LUẬN VĂN: Thực trạng và giải pháp phát triển Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Pdf 12



LUẬN VĂN:
Thực trạng và giải pháp phát
triển Doanh nghiệp nhà nước ở
Việt Nam hiện nay

Lời nói đầu

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) Đảng ta đã đề ra chủ
trương đổi mới nền kinh tế một cách toàn diện, chuyển nền kinh tế kế hoạch tập
trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lý luận kinh
tế về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lúc này đã có những thay đổi căn bản, sự

doanh nghiệp nhà nước

I / Tính tất yếu khách quan
1. Định nghĩa về doanh nghiệp nhà nước ( DNNN )
Theo luật doanh nghiệp của Việt Nam năm 1995 thì DNNN là tổ chức kinh tế
do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc
công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. DNNN
có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về
toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi doanh nghiệp quản lý. DNNN là bộ
phận chủ yếu của khu vực kinh tế nhà nước – một lực lượng vật chất cơ bản, đảm
bảo cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nhà nước
2. Các bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước
- Xét theo lĩnh vực hoạt động: Hoạt động trực tiếp trong sản xuất kinh doanh
hàng hoá dịch vụ và hoạt động kinh tế nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã
hội
- Xét về hình thức tổ chức: Khu vực KTNN bao gồm nhiều bộ phận hoạt động
trong các lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế quốc dân. Mỗi bộ phận có
chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều nhằm thực hiện vai trò chủ đạo của
khu vực KTNN ở một mức độ nhất định. Cụ thể như sau:
Ngân sách nhà nước:Thực hiện chức năng thu chi ngân sách và có nhiệm vụ
điều chỉnh quản lý, kiểm soạt các hoạt động của khu vực KTNN và các thành
phần kinh tế khác theo mục tiêu kinh tế xã hội đã định. Có tác dụng điều chỉnh,
quản lý, kiểm soát các hoạt động knh doanh tiền tệ, đặc biệt là xây dựng và tổ
chức thực hiện chính sách tiền tệ để phát triển kinh tế xã hội
Kho bạc nhà nước: Với chức năng quản lý quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
đồng thời kiểm soát quá trình thu chi ngân sách
Các quỹ dự trữ quốc gia: là một bộ phận của khu vực KTNN, nhằm bảo đảm

cấm vận kinh tế của đế quốc Mỹ, sự duy trì quá lâu của cơ chế tập trung quan liêu,
bao cấp trong điều xây dựng hoà bình và sau đó là sự tan rã của hệ thống XHCN.
Đại hội VI đã đề ra chủ trương đổi mới và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay
kiên trì với chủ trương này nền kinh tế của nước ta đã phát triển khá cao trong
nhiều năm và thoát khỏi khủng hoảng đảm bảo được những cân đối lớn, từng bước
cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị xã hội tạo thế và lực mới
để tiếp tục đưa sự nghiệp mới đi lên
Nếu nhìn hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật và những đóng góp của DNNN hiện
nay rõ ràng là DNNN đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế nước
ta, thể hiện trên những nét chủ yếu sau:
- DNNN đang nắm giữ một số ngành, lĩnh vực then chốt, hệ thống cơ sở vật
chất kỹ thuật quan trọng nhất cho công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, nắm
toàn bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có tính huyết mạch, hầu hết các
doanh nghiệp lớn là các doanh nghiệp trong các ngành xây dựng ( về giao thông,
thuỷ lợi, công nghiệp và dân dụng ), cơ khí chế tạo máy, luyện kim, xi măng, điện
tử, hoá chất, điện dầu khí, thông tin liên lạc, vận tải đường sắt, đường biển, đường
không, ô tô , sản xuất hàng công nghệ tiêu dùng, chế biến nông thuỷ, hải sản,
nắm giữ một tỉ lệ quan trọng trong những ngành kinh doanh dịch vụ, thương mại
nhập khẩu chiếm thị phần áp đảo trong huy đọng vốn và cho vay
Phần của DNNN trong GDP chiếm tỷ trọng năm 1992 là 40.12%, năm 1996 là
39.9%, năm 1998 là 41.2%, năm 1999 là 40.2%, năm 2000 là 39.5%. Cụthể trọng
phần DNNN trong một số ngành như: 80% công nghệ khai thác, trên 60% công
nghệ chế biến, trên 90%công nghệ điện – gas– dầu khí – cung cấp nước, trên 82%
vận chuyển hàng hoá, 50% vận hành khách, chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong sản
xuất phân bón hoá học 99.8%, thuốc trừ sâu 93.6%, axít sunfuric và xút 100%, lốp
ô tô 100%, lốp xe đạp 80%, pin 100%, chế tạo động cơ điezel loại nhỏ 100%, 85%
năng lực kéo sợi, 50% năng lực dệt thoi, 30% năng lực dệt kim và khoảng dưới
công trình thuỷ lợi cung cấp điện, xây dựng các đường giao thông huyết mạch,
cung cấp giống cây trồng, con, chuyển giao kỹ thuật và bước đầu phát triển công
nghệ chế biến. Một số nông, lâm trường đã phát huy được vai trò trung tâm kinh
tế, văn hoá, chuyển giao công nghệ trên địa bàn.
Điển hình như trường Sông Hậu trả lương cho 130 giáo viên và xây dựng cơ sở
trường lớp cho 3000 học sinh từ mẫu giáo đến trung học, công ty chè Mộc Châu
hàng năm đầu tư 100 triệu để sửa chữa và xây mới trường học, nhà trẻ, mẫu giáo,
cải tạo 705 km đường giao thông liên bản, tổng công ty cà phê từ năm 1996 đén
nay dã đàu tư hàng 100 tỷ để xây dựng 100 km đường giao thông ( có 25 km
đường nhựa ), 150 km đường điện trung hạ thế, 50000 m
2
trường học, 20000 m
2
nhà trẻ mẫu giáo, làm mới và nâng cấp 58 hồ, đập
Hỗ trợ cho sự phát triển các vùng miền núi và các vùng xa, vùng sâu. ở đó hiệu
quả đầu tư kinh doanh thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều rủi ro kinh doanh
nhưng lại là vùng có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của quốc gia và thực hiện
các chính sách dân tộc của đảng
Khu vực DNNN nhiều năm qua cũng là nơi tập trung và đào luyện một bộ phận
quan trọng trong đội ngũ giai cấp công nhân và cung cấp nhiều cán bộ lãnh đạo ưu
tú, trung kiên cho đảng nhà nước và quân đội
DNNN cũng thức sự đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương: uống nước nhớ
nguồn, xoá đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả cảu những vùng bị thiên tai, cứu
trợ xã hội, tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện, nhường cơm xẻ áo
3.2 Sự cần phải phát triển DNNN
Tại hội nghị thứ ba ban chấp hành trung ương đảng khoá IX đồng chí bí thư
Nông Đức Mạnh đã có bài phát biểu bế nạc hội nghị, trong đó đồng chí tổng bí thư

cụ thể của từng thành phần kinh tế theo tinh thần nghị quyết của đại hội đảng.
Trung ương bàn việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
DNNN là để góp phần bảo đảm cho KTNN giữ vững vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế quốc dân, một vấn đề rất lớn và cơ bản trong chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần, chứ không hề coi nhẹ việc phát triển các thành phần kinh tế
khác. Chúng ta đã có nhiều chủ trương tạo thuận lợi cho các loại hình doanh
nghiệp ra đời và phát triển trong khuôn khổ luật pháp giúp các doanh nghiệp có
thêm điều kiện tiếp cận thị trường trong nước và thế giới chuẩn bị cho việc thực
hiện các cam kết trong quá trình chủ động hội nhập có hiệu quả kinh tế quốc tế.
Sắp tới chúng ta sẽ tiếp tục xây dựng các chính sách nhằm phát huy sức mạnh của
các thành phần kt theo đường lối của đảng
Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN là việc mà ban
chấp hành trung ương nhiều khoá đã quan tâm, được tiến hành ngay từ thời kỳ đổi
mới và nhất là trong 10 năm qua. Đánh giá những việc làm được cũng như chưa
làm được còn có những ý kiến khác nhau nhưng chủ yếu là khác nhau về múc độ
vì trong thực tế còn có những yếu tố chưa được xem xét đầy đủ, tuy nhiên khi
đánh giá cần dựa trên quan điểm lịch sử, xét tới bối cảnh thế giới, trong nước hơn
10 năm qua và hiệu quả kinh tế chính trị, xã hội, để nhìn nhận đúng mức vai trò và
sự đóng góp của DNNN trong thời kỳ đổi mới. Trong thời gian qua chúng ta đã
hoàn thành khung pháp lý tương đối cơ bản để chuyển DNNN sang kinh doanh
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, xác lập dần quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh xoá dần bao cấp, bảo đảm các chính
sách xã hội trong quá trình sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
DNNN. Nhiều DNNN đã đứng vững trước những thử thách to lớn, từng bước
được sắp xếp, đổi mới, phát triển ngày càng thích ứng hơn trong quá trình chuyển
sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, số doanh nghiệp làm ăn có
lãi, có tích luỹ tăng lên, nhìn chung đã có những chuyển biến tích cực cả về vai trò

DNNN là lực lượng nòng cốt của KTNN, giữ vị trí thên chốt trong nền kinh tế, là
công cụ vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế. KTNN, DNNN có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa, phát triển và ổn định chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Vì vậy
DNNN phải không ngừng được sắp xếp, đổimới, phát triển, có trình độ công nghệ
và quản lý tiên tiến, không ngừng nâng cao hiệu quả. Trên cơ sở các quan điểm đó
mà thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu DNNN, chuyển các DNNN sang thực sự kinh
doanh theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, cạnh tranh và hợp tác với các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế
khác
Đã là doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả kinh doanh. Việc sắp xếp, đổi mới,
phát triển các DNNN đều hướng tới nâng cao hiệu quả, vì có hiệu quả mới có thể
nêu gương, hướng dẫn và góp phần tăng tiềm lực KTNN để giữ vững vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần, và một nền kinh tế định hướng xã hội chủ
nghĩa phải được xem xét đến hiệu quả kinh tế xã hội tổng thể hướng tới mục tiêu
của CNXH
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN là vấn đề rất hệ trọng
trong đường lối phát triển kinh tế, đồng thời rất nhạy cảm về chính trị, liên quan
tới sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Quá trình nhà nước thực
hiện có nhiều vấn đề mới đặt ra. Do đó vừa phải tiến hành đồng bộ, khẩn trương
nhưng vẫn phải vững chắc, có chương trình, kế hoạch cụ thể, có trọng tâm, trọng
điểm, bước đi phù hợp, vừa làm vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm, boả đảm ổn định và
phát triển. Việc gì đã rõ, đã có nghị quyết thì phải triển khai thực hiện kiên quyết
khẩn trương. Vấn đề gì chưa đủ rõ thì phải tiếp tục nghiên cứu; tổ chức làm thí
điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để có bước đi thích hợp, vừa tích cực vừa
vững chắc, phù hợp với luật pháp. Đó là tinh thân của các giải pháp trong nghị
quyết. Vì là việc rất hệ trọng cho nên các cấp uỷ đảng phải tăng cường kiểm tra

pháp chống tham nhũng đang nổi lên với tinh thân thẳng thắn, công minh, để
người có khuyết điểm phải được phê bình, chịu kỷ luật, người có tội phải bị sử tội,
bất kể họ là ai; giải quyết những bức xúc về các tệ nạn xã hội, các sản phẩm văn
hoá đồi truỵ đang lan tràn ngoài xã hội Đó là những việc trước mắt cần thực
hiện tốt, kinh tế – xã hội tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, nạn
tham nhũng và các tệ nạn xã hội được đẩy lùi một bước sẽ tạo đà phấn khởi
trong xã hội, thể hiện trách nhiệm của ban chấp hành trung ương đối với toàn đảng
và toàn xã hội .
II. Vai trò then chốt của DNNN
Lực lượng DNNN hàng năm đóng góp khoảng 40% trong cơ cấu GDP của
nước ta, chiếm giữ khoảng 70% vốn và tài sản cố định của nền kinh tế. DNNN
đang là lực lượng chủ yếu trong sản xuất công nghiệp, trong hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, tín dụng. Nhìn chung lực
lượng DNNN đang là lực lượng then chốt trong các ngành kinh tế quan trọng của
đất nước, cá biệt có một số ngành có vị trí độc quyền kinh doanh. Từ năm 1995
hàng năm DNNN đóng góp từ 26 – 28% nguồn thu thuế trong nước, nếu tính cả
các khoản thu thuế và phí được thu thôngqua DNNN thì đóng góp khỏng 60% các
nguồn thu thuế và phí được thu thông qua DNNN. DNNN đang sử dụng khoảng
15% lực lượng lao động trong các ngành phi nông nghiệp. Mức tăng trưởng hàng
năm của DNNN xấp xỉ mức tăng trưởng chung của nền kinh tế cũng xấp xỉ ngoài
quốc doanh trong nước. Tóm lại: nếu chỉ xét về quy mô, tài sản sự đóng góp vào
GDP và tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, nguồn thu ngân sách nhà nước
thì DNNN vẫn có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế nước ta.


nước về quản lý kinh tế nói chung và DNNN nói riêng. Cơ chế quản lý cũ đã tỏ ra
kìm hãm sức sản xuất, triệt tiêu động cơ phát triển, hậu quả là nền kinh tế trì trệ,
tụt dốc, khủng hoảng, đời sống nhân dân xa sút. Các DNNN ngày càng xa sút.
Hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ sáu khoá IV tháng 9 – 1979 đã ra nghị
quyết về tình hình và nhiệm vụ cấp bách đánh giá tình hình thực tiễn và những
yêu cầu bức thiết của xã hội, trong đó nhấn mạnh phải “ cải tiến chính sách phân
phối, lưu thông ( giá, lương, tài chính, ngân hàng ). Tiếp đó Chính phủ đã ban
hành các quyết định có liên quan để điều hành nền kinh tế nói chung và các
DNNN nói riêng như quyết định số 25/CP tháng 1-1981 về kế hoạch ba phần,
quyết định số 26 /CP tháng 2-1981 về phân phối lưu thông Nghị quyết trung
ương 6 khoá IV và quyết định 25/CP là bước tiến đầu tiên trong việc cơ chế quản
lý các DNNN từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Sau đó là
các quyết định quan trọng như quyết định số 146/HĐBT tháng 2-1982; nghị quyết
306 ( dự thảo ) của Bộ Chính trị và quyết định 16/HĐBT tháng 6-1986 đều đưa ra
những quan điểm và biện pháp đổi mới quản lý DNNN trong điều kiện cải tiến ,
cơ chế quản lý nói chung.
Các biện pháp đổi mới giai đoạn này chủ yếu tập trung vào tháo gỡ những
vướng mắc, rào cản vô lý của cơ chế cũ, do đó có tác dụng như cởi trói, giải
phóng năng lực sản xuất của các DNNN và cùng với các biện pháp khoán trong
nông nghiệp, cải cách phân phối lưu thông đã có tác dụng thúc đẩy sản xuất nói
chung, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, tụt dốc. Đối với các DNNN, việc
cho phép các đơn vị tự chủ bố trí các nguồn lực sản xuất theo kế hoạch ba phần
đã có ý nghĩa rất quan trọng trong phát huy sáng tạo của cơ sở, từng bước đưa
các yếu tố thị trường vào cơ chế quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, các biện pháp
giai đoạn này vẫn mang tính nửa vời, chắp vá ( biểu hiện ở kế hoạch ba phần, cơ
chế song trùng ) dẫn đến hệ quả khó hạch toán, khó kiểm soát, khó đánh giá, lợi
dụng sự rối rắm của cơ chế quản lý để trục lợi, trong khi năng lực sản xuất và sức

DNNN từ chỗ phải hoạt động theo kế hoạch với 9 chỉ tiêu pháp lệnh dần dần bãi
bỏ chỉ còn 1 chỉ tiêu nộp ngân sách, xoá bỏ bao cấp từ ngân sách nhà nước, bãi bỏ
chế độ 2 giá, hạch toán kinh doanh theo giá thị trường. Về quản lý, quyết định
217/HĐBT trao quyền tự chủ rất rộng rãi cho doanh nghiệp mà hầu như không có
biện pháp kiểm soát tương ứng. Các doanh nghiệp lại trao quyền tự chủ cho các bộ
phận, chi nhánh của mình trong tìm kiếm, ký hợp đồng và tổ chức sản xuất kinh
doanh với các khách hàng dẫn đến tình trạng “trăm hoa đua nở” rất sôi động
nhưng cũng rất phức tạp, khó quản lý về mặt nhà nước .
Điều đáng chú ý trong giai đoạn này là thực hiện chủ trương phân cấp, nhà
nước, trung ương giao quyền cho chính quyền các địa phương ra quyết định thành
lập các DNNN. Vì vậy chỉ trong vòng 4 năm số lượng DNNN tăng lên gần gấp 2
lần, đưa số DNNN của Việt nam lên 12084, trong đó đến 60% là các doanh nghiệp
do địa phương quản lý. Rất nhiều DNNN do chính quyền địa phương quyết định
thành lập hầu như không được cấp vốn, chủ yếu hoạt bằng vốn vay ngân hàng.
Nhìn chung, các DNNN giai đoạn này đã từng bước đổi mới. Một bộ phận
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, ngược lại một bộ phận khác không thích
nghi được với thị trường, thua lỗ triền miên, trở thành gánh nặng cho ngân sách
nhà nước. Về tổng thể khu vực DNNN vẫn được giữ vai trò chủ đạo của mình,
chiếm trên dưới 35% GDP và 60% nộp ngân sách nhà nước .
3. Giai đoạn 1990 đến nay
Tiếp tục đường lối đổi mới kinh tế, đại hội toàn quốc lần thứ VII năm 1991
đã chủ trương: “khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh,
bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả, nắm vững những lĩnh vực và
ngành then chốt để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Tập trung lực lượng
củng cố và phát triển những cơ sở trọng điểm, những cơ sở làm ăn có hiệu quả và
có ý nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân. Cho thuê, chuyển hình thức sở hữu hoặc
giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài và không có khả năng vươn lên. sắp xếp lại các

đầu tư trang bị lại, cũng như các biện pháp về chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất
kinh doanh với sự hỗ trợ của cấp trên có thể bị tuyên bố giải thể.
Theo nghị định 388/HĐBT, các DNNN phải được thành lập lại, đăng ký lại để
loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài. Như vậy, nghị định 388 như
một giải pháp hợp pháp hoá, chính thức hoá để công nhận các DNNN tồn tại được
trong cơ chế thị trường; đồng thời loại bỏ những doanh nghiệp đã bị thị trường
loại bỏ trên thực tế nhưng vẫn tồn tại trên danh nghĩa. Các ngành, các địa phương
đã khẩn trương triển khai và coi đây là một công tác quan trọng nhằm thúc đẩy tổ
chức và sắp xếp lại một bước để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Điểm
mới trong chủ trương này là lần đầu quy định các điều kiện tối thiểu về vốn pháp
định, ngành nghề kinh doanh, luận chứng về thị trường tiêu thụ sản phẩm trong
việc thành lập DNNN. Thực hiện nghị định 388/HĐBT các bộ, địa phương và
từng doanh nghiệp tiến hành rà soát lại tổ chức của từng đơn vị để tổ chức theo
đúng chức năng, nhiệm vụ được quy định vừa đảm bảo quyền tự chư sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp vừa đảm bảo sự kiểm tra giám sát của nhà nước
Luật doanh nghiệp nhà nước ban hành tháng 4-1995 và các văn bản hướng
dẫn thi hành đã tạo ra cơ sở pháp lý tổng quát trong quan hệ giữa
DNNN và nhà nước.
Về các nội dung cụ thể của cơ chế, đáng chú ý là hai mảng: tài chính và lao
động. Nghị định 59/CP ( 1996), sau đó là nghị định 27/CP (1999) bổ sung, sửa đổi
nghị định 59 nhằm xác lập cơ chế tài chính đối với DNNN. Theo các nghị định
này, một loạt biện pháp được áp dụng: chuyển chế độ cấp vốn sang chế độ giao
nhận vốn, chuyển từ định mức vốn sang chế độ xác định vốn điều lệ cho doanh
nghiệp, tăng quyền tự chủ tài chính đồng thời gắn với trách nhiệm bảo toàn vốn,
áp dụng một loạt hình thức tài chính mới như bán trái phiếu, lập các quỹ dự trữ tài
chính, quỹ dự phòng mất việc làm Về cơ chế sử dụng lao động, theo tinh thần
bộ luật lao động (12-1994) đã có một loạt quyết định cho phép DNNN tăng quyền

Mặc dù vậy tỷ trọng DNNN trong tổng sản phẩm quốc nội vẫn tăng từ 36.5% năm
1991 lên 40.7% năm 1998, và tỷ lệ nộp ngân sách nhà nước , lợi nhuận trên vốn
nhà nước đều tăng lên đáng kể.
Như vậy khu vực DNNN nói chung sau khi xác lập cơ chế quản lý mới và tổ
chức sắp xếp lại vẫn phát triển khá. Trong 5 năm 1991-1995 tốc độ tăng trưởng
bình quân hàng năm của kinh tế quốc doanh là 11.7%, gần gấp rưỡi tốc độ tăng
trưởng bình quân của toàn bộ nền kinh tế và gấp đôi kinh tế ngoài quốc doanh
Việc sắp xếp các DNNN đã góp phần thay đổi một bước cơ cấu vốn và lao động
của doanh nghiệp, có tác động nhất định đến quá trình tích luỹ và tập trung. Và
bằng những chính sách hỗ trợ phù hợp chúng ta đã giải quyết được cơ bản vấn đề
trợ cấp và bảo đảm chính sách cho 600000 công nhân giảm biên chế trong hai đợt
sắp xếp; đồng thời lại tuyển dụng mới một số lượng gần tương đương.
Để đẩy mạnh sắp xếp lại DNNN, theo tinh thần nghị quyết hội nghị ban chấp
hành trung ương lần thứ tư khoá VIII, thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị số
20/1998/CT-TTg ngày 21 tháng 4 năm 1998 thì vấn đề trọng tâm là tổ chức phân
loại DNNN dựa trên sự nắm vững và phân tích tình hình hoạt động của các doanh
nghiệp trong ba năm gần đây nhất để tổ chức lại sản xuất kinh doanh cho phù hợp
với từng loại, DNNN được phân thành ba nhóm: nhóm một gồm những doanh
nghiệp quan trọng, cần duy trì hoạt động theo luật DNNN để phát huy vai trò nòng
cốt và dẫn dắt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những doanh nghiệp
thuộc loại này duy trì 100% vốn nhà nước. Nhóm hai gồm những doanh nghiệp
cần chuyển đổi cơ cấu sở hữu, là những doanh nghiệp không cần duy trì 100% vốn
nhà nước. Nhóm ba gồm những doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài cần được sử lý
thích hợp
Theo các chủ trương, quyết định, hướng dẫn của nhà nước phương hướng xử lý
các doanh nghiệp sau khi phân loại quy mô lớn và trunh bình như sau:
- Đối vớidoanh nghiệp hoạt động công ích: những doanh nghiệp nào có đủ điều
kiện hạch toántheo quy mô doanh nghiệp thì tiếp tục duy trì 100% sở hữu nhà Tuy nhiên trên thực tế việc sắp xếp lại DNNN gặp rất ngiều khó khăn và
không thực hiện đúng như đề án của chính các bộ, địa phương và tổng công ty lập
nên. Cho đến cuối năm 2000 mới chỉ sắp xếp được trên 500 doanh nghiệp, chủ
yếu là cổ phần hoá, đạt chưa tới 50% kế hoạch, còn các hình thức sắp xếp khác
như giao, bán, khoán, đấu thầu, giải thể, phá sản hầu như chưa được thực hiện.
II/ Kết quả đạt được về quá trình đổi mới DNNN trong thời gian qua
1. Những thành tựu chủ yếu
Về tổng thể, mặc dù số lượng DNNN giảm đáng kể, số lượng công nhân
điều chỉnh mạnh khoảng 600000 người ra khỏi DNNN, đồng thời cũng bổ xung
một lực lượng mới. Quá trình đổi mới vừa thay đổi cơ chế quản lý, vừa tổ chức
sắp xếp lại nhiều đợt trong điều kiện chuyển đổi kinh tế, nhưng khu vực DNNN
vẫn có tốc độ tăng trưởng cao và giữ vị trí đáng kể trong đóng góp ngân sách và
xuất khẩu. Thành tựu tăng trưởng của khu vực DNNN càng có ý nghĩa khi đặt
trong tổng thể tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế thời kỳ 10 năm qua ở
mức khá cao ( GDP năm 2000 đã gấp 2 lần GDP năm 1990). Như vậy tăng trưởng
của khu vực DNNN cao hơn khu vực dân doanh , cao hơn tốc độ chung của nền
kinh tế quốc dân
Đã thay đổi cơ bản cơ chế tài chính đối với DNNN có tác dụng xoá bỏ bao
cấp cho khu vực này từ ngân sách nhà nước. Tính chung cho cả yhời kỳ 1988-
1998 tỷ lệ tài trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước dưới tất cả các hình thức: đầu tư,
cấp vốn lưu động, bù lỗ, bù giá đã giảm từ mức 8.5% GDP xuống còn 0.5%GDP.
như vậy về cơ bản các DNNN đã được “ thương mại hoá” - một quá trình không
dễ thực hiện ở các nước chuyển đổi. Do vậy chi ngân sách nhà nước có điều kiện
tập tring cho các mục tiêu khác trong khi vẫn duy trì được hiệu quả, vai trò của các
DNNN như những tổ chức kinh tế hoạch toán độc lập
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN về tổng thể đã được nâng lên so
với trước xét trên át cả các mặt. Các chỉ số về hiệu suất vốn , lãi tuyệt đối, số nộp
ngân sách, tỷ lệ nộp ngân sách nhà nước trên vốn mặc dù thấp hơn nhiều so với

2.1 Về hiệu quả kinh doanh
Mặc dù đã được đầu tư và ưu đãi nhiều từ phiá nhà nước, sau nhiều lần sắp xếp
tổ chức lại và đổi mới cơ chế, nhưng các DNNN vẫn chưa chứng tỏ được tính hiệu
quả của mình so với khu vực dân doanh, chưa đáp ứng được mong muốn của đảng
và nhà nước, chưa tương xứng với tiềm lực và ưu đãi do nhà nước dành cho
Một DNNN kinh doanh có hiệu quả theo các tiêu chí hiện hành do bộ tài
chính quy định, phải đạt các tiêu chuẩn: bảo toàn và phát triển được vốn, phải
trích đủ khấu hao tài sản cố định; lương bình quân phải bằng hoặc vượt mức bình
quân của doanh nghiệp cùng ngành nghề trên địa bàn; trả đầy đủ các khoản nợ đến
hạn, nộp đủ các khoản thuế theo luật định; có lãi, nộp đủ tiền sử dụng vốn và lập
đủ các quỹ doanh nghiệp như: dự phòng tài chính, trợ cấp mất việc làm, đầu tư
phát triển, khen thưởng, phúc lợi. Nhưng theo số liệu năm 1997 của bộ tài chính,
trong tổng số 5429 DNNN thì số kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm 40.44%. Số
liệu này thống nhất với số liệu của ban đổi mới doanh nghiệp trung ương tháng 2-
2000: số doanh nghiệp có lãi thực sự chiếm 40%, số doanh nghiệp bị thua lỗ
chiếm 20% ( nếu tính đủ khấu hao giá trị tài sản cố định thì doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ còn lớn hơn ), số doanh nghiệp còn lại nằm trong tình trạng không ổn định,
khi lỗ, khi lãi và lãi cũng không lớn. Về tốc độ tăng trưởng bình quân của DNNN:
sau một thời gian dài đạt liên tục tăng 13%/năm, đến năm 1998 và đầu năm 1999
tốc độ tăng còn 8-9%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm; năm 1995, một đồng vốn tạo ra
được 3.46 đồng doanh thu và 0.19 đồng lợi nhuận; đến năm 1998 các con số tương
ứng chỉ còn 2.9 và 0.14; năm1998 trong ngành công nghiệp, một đồng vốn chỉ làm
ra được 0.024 đồng lợi nhuận; số doanh nghiệp bị lỗ trong ngành thương mại, dịch
vụ, du lịch, khách sạn chiếm tới 41%. Công nợ trong DNNN hiện quá lớn: nợ phải
thu chiếm tới trên 60% và nợ phải trả bằng 124% vốn nhà nước trong doanh
nghiệp, trong đó tỷ lệ quá hạn hoặc khó đòi chiếm tỷlệ lớn. Số này đặc biệt nhiều
trong các DNNN do địa phương quản lý. Do tình hình tài chính như vậy, nhà

2.3 Về cơ cấu DNNN
Khu vực DNNN có cơ cấu còn bất hợp lý. Cơ cấu ngành, vùng, quy mô còn bất
hợp lý đều chưa được chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại. Trước hết tỷ trọng
DNNN ( xét về số lượng ở khu nông nghiệp ( 25%) và thương mại, dịch vụ (40%)
là quá lớn trong khi một cơ cấu hợp lý đòi hỏi DNNN, đặc biệt là công nghiệp chế
biến, chế tạo. Cơ cấu cấp quản lý cũng bất hợp lý ở chỗ tỷ trọng doanh nghiệp
thuộc địa phương quản lý qua cao ( trên 60% về số lượng ). Về quy mô, tính đến

Trích đoạn Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách Đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN Thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status