Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 3
1.Một số khái niệm 3
1.1 Nguồn nhân lực 3
1.2 Nguồn lao động 3
1.3 Sức lao động 3
1.4 Việc làm 3
1.5 Thất nghiệp 4
1.6 Thị trường lao động 4
1.7 xuất khẩu lao động 4
2.Sự hình thành và phát triển của thị trường lao động hàng hóa quốc tế 4
3. Các hình thức xuất khẩu lao động 5
3.1 Chia theo hàng hóa sức lao động 5
3.2 Chia theo cách thực hiện 6
3.3 Các hình thức xuất khẩu lao động mà nước ta đã sử dụng 6
4. Những đặc điểm, sự cần thiết và vai trò của việc xuất khẩu lao động 6
4.1 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động 6
4.2 Sự cần thiết của việc xuất khẩu lao động 8
4.3 Vai trò của việc xuất khẩu lao động 9
5. Những bài học kinh nghiệm về xuất khẩu lao động 9
5.1 Vai trò của Nhà nước 9
5.2 Thu nhập và quyền lợi kinh tế, vấn đề không chỉ đối với người lao động 10
5.3 Việc làm khi lao động trở về nước 10
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM 11
I - THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 11
1. Khái quát chung về lực lượng lao động ở Việt Nam 11
II. THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM 21
CHƯƠNG III: TRIỂN VỌNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở
VIỆT NAM 25
1.3 Sức lao động
Là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải
xã hội, phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu tiên cần
thiết trong quá trình lao động xã hội.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường sức lao động cũng là một loại
hàng hóa và cũng được trao đổi trên thị trường ngoài nước. Sức lao động là một
loại hàng hóa đặc biệt không chỉ vì sự khác biệt với hàng hóa thông thường là
khi sử dụng nó sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, mà còn được thể
hiện ở chất lượng hàng hóa này phụ thuộc chặt chẽ vào một loạt các nhân tố có
tính đặc thù. Chất lượng của hàng hóa sức lao động ở đây được phản ánh ở khả
năng dẻo dai, bền bỉ trong lao động của người lao động, khả năng thành thạo và
sáng tạo trong công việc và khối lượng công việc hoặc sản phẩm được hoàn
thành bởi người lao động trong một đơn vị thời gian.
1.4 Việc làm
Theo điều 13 – Bộ luật Lao động đã nêu rõ: Mọi hoạt động tạo ra nguồn
thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Nhóm 5 Page 3
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
1.5 Thất nghiệp
Là tình trạng người có sức lao động, từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm hoạt
động kinh tế tại thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm
việc.
1.6 Thị trường lao động
Là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là những
người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó.
Thị trường lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị
trường và chịu sự tác động của hệ thống quy luật của nền kinh tế thị trường.
Một thị trường lao động tốt là thị trường mà ở đó lượng cầu về lao động tương
ứng với lượng cung về lao động.
1.6.1 Thị trường lao động trong nước
nhọc, nguy hiểm và độc hại nên không hấp dẫn lao động của chính nước họ
gây ra thiếu hụt lao động. Để duy trì phát triển sản xuất thì các nước này chỉ còn
cách là đi thuê lao động từ nước ngoài về làm việc ở những nước kém phát triển
hơn, có nhiều lao động dư và có khả năng cung ứng lao động làm thuê.
Như vậy đã xuất hiện nhu cầu trao đổi giữa một bên là những quốc gia có
nguồng lao động dôi dư với một bên là các nước có nhiều việc làm, cần thiết
phải có đủ số lượng lao động để sản xuất. Do đó vô hình chung đã làm xuất hiện
(Cung - Cầu): cung là đại diện cho bên có nguồn lao động, còn cầu là đại diện
cho bên các nước có nhiều việc lam, đi thuê lao động. Điều này cũng đồng
nghĩa với việc đã hình thành lên một loại thị trường, đó là thị trường hành hóa
lao động quốc tế.
Khi lao động được hai bên mang ra thỏa thuận, trao đổi, thuê mướn, lúc
này sức lao động trở thành một loại hàng hóa như những loại hàng hóa hữu hình
bình thường khác. Như vậy, sức lao động cũng là một loại hàng hóa khi nó được
đem ra trao đổi, mua bán thuê mướn và khi đã là một loại hành hóa thì hành hóa
sức lao động cũng phải tuân theo quy luật khách quan của thị trường: Quy luật
cung - cầu, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh như những loại hàng hóa hữu
hình khác.
Qua sự phân tích ở trên cho ta thấy: Để có thể hình thành thị trường lao
động xuất khẩu trước hết phải xuất phát từ những nhu cầu trao đổi hoặc thuê
mướn lao động giữa bên cho thuê lao động và bên đi thuê lao động. Thực chất,
khi xuất hiện nhu cầu trao đổi, thuê mướn lao động giữa các quốc gia này và
quốc gia khác, là đã hình thành lên hai yếu tố cơ bản của thị trường, đó là cung
và cầu về lao động. Như vậy thì thị trường hàng hóa sức lao động quốc tế đã
hình thành từ đây.
Ngày nay trong sự hội nhập và phát triển đời sống kinh tế xã hội thì quan
hệ cung cầu không bị bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, biên giới của một
nước chỉ còn ý nghĩa hành chính, còn quan hệ này ngày càng diễn ra trên phạm
vi quốc tế, mà trong đó bên cung đóng vai trò là bên xuất khẩu và cầu sẽ đại
diện cho bên nhập khẩu lao động.
Đưa lao động đi làm việc tại các công trình doanh nghiệp Việt Nam nhận
thầu khoán xây dựng, liên doanh hay liên kết tạo ra sản phẩm ở nước ngoài.
Cung ứng lao động trực tiếp theo các yêu cầu của công ty nước ngoài
thông qua các hợp đồng lao động được ký kết bởi các doanh nghiệp Việt Nam
làm dịch vụ cung ứng lao động.
Người lao động trực tiếp ký với cá nhân, tổ chức nước ngoài nhưng khi
làm thủ tục phải thông qua một doanh nghiệp chuyên doanh về xuất khẩu lao
động.
Xuất khẩu lao động tại chỗ.
4. Những đặc điểm, sự cần thiết và vai trò của việc xuất khẩu lao động
4.1 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
4.1.1 Xuất khẩu lao động là một loại hoạt động kinh tế và diễn ra gay gắt
Ở nhiều nước trên thế giới, xuất khẩu lao động là một trong những giải
pháp quan trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ và thu
ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi ích
Nhóm 5 Page 6
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
khác. Những lợi ích này đã buộc các nước xuất khẩu lao động phải chiếm lĩnh
mức cao nhất thị trường lao động ở nước ngoài, mà việc chiếm lĩnh được hay
không lại dựa trên quan hệ cung cầu sức lao động. Nó chịu sự điều tiết, sự tác
động của các quy luật của kinh tế thị trường. Bên cung phải tính toán mọi hoạt
động của mình đẻ làm sao bù đắp được chi phí và có phần lãi vì vậy cần phải có
cơ chế thích hợp để tăng khả năng tối đa về cung lao động. Bên cầu cũng phải
tính toán kỹ lưỡng hiệu quả của việc nhập khẩu lao động.
Như vậy, việc quản lý Nhà nước, sự điều chỉnh pháp luật luôn luôn luôn
bám sát đặc điểm này. Làm sao để mục tiêu kinh tế phải là mục tiêu số 1 của
mọi chính sách pháp luật về xuất khẩu lao động.
4.1.2 Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội
Thực chất, xuất khẩu lao động không tách rời khỏi người lao động. Do
vậy, mọi chính sách pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp
không thật hấp dẫn người lao động
Ngược lại, cũng vì chạy theo thu nhập cao mà người lao động rất dễ vi
phạm những hợp đồng đã ký kết, bỏ hợp đồng ra làm việc bên ngoài Do vậy,
các chế độ chính sách phải tính toán làm sao cho đảm bảo được sự hài hòa lợi
ích của các bên, trong đó phải thật chú ý đến lợi ích trực tiếp của người lao
động.
4.1.5 Xuất khẩu lao động là hoạt động đầy biến đổi
Hoạt động xuất khẩu lao động phụ thuộc rất nhiều vào nước có nhu cầu
nhập khẩu lao động do vậy cần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nước
ngoài đang và sẽ được thực hiện để xây dưng chính sách và chương trình đào
tạo giáo dục định hướng phù hợp và linh hoạt. Chỉ có những nước nào chuẩn bị
được đội ngũ công nhân với tay nghề thích hợp mới có điều kiện thuận lợi hơn
trong việc chiếm lĩnh thị phần lao động ở ngoài nước. Và cũng chỉ có nước nào
nhìn xa trông rộng, phân tích đánh giá và dự đoán đúng tình hình mới không bị
động trước sự biến đổi của tình hình từ đó đưa ra được chính sách đón đầu trong
hoạt động xuất khẩu lao động.
4.2 Sự cần thiết của việc xuất khẩu lao động
Qua thực tế đã cho ta thấy được Việt Nam là một quốc gia đông dân với
hơn 85 triệu người.
Theo số liệu điều tra năm 2009 cho thấy dân số trong độ tuổi lao động là
66% so với tổng dân số, hằng năm tăng thêm 1,2 triệu lao động/năm, chiếm 3%
trong tổng số lực lượng lao động. Riêng lao động kỹ thuật cao 3 triệu người tốt
nghiệp trung cấp (chiếm 3,9%), 1,1 triệu tốt nghiệp cao đẳng (chiểm 1,3%), 2,7
triệu tốt nghiệp đại học (chiếm 3,4%), 141 nghìn người có học vị trên đại học
(chiếm 0,2%). Chỉ có 4 triệu người chưa đi học (chiếm 5,1%) so với dân số từ 5
tuổi trở lên
Với tình trạng tốc độ phát triển nguồn lao động nêu trên, mâu thuẫn giữa
lao động và việc làm ngày càng trở nên gay gắt với nền kinh tế. Nếu không giải
quyết một cách hài hòa và có những bước đi thích hợp giữa mục tiêu kinh tế và
xã hội sẽ dẫn tới mất ổn định nghiêm trọng về mặt xã hội. Cùng với hướng giải
5. Những bài học kinh nghiệm về xuất khẩu lao động
5.1 Vai trò của Nhà nước
Để có thể tồn tại và phát triển phù hợp với những xu hướng vận động của
nền kinh tế thế giới và quá trình hội nhập kinh tế đang diễn ra trong khu vực và
trên thế giới, xuất khẩu lao động càng phải nhận được sực quan tâm, hướng dẫn
chỉ đạo đặc biệt từ phía Nhà nước. Cho nên muốn hay không muốn thì vai trò
của Nhà nước trong bối cảnh hiện nay và kể cả trong tương lai vẫn đóng một vai
trò quan trọng và cần thiết trong việc hoạch định chính sách phát triển xuất khẩu
lao động, nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết trong tình hình mới. Thực tế
đã chứng minh, càng ngày xuất khẩu lao động càng được các chuyên gia đưa
vào hoạch định chính sách phát triển kinh tế, coi xuất khẩu lao động là một
trong các ngành kinh tế mũi nhọn, quan trọng của đất nước trong việc thực hiện
các mục tiêu kinh tế xã hội của nước mình. Do đó để thực hiện tốt những mục
tiêu có tính chất chiến lược đã được hoạch định, Nhà nước phải ban hành hệ
thống luật pháp, cơ chế và chính sách nhằm:
+ Tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xuất khẩu lao động phát triển.
Nhóm 5 Page 9
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
+ Khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động
phát triển.
+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
5.2 Thu nhập và quyền lợi kinh tế, vấn đề không chỉ đối với người lao động
Vấn đề nguồn thu ngoại tệ thu được từ lao động xuất khẩu lao động đã có
tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều quốc gia xuất khẩu lao động, trong
đó có Việt Nam chúng ta. Trong điều kiện suy thoái nền kinh tế, chính sách bảo
hộ mậu dịch của các nước phát triển đã tạo nên sức ép lên cán cân thanh toán
của những nước chậm và đang phát triển, thì nguồn kiều hối xuất khẩu lao động
trở thành một nguồn quan trọng trong việc làm cân bằng cán cân thanh toán.
Bên cạnh đó một số quốc gia đã đưa lượng kiều hối từ xuất khẩu lao động vào
tính toán thu nhập quốc dân. Chính những vấn đề này buộc chúng ta phải thừa
Theo số liệu thống kê năm 2013 dân số Việt Nam là khoảng hơn
90.000.000 người, là một nước đông dân thứ 3 khu vực Đông Nam Á và đứng
thứ 13 trong những nước đông dân nhất thế giới. Theo báo cáo thì dân số của
nước ta đã đạt đến “cơ cấu dân số vàng” với tỉ trọng dân số dưới độ tuổi lao
`động chiếm 25%, tỉ trọng dân số trong độ tuổi lao động là 66% và dân số trên
độ tuổi lao động là 9%. Điều đó cho thấy nước ta đang sở hữu một lực lượng lao
động tương đối dồi dào và đây cũng chính là tiềm năng lớn để phát triển đất
nước. Tuy nhiên vấn đề giải quyết việc làm là một trong những vấn đề nóng
bỏng và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trình độ học vấn của lao động của Việt Nam đang được nâng lên từng
ngày. Theo số liệu thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy tỉ lệ người từ 5 tuổi trở lên
đã đi học là 94,9%: Trong đó có 16,4 triệu người chưa tốt nghiệp tiểu học
(chiếm 20,8%), 20,2 triệu người tốt nghiệp tiểu học (chiếm 25,7%) 17,2 triệu
người tốt nghiệp trung học cơ sở (chiếm 21,2%), 12,2 triệu người tốt nghiệp
trung học phổ thông (chiếm 15,5%), 1,7 triệu người tốt nghiệp sơ cấp (chiếm
2,1%), 3 triệu người tốt nghiệp trung cấp (chiếm 3,9%), 1,1 triệu tốt nghiệp cao
đẳng (chiểm 1,3%), 2,7 triệu tốt nghiệp đại học (chiếm 3,4%), 141 nghìn người
có học vị trên đại học (chiếm 0,2%). Chỉ có 4 triệu người chưa đi học (chiếm
5,1%) so với dân số từ 5 tuổi trở lên. Tỉ lệ này so với năm 1999 đều tăng lên với
tỉ lệ đáng kể nhất là tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng và
đại học. Đó là một điều khả quan cho lực lượng lao động của Việt Nam trong
giai đoạn hiện tại và tương lai.
Có thể khái quát cơ bản về đặc điểm của lực lượng lao động của nước ta
như sau:
Lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, nhanh nhẹn cần cù và
có khả năng nắm bắt công việc nhanh, có thể nói thương hiệu “lao động Việt
Nam” đã và đang được đánh giá cao trên thị trường lao động quốc tế.
Tỉ lệ lao động qua đào tạo có xu hướng tăng lên rõ rệt, hiện nay nước ta tỉ
lệ lao động đã qua đào tạo của nước ta chiếm khoảng hơn 25,3% trong đó tỉ lệ
qua đào tạo chuyên môn kĩ thuật chiếm khoảng 16,8% lực lượng lao động. Điều
châu Á có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán và khí hậu…
cộng thêm vào đó là chi phí đi lại rẻ nên thu hút được nhiều lao động Việt Nam
như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia… Và có một đặc điểm chung là
ở những thị trường này không có yêu cầu cao và quá khắt khe về trình độ lành
nghề nên lao động Việt Nam đáp ứng đủ những điều kiện về thể lực và trí lực.
Trong một vài năm tới ở những thị trường này vẫn còn tiếp nhận lao động giản
đơn và bước đầu chuyển dần sang tiếp nhận lao động có tay nghề trong các lĩnh
vực như: Tin học, chế tạo máy…
Bên cạnh những thị trường lao động ở khu vực châu Á đang tiếp nhận lao
động Việt Nam thì còn một số thị trường lao động khác vẫn tiếp nhận một số
lượng lao động của nước ta không nhiều và chủ yếu tập trung ở các ngành nghề
lao động giản đơn.
3. Những thành tựu và hạn chế của xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm
2001 đến nay
3.1. Những thành tựu của xuất khẩu lao động trong những năm qua
Nhóm 5 Page 12
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
Trong những năm qua hoạt động xuất khẩu lao động là một trong những
vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm, đó là một trong những hoạt động
nhằm giải quyết việc làm cho người lao động và cải thiện đời sống dân sinh. Có
thể nói đây là một trong những hoạt động thường niên mà Quốc hội đưa vào chỉ
tiêu kế hoạch hằng năm, đây cũng à xu hướng tất yếu trong thời kì hội nhập với
kinh tế quốc tế.
Trong nhiều năm qua hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta đã có
nhiều chuyển biến rõ rệt, số lao động được đi làm việc không chỉ tăng theo cấp
số cộng mà đã tăng theo cấp số nhân trong những năm gần đây. Nhìn lại thành
tựu mà xuất khẩu lao đông nước ta đã mang lại qua các thời kì từ năm 1980 đến
nay sẽ cho chúng ta thấy rõ điều đó.
Bên cạnh đó số địa phương và các doanh nghiệp đăng kí với bộ Lao động
– Thương binh và Xã hội đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng
2009 75000 1548201000
2010 85546 -
2011 88298 -
2012 >80 000 -
2013 88155 -
2014 87000* -
(Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã
hội)
(- không có số liệu)
(* số liệu dự tính)
Vào thời kì này chính sách xuất khẩu lao động của nước ta đã có phần
thông thoáng và mở rộng được nhiều hơn chính và vậy mà số lượng người lao
động đi làm việc ở nước ngoài ngày một tăng lên, nhất là 4 năm trở lại đây, tình
hình xuất khẩu lao động nước ta đã có nhiều khởi sắc. Riêng năm 2009 do ảnh
hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu nên tình hình xuất khẩu lao động bị
giảm nhưng không đáng kể. trong năm 2011 sự kiện Libya đsx khiến cho hơn
10.000 lao động Việt nam phải quay trở về nước và không thể đưa thêm lao
động vào thị trường này làm cho các năm sau nước ta bị mất 1 thị trường để
xuất khẩu lao động.
Các lao động xuất khẩu mang về ngoại tệ cho đất nước, có điều kiện để học hỏi
nâng cao tay nghề, kinh nghiệm cho bản thân giúp ích nhiều cho nền kinh tế.
nhưng sau khi về nước nhiều người không được bố trí công việc hợp lí để tận
dụng vốn kỹ năng kinh nghiệm quý báu của họ được tích lũy khi xuất ngoại.
đây là 1 điều đáng tiếc lãng phí khả năng của lao động xuất khẩu.
Trung bình mỗi năm lao động xuất khẩu gửi về từ 1.5 đến 2 tỷ USD. Trong đó
Hàn quốc hơn 700 triệu USD, Nhật bản hơn 300 triệu USD. Năm 2010 Việt
nam đứng thứ 16 trong số 30 quốc gia có lượng kiều hối chuyển về nước nhiều
nhất, là 1 trong 10 quốc gia có thu nhập lớn từ xuất khẩu lao động.
Nhóm 5 Page 15
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
khẩu lao động có nghề ra nước ngoài, tỉ lệ không hoàn toàn là 100% nhưng
đang từng bước được nâng lên, theo Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam thì
đến năm 2010 số lao động xuất khẩu có tay nghề đạt trên 75%. Có thể thấy
được công tác xuất khẩu lao động ở nước ta thời kỳ này chú trọng về chất lượng
nhiều hơn là số lượng, điều đó cũng dễ hiểu muốn khai thác hết tiềm năng của
các thị trường cao cấp và củng cố chất lượng tại các thị trường truyền thống thì
không còn cách nào khác ngoài đào tạo nghề cho người lao động
Do được đào tạo nên cơ cấu lao động cho xuất khẩu của nước ta cũng có
nhiểu thay đổi rõ rệt, nó thể hiện qua bảng số liệu sau:
Nhóm 5 Page 16
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
BẢNG 9: SỐ LIỆU VỀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ CỦA LAO ĐỘNG
XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỜI KÌ 2001 – 2010*
NGÀNH NGHỀ SỐ LAO ĐỘNG
Công nghiệp 512520
công nghiệp nặng 128920
công nghiệp nhẹ 383600
Xây dựng và vật liệu
xây dựng 45896
Dịch vụ 25869
Nông ngiệp 21583
Lâm nghiệp 13589
Các ngành khác 89027
TỔNG 708484
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã
hội)
(* số liệu bao gồm cả số liệu dự kiến cho năm 2010)
Cơ cấu lao động xuất khẩu của nước ta đã có nhiều sự thay đổi. Sự
chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành nghề, lĩnh vực là khá rõ, ở thời kỳ
này lao động nước ta tập trung chủ yếu ở các ngành công nghiệp nhẹ, vật liệu
nông nghiệp, dịch vụ, làm việc trong các nhà máy còn các công việc như đi
biển, xây dựng thì chưa đạt yêu cầu. Đây cũng là một trong những trở ngại cho
lao động Việt Nam.
Trình độ ngoại ngữ của lao động được đánh giá là rất kém. Những mâu
thuẫn trong lao động đều xuất phát từ bất đồng ngôn ngữ giữa giới chủ và lao
động Việt Nam. Nhiều lao động bị trả về nước trước thời hạn do không đạt yêu
cầu về trình độ ngoại ngữ.
Kỉ luật lao động là một điều mà đã gây ra tai tiếng cho lao động nước ta
khi làm việc ở nước ngoài. Lao động nước ta khi làm việc ở các nước sở tại đều
thiếu kỉ luật và thiếu nghiêm túc trong việc thực hiện bảo hộ lao động. Bằng
chứng là rất nhiều lao động nước ta làm việc tại Malaysia thường xuyên bị tai
nạn lao động kể từ năm 2004 trở lại đây.
Nguyên nhân chính của những vấn đề nêu ở trên là do: người lao động
được đưa đi làm việc ở nước ngoài đa phần là lao động nông thôn. Những lao
động này phần lớn là chưa qua một lớp đào tạo chính quy về tay nghề. Cuộc
sống làm nghề nông ở một nước còn kém phát triển như Việt Nam đã hình
thành nên trong họ tác phong chậm chạp, thiếu sự gắn bó trong hợp tác lao
động, thiếu hiểu biết về sản xuất công nghiệp. Nhiều người trong số họ còn
chưa học hết phổ thông. Mặt khác, những lao động này hầu hết đều có cuộc
sống rất khó khăn, khi đi làm việc ở nước ngoài luôn mang trên vai gánh nặng
thu nhập rất lớn nên họ thường bất chấp tất cả miễn là kiếm được tiền cao.
Bên cạnh đó tình hình xuất khẩu lao động ở nước ta còn tồn tại một số
vấn đề trong công tác quản lý xuất khẩu lao động. Hiện nay có rất nhiều doanh
nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tuy nhiên có rất ít doanh
nghiệp có văn phòng đại diện để giải quyết các vấn đề liên quan đến lao động
của mình điều đó chứng tỏ phần lớn các doanh nghiệp đang hoạt động theo kiểu
“đem con bỏ chợ”. Đó là chưa kể tại một số thị trường, các doanh nghiệp chỉ
biết tạo nguồn trong nước, thu phí, bàn giao lao động và… hết trách nhiệm.
Chính vì thế mới xảy ra chuyện lao động Việt Nam tại nước ngoài không có
“người quản lý” dẫn tới việc sống và làm việc vô tổ chức, bị trục xuất về nước
khá cao. Còn lao động của ta thì ngược lại - nổi đình nổi đám vì các “tật xấu”
như gây sự, đánh nhau, sống bừa bãi, đình công và hay đòi hỏi… Trước thực
trạng chất lượng lao động Việt Nam có “vấn đề” như nêu trên, nhiều doanh
nghiệp mới đưa lao động sang thị trường Trung Đông hoặc chuẩn bị bước chân
vào đều có chung tâm lý rụt rè, ngán ngẩm. Họ có chung trăn trở là “doanh
nghiệp thì cố mở thị trường còn người lao động thì lại phá”. Mới đây, Công ty
Sovilaco và một số công ty khác đã bị đối tác hủy hợp đồng đưa hàng trăm lao
động Việt Nam sang làm việc. Lý do là ở những nhà máy đó vừa xảy ra nhiều
vụ việc lao động đánh nhau và hay ăn cắp. Một nguyên nhân khác khiến cho
chất lượng lao động Việt Nam ở đây đáng báo động là có nhiều doanh nghiệp
xuất khẩu lao động làm ăn theo kiểu chụp giật. Họ tuyển lao động ồ ạt từ những
vùng sâu, vùng xa nhưng thiếu trang bị kiến thức, giáo dục định hướng cho họ
trước khi đi nước ngoài làm việc.
Một điều đáng lo ngại nữa là tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn còn diễn ra
nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết. Ở một số thị trường truyền
thống như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, tỷ lệ vi phạm hợp đồng của lao động
nước ta vẫn cao ( khoảng 10 – 15%) làm ảnh hưởng tới uy tín của lao động Việt
Nam. Hiện tượng các tổ chức, cá nhân lợi dụng để lừa đảo, thu tiền bất chính
của người lao động đi xuất khẩu lao động vẫn còn.
Nhóm 5 Page 19
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
Đề án đưa người lao động đi làm việc nước ngoài đến năm 2015 của
Chính phủ đang được thực hiện, theo đó cùng với việc nâng tỷ lệ đưa người lao
động Việt Nam ra nước ngoài, mở rộng thị trường lao động, nâng cao chất
lượng, thì siết chặt quản lý, nhất là đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động
cũng được đặt ra cấp thiết.
Ngoài ra vẫn còn một số hạn chế trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu
lao động của nước ta còn hạn chế. Hiện nay nước ta vẫn đang tập trung chủ yếu
vào việc xuất khẩu lao động ở các thị trường truyền thống và chưa có sự phát
triển những thị trường mới trong bối cảnh mà thị trường truyền thống đang ngày
được với mọi người lao động, phần lớn người lao động không biết tiếp cận với
cơ quan đơn vị nào để làm thủ tục đi làm việc ở nước ngoài. Ở một số địa
phương,công tác quản lý hoạt động xuất khẩu lao động của cơ quan chức năng
Nhóm 5 Page 20
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
trên địa bàn chưa chặt chẽ, chưa kịp thời phát hiện, ngăn chặn những vụ việc
lừa đảo người lao động. Bên cạnh đó,việc mở nhiều chi nhánh, trung tâm của
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng khiến tình hình trở nên phức tạp hơn.
Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chưa có sự phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động cấp nhà
nước với các cơ quan cấp địa phương và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực này. Chính vì thế, các cơ quan quản lý chưa nắm rõ tình hình hoạt động cụ
thể của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Từ đó, có phương hướng chỉ đạo
hay sự chấn chỉnh kịp thời để công tác xuất khẩu lao động đạt hiệu quả cao hơn.
Các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực này chưa tổ chức việc
cung cấp một cách có hệ thống thông tin thị trường lao động nước ngoài làm cơ
sở cho hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp cũng như phổ cập hiểu biết cho
người dân về xuất khẩu lao động.
Các chính sách, văn bản về xuất khẩu lao động chưa bám sát thực tế và
thường đi sau thực tế. Thủ tục xuất cảnh và các thủ tục khác có liên quan
thường rườm rà, phức tạp gây mất nhiều thời gian và tiền của của người lao
động. Công tác triển khai thực hiện, kiểm tra, thanh tra hoạt động xuất khẩu lao
động được tiến hành chưa thực sự nghiêm túc và có hiệu quả.
II. THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT
NAM
1. Những thành công và khó khăn ở thị trường truyền thống
Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì hiện nay có
khoảng 1,5 triệu lao động của nước ta đang làm việc tại các thị trường lao động
ở nước ngoài như: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, … Những người
đi xuất khẩu lao động đã phần nào cải thiện được cuộc sống của gia đình họ và
Việt Nam, tuy nhiên trong những năm gần đây số lao động đăng kí đi làm việc ở
Malaysia đã giảm đi đáng kể. Nguyên nhân chính là do thu nhập của người lao
động quá thấp so với chi phí của họ phải trả. Hiện tại lao động Việt Nam làm
việc tại Malaysia có mức lương bình quân khoảng 500000 RM/người/tháng
tương đương khoảng 2,5 triệu VNĐ. Mức lương tối thiểu này đã phù hợp với
pháp luật của nước sở tại nhưng không phù hợp với cuộc sống thực tế của người
lao động. Theo nhiều chuyên gia cảnh báo thị trường lao động Malaysia có
nguy cơ bị “xóa sổ” trong một tương lai không xa.
Thị trường lao động Nhật Bản từ trước đến nay được xem là một điểm
dừng chân lý tưởng cho lao động Việt Nam. Với mức thu nhập từ 700
USD/người/tháng đến 1500 USD/người/tháng đã thu hút nhiều lao động Việt
Nam tham gia vào thị trường này. Tuy nhiên tại thị trường này có yêu cầu khắt
khe với các lao động nhập cư: Người lao động phải biết tiếng Nhật, có tay nghề
và đảm bảo sức khỏe để làm việc với cường độ cao. Chủ yếu thị trường này tiếp
nhận các tu nghiệp sinh nhập cảnh làm việc để nâng cao tay nghề. Trong những
năm gần đây do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nên chính phủ Nhật
Bản đã giảm chỉ tiêu số lượng tu nghiệp sinh nhập cảnh vào nước này. Với nước
ta thị trường lao động Nhật Bản là một thị trường cao cấp cho việc xuất khẩu
lao động thì ngày càng trở nên eo hẹp và khó khăn hơn.
Macao (Trung Quốc) cũng là thị trường thu hút nhiều lao động VN, nhất
là lao động có nhu cầu đi làm giúp việc gia đình. Hiện, theo ước tính, có khoảng
hơn 10.000 lao động VN đang làm việc hợp pháp tại đây. Lao động VN tại đây
được đánh giá là cần cù chịu khó, song ngôn ngữ cũng như các kỹ năng khác
lại kém lao động đến từ Trung Quốc, Philippines, Indonesia. Lao động đi làm
giúp việc, được chủ sử dụng chu cấp miễn phí nơi ăn, ở và tiết kiệm được
khoảng 7 triệu đồng/tháng.
Thị trường lao động trên biển là một thị trường lao động khá mới mẻ với
lao động Việt Nam. Đặc điểm của thị trường này là đòi hỏi người lao động phải
Nhóm 5 Page 22
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
giữa hai nước để tiếp nhận và bảo hộ cho lao động Việt Nam. Tuy vậy tại thị
trường này thì lao động Việt Nam chưa đảm bảo sức khỏe cho công việc thuộc
lĩnh vực này.
Macao là một thị trường mới và khá hấp dẫn và “khá thoáng” cho xuất
khẩu lao động của Việt Nam. Nhiều lao động Việt Nam làm việc chủ yếu trong
các lĩnh vực dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, thợ xây dựng, trang trí nội thất và
giúp việc gia đình với mức lương từ 3 triệu đến 5 triệu VNĐ. Tuy nhiên tại thị
trường này lao động Việt Nam chưa biết được chủ lao động của mình là ai sau
khi đã nhập cảnh vào Macao. Chính vì vậy đã xảy ra tình trạng lao động nước ta
sau khi nhập cảnh vào Macao rồi nhưng vẫn thất nghiệp.
Tại Anh và Hy Lạp bước đầu lao động nước ta đã có việc làm ổn định và
thu nhập khá cao, tuy nhiên số lượng lao động Việt Nam làm việc tại thị trường
Nhóm 5 Page 23
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
này chưa nhiều. Đặc biệt lao động nước ta được làm việc trong các nhà máy sản
xuất công nghiệp, các công trường xây dựng lớn có liên doanh với nước ngoài
và có điều kiện ăn ở sinh hoạt khá tốt.
Australia là một thị trường lao động “mới toanh” cho các doanh nghiệp
xuất khẩu lao động ở Việt Nam. Với mức lương khoảng 1500 – 2000
USD/người/tháng (VN Media ngày 12/4/2005). Thị trường này cũng thu hút
nhiều lao động Việt Nam tham gia, hiện nay có khoảng hơn 2000 lao động Việt
Nam làm việc trong các lĩnh vực như xây dựng, thu hoạch nông sản trong các
trang trại… có điều kiện làm việc và ăn ở khá tốt.
Bên cạnh đó còn nhiều thị trường tiềm năng như: thị trường lao động vận
tải biển, Ixaren, Băng-la-đét…có mức thu nhập cao và điều kiện làm việc tốt
đang được các doanh nghiệp xuất khẩu lao động nước ta khai thác.
Nhóm 5 Page 24
Thực trạng thị trường lao động- xuất khẩu lao động ở VN
CHƯƠNG III: TRIỂN VỌNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
TRIỂN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
làm việc, đã thành lập các Ban Quản lý lao động trong cơ quan đại diện để thực
hiện nhiệm vụ này. Ngoài ra, luật pháp Việt Nam cũng quy định các doanh
nghiệp làm dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải
có trách nhiệm cử đại diện ở các nước nhận lao động để bảo vệ quyền lợi cho
người lao động. Hỗ trợ người lao động có đủ năng lực và kiến thức cần thiết để
có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình khi làm việc ở nước ngoài. Mọi người đi
Nhóm 5 Page 25