo tồn
quần thể di tích Huế và 12 năm sau đã đem lại kết quả đáng mừng: Tháng 12.1993, Hội đồng
di sản thế giới (WHC) đã ghi cố dô Huế vào danh mục di sản văn hóa thế giới với nội dung
"Tổng thể lăng tẩm của Huế là một thí dụ điển hình về đô thị hóa và kiến trúc của một
kinh đô phòng thủ, thể hiện quyền lực của vương quốc phong kiến cổ của Việt Nam ở thời
kỳ huy hoàng vào thế kỷ XX". Quần thể di tích Huế trở thành di sản thứ 410 trong danh mục
di sản thế giới.
KINH THÀNH HUẾ
Kinh thành Huế được xây dựng gần 30 năm (từ
1803 đến 1832), là một dãy thành lũy dài cao 6,60m, dày
21m, với chu vi gần 9.000m. Trên mặt thành ngày xưa có
tới 24 pháo đài.Bên ngoài, dọc theo bờ thành có hào sâu
• Từ Ngọ Môn đến Ðiện Thái Hòa làm nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.
• Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và Ðiện Phụng Tiên là nơi thờ các
vua chúa nhà Nguyễn.
Cửa Hiển Nhơn
2
• Cung Diên Thọ và Cung Trường Sanh là nơi ở của Hoàng Thái Hậu và Thái Hoàng
Thái Hậu.
• Phủ Nội Vụ là nhà kho tàng trữ đồ quý, xưởng chế tạo đồ dùng hoàng gia.
• Vườn Cơ Hạ và Ðiện Khâm Văn là nơi các
Hoàng tử học tập và chơi đùa.
Tử Cấm Thành: Có mặt bằng cũng gần vuông,
cao 3,7m, mặt trước và sau dài 324m; mặt trái và phải dài
290m. Quanh thành trổ 10 cửa. Ðại Cung Môn là cửa
chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua ra vào, hiện nay đã hư hại hòan toàn. Bức bình phong to
rộng dăng ngang sau lưng đIện Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày) là dấu hiệu cho biết
thế giới sau đó chỉ dành riêng cho vua và gia đình. Trong đó có hàng trăm cung nữ và hàng
chục thái giám thường trú để phục vụ hoàng gia. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến
trúc vàng son lộng lẫy bao gồm: điện Càn Thành (nơi vua ở), điện Khôn Thái (nơi vợ chính
vua ở), Duyệt Thị Ðường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua), Thái Bình Lâu (nơi
vua đọc sách),.điện Quang Minh (nơi ở các hòang tử), điện Trinh Minh (nơi các hòang hậu ở),
điện Kiến trung, vườn Cẩm Uyển
Hệ thống kiến trúc ở Ðại Nội đã được hoạch định
theo những nguyên tắc chặt chẽ, đăng đối: chia ra
các vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ, chiêu mục tất
cả đều nhất quán. Nó thể hiện những khái niệm về
triết lý chính trị Nho giáo phương đông. Phần lớn các
công trình kiến trúc ở đây đều làm bằng gỗ quý , nhưng cũng không chịu đựng nổi với thiên
tai, khí hậu khắc nghiệt hàng thế kỷ qua và các cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề. Cho nên
một số công trình đã bị hư hỏng, các di tích quý này hiện nay đang được Nhà nước quan tâm
đầu tư kinh phí để phục hồi, tôn tạo lại từng bước.
ÐIỆN THÁI HÒA
Trong phạm vị hoàng cung triều Nguyễn, Ðiện Thái
Hòa là công trình kiến trúc quan trọng nhất xét về nhiều
4
mặt: chức năng, vị trí, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa nghệ thuật. Ðiện Thái Hòa là địa điểm
sinh hoạt quan trọng nhất của triều đình nhà Nguyễn. Ðây là nơi diễn ra các lễ đại triều hàng
tháng (vào ngày 1 và 15 âm lịch) hoặc các đại lễ khác như lễ Ðăng Quang (vua lên ngôi), lễ
Vạn Thọ (sinh nhật vua), lễ Hưng Quốc Khánh Niệm với sự tham gia của vua, hoàng thân,
quốc thích và các vị đại thần.
Về lịch sử xây dựng ngôi điện này, có thể chia làm ba thời kỳ chính, trong mỗi thời kỳ đều
có một số thay đổi, cải tiến về kiến trúc trang trí,
Thời Gia Long Ðiện Thái Hòa được khởi công
xây dựng vào 21/2/1805 và hoàn thành vào tháng
10/1805. Thời Minh Mạng, vào tháng Giêng năm
Quý Tỵ, tức tháng 3/1833, khi tái quy hoạch và hoàn
chỉnh hóa hệ thống kiến trúc cung đình Ðại Nội, vua
Minh Mạng đã cho dời điện Thái Hòa hơi dé về phía Nam, đồ sộ và rộng lớn. Thời Khải
Ðịnh, năm 1923, vua Khải Ðịnh cho đại tu điện Thái Hòa để chuẩn bị cho lễ Tứ tuần đại
khánh tiết. Trong đợt tu sửa lớn này, có một số bộ phận kiến trúc ngôi điện này được thay
đổi và làm mới.
Trên mái điện, người ta đắp nổi 9 con rồng với một nghệ thuật cực
kỳ tinh xảo. Cuối gian giữa của chính điện là ngai vàng được chạm
khắc công phu, phía trên là bửu tán được trang trí cực kỳ lộng lẫy. Tám
mươi cây cột gỗ lim khá lớn đều vẽ hình rồng vờn mây, màu vàng son
rực rỡ.
Qua kiến trúc và trang trí của Ðiện Thái Hòa, chúng ta thấy người xưa đã gửi gắm vào đó
khá nhiều ý tứ sâu xa đượm màu sắc đạo lý truyền thống phương Ðông. Bên cạnh ngôn ngữ
kiến trúc mang tính triết học, tòa cung điện này còn ghi lại nhiều ngôn ngữ văn học với 297 ô
hộc khắc chạm và đúc nổi thơ chữ Hán, nói lên một trong những nét đặc sắc của văn hóa Phú
Xuân đầu thế kỷ XIX.
Xây dựng một lần với Thế Miếu từ 1821-1822 (thời
vua Minh Mạng). Hiển Lâm Các xây dựng ngay phía trước
Thế Miếu, trên khối nền cao hình chữ nhật, từ dưới bước lên
mặt nền trước sau có 9 bậc.
Hiển Lâm Các được kiến trúc bằng gỗ theo hình
thức cao tầng, chức năng chính được xem như là đài
Thế Miếu
Nội thất Thế Miếu
6
kỷ niệm ghi nhớ công lao các vua triều Nguyễn thờ ở Thế Miếu và các đại thần có công
thờ ở hai bên Tả Tùng Tự và Hữu Tùng Tự.
Hiển Lâm Các là công trình kiến trúc có giá trị về cả kỹ thuật lẫn thẩm mỹ, kiến trúc thanh
tú hài hòa với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp.
CỬU ĐỈNH
Ðặt tại sân Thế Miếu, là sản phẩm độc đáo, tinh xảo, được Bộ Công đúc tại Huế từ cuối
năm 1835-đầu 1837. Cửu Ðỉnh biểu hiện ước mơ về sự trường tồn
mãi mãi của triều đinh nhà Nguyễn và sự giàu đẹp của đất nước.
Ðiều đó được thể hiện rất rõ trong việc đặt tên gọi cũng như tầm vóc
và các hoa văn chạm nổi trên Cửu Ðỉnh. Mỗi đỉnh có khắc một
tên riêng bằng chữ Hán, lấy từ miếu hiệu (tên để thờ cúng) của
một vị vua nhà Nguyễn. Và cái đỉnh đó được xem là biểu tượng
của vị vua đó. Cao Ðỉnh (vua Gia Long) ở vị trí chính giữa, Ðỉnh
hai bên trái phải lần lượt là: Nhân Ðỉnh (vua Minh Mạng), Chương
Ðỉnh ( vua Thiệu Trị), Anh Ðỉnh (vua Tự Ðức), Nghị Ðỉnh (vua Kiến Phúc), Thuần Ðỉnh (vua
Ðồng Khánh), Tuyên Ðỉnh (vua Khải Ðịnh), Dụ Ðỉnh, Huyền Ðỉnh (chưa tượng trưng cho ông
vua nào cả, mặc dù triều Nguyễn còn có 6 vị vua khác).
Giá trị của 9 Ðỉnh trước hết ở tầm vóc to lớn và trình độ đúc đồng tinh xảo của các nghệ nhân
đúc đồng Huế. Cao Ðỉnh cao 2,5m, nặng 2601kg-là đỉnh cao và nặng nhất. Huyền Ðỉnh cao
2,31m, nặng 1935kg - là đỉnh thấp và nhẹ nhất. Quanh hông đỉnh đều chạm trỗ 17 cảnh vật. Như
vậy có tới 153 cảnh vật được chạm nổi trên Cửu Ðỉnh. Ðó là các hình ảnh: núi, sông, trăng, sao,
bên dưới lớp gạch Bát Tràng được lát bằng các tấm chì lá để cách ẩm và rải bột lưu huỳnh
nhằm chống mối mọt.
Qua năm tháng và các biến động lịch sử, những tư liệu quý lưu trữ ở lầu Tàng Thơ đã bị
thất lạc. Ngôi lầu bị hư hỏng xuông cấp nghiêm trọng.
CỬU VỊ THẦN CÔNG
Trong hàng ngàn khẩu súng thần công bằng đồng được đúc
dưới thời các chúa Nguyễn và vua Nguyễn, chín khẩu súng đúc
thời Gia Long có kích thước lớn nhất và được trang trí đẹp nhất.
Sau khi đã đánh đổ vương triều Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế,
vua Gia Long hạ lệnh tập trung các mảnh khí bằng đồng tịch thu được của triều đại này đem
nấu chảy và đúc thành 9 khẩu súng lớn để làm kỷ niệm muôn đời . Tên mỗi khẩu đại bác
được đặt trước, gọi tên bốn mùa (tứ thời) trong năm Xuân - Hạ - Thu - Ðông và năm yếu tố tự
nhiên (ngũ hành) là Kim - Mộc - Thủy - Hoả - Thổ rồi khắc thành chữ ở nuốm từng đuôi súng.
Trường Du Tạ
8
Năm 1816, chín khẩu súng này còn được triều đình Gia Long tặng thêm tên mới là Thần oai
vô địch thượng tướng quân cửu vị.
Súng có chiều dài 5,10m, đường kính nòng
0,23m, nòng dày 0,105m, trọng lượng khẩu nặng
nhất là 18.400kg, khẩu nhẹ nhất là 17.000kg. Mỗi
khẩu súng đặt trên một cái giá bằng gỗ chạm trỗ
rất công phu. Hai bên giá có 4 bánh xe gỗ viền sắt
để tiện cho việc di chuyển.
Ngoài giá trị lịch sử, Cửu vị Thần công còn mang giá trị nghệ thuật cao. Kỹ thuật đúc
đồng, nghệ thuật trang trí và chạm khắc trên đồng cũng như trên 9 giá gỗ đều rất điêu luyện,
tinh
PHU VĂN LÂU
Ðược xây dựng vào năm 1819 dưới thời vua Gia Long,
dùng làm nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng của nhà vua và
triều đình, hoặc kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức. Năm
bêtông như hiện nay.
Tại Ngọ Môn chiều 30/8/1945, trước hàng vạn quần chúng tham dự, Bảo Ðại đọc lời thoái
vị và giao nộp ấn, kiếm cho đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, cờ đỏ sao
vàng đã được kéo lên Kỳ Ðài, đánh dấu chấm hết một chế độ phong kiến đã tồn tại hàng ngàn
năm trên đất nước ta, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam. Trong cuộc tổng tấn công và
nổi dậy toàn miền Nam, mùa Xuân năm 1968, 8 giờ sáng ngày 31/1/1968 quân giải phóng chiếm
được Kỳ Ðài và lá cờ của Mặt trận liên minh dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam được kéo
lên. Ngọn cờ cách mạng đã được giữ vững suốt 26 ngày đêm 5 giờ sáng ngày 21/3/1975 chiến
dịch giải phóng Huế - Ðà Nẵng mở màn, Trung đoàn 6 ( Trung đoàn Phú Xuân ) của Quân khu
Trị Thiên được giao nhiệm vụ cắm cờ chiến thắng ở Thành phố Huế và đến 6 giờ sáng ngày
26/3/1975 lá cờ dài 12m, rộng 8m của MTDTGPMN Việt Nam đã được kéo lên, đánh dấu mốc
lịch sử Thành phố Huế và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên Huế ỵ được hoàn toàn giải phóng
BẢO TÀNG MỸ THUẬT CUNG ĐÌNH
Thành lập năm 1923 thời vua Khải Ðịnh.
Hiện ở tại số 3 Lê Trực, khuôn viên rộng
6.330m2. Tòa nhà chính nguyên là điện Long
An, ngôi điện từng được đánh giá là một trong
những ngôi điện đẹp nhất của kiến trúc cung
đình Việt Nam. Rộng 1.200m2, được xây dựng
vào năm 1845 thời vua Thiệu Trị. Ðây là một công trình bằng gỗ tuyệt mỹ, có tới 128 cây
Bảo tàng cổ vật
10
cột gỗ quý. Trên toàn bộ các bộ phận bằng gỗ của tòa nhà chạm trổ hàng trăm bức tranh cổ
điển, các con vật thiêng: rồng, lân , rùa, phụng; và trên 1.000 bài thơ bằng chữ Hán. Cùng
với kỹ thuật chạm gỗ điêu luyện, kỹ thuật
khảm trai, khảm xà cừ, khảm ngà tinh tế tạo cho điện Long An vẻ đẹp mới lạ, không lộng
lẫy phô trương mà tinh tế, sắc sảo.
Bảo tàng hiện trưng bày khỏang 300 hiện vật cổ quý hiếm bằng vàng, bạc, ngọc, sành sứ,
gỗ Tất cả những cổ vật được trưng bày tại đây là những tác phẩm nghệ thuật cung đình có giá trị
được các nghệ nhân thực hiện một cách công phu và tài tình. Bản thân điện Long An là hiện vật
đàn cũng hình vuông, màu vàng, tượng trưng cho đất. Tầng thứ ba
hình tròn, gọi là Viên đàn, màu xanh, tương trưng cho trời. Kiểu kiến trúc này phản ánh quan
niệm về vũ trụ Ðông phương: Trời tròn, Ðất vuông.
Chung quanh đàn Nam Giao, còn nhiều ngôi nhà: Trai Cung (nơi nhà vua ở và chay tịnh
khi làm lễ tế trời), Thần Trù (nhà bếp), Thần Khố (nhà kho) và trồng nhiều thông.
Lễ tế trời ở Ðàn Nam Giao là một đại lễ, được tổ chức mỗi năm một lần, kéo dài tới 3
ngày ( từ thời vua Gia Long đến thời vua Ðồng Khánh).
Từ sau đời vua Thành Thái (1889-1907) đến năm 1945,
3 năm mới tiến hành lễ tế trời một lần. Thời Bảo Ðại
(1926-1945), lễ tế trời rút lại chỉ còn một ngày.
HỔ QUYỀN
Xây dựng vào năm 1830. Vòng tường thành cao
5,90m, dày trung bình 4,50m. Mặt tường thành trở
thành khán đài. Vị trí vua ngồi được xây cao hơn, quay
mặt về hướng Nam, đối diện với 5 cái chuồng nhốt hổ.
Hổ quyền là nơi tổ chức các cuộc tử chiến giữa voi
và hổ, vừa để cho vua quan, dân chúng thưởng thức,
vừa để luyện tập cho voi chiến đấu. Trước khi đấu, hổ đều bị cắt nanh, bẻ vuốt. Cho nên, trong
Hổ Quyền
12
cuộc tử chiến ấy, voi luôn luôn giết chết và chà nát hổ. Sự chiến thắng của voi được coi là
biểu tượng cho sự vô địch của quyền lực nhà vua và triều đình.
13