LUẬN VĂN: Vai trò và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở việt nam hiện nay - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Vai trò và giải pháp phát
triển kinh tế tư nhân ở việt
nam hiện nay LỜI MỞ ĐẦU
I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRề CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN
1. BẢN CHẤT CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN:
Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ lên chủ mghĩa xó hội, việc đổi mới đường
lối phát triển kinh tế xó hội trong thời gian qua đó đem lại cho chúng ta những bước
tiến vượt bậc. Chúng ta chấp nhận mở cửa hội nhập với thế giới, xây dựng đường lối
phát triển kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, phát huy nội lực đồng thời
tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Việc
xây dựng đường lối phát triển kinh tế như vậy là sự phù hợp với thực tế khách quan
hiện nay ( phù hợp với điều kiện thực tế của kinh tế Việt Nam hiện nay và quỏ trỡnh
toàn cầu húa đang diễn ra như một điều tất yếu trong quá trỡnh phỏt triển của lịch
sử) vỡ vậy đó mang lại cho chỳng ta những thành tựu đáng kể. Trong kết quả chúng
ta có hôm nay phải kể đến sự đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển kinh
tế xó hội Việt Nam của khu vực kinh tế tư nhân nhất là sau khi có sự đổi mới đường
lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Kinh tế tư nhân là một loại hỡnh Kinh tế dựa trờn sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, gắn liền với lao động cá nhân người chủ sở hữu và lao động làm thuê.
Kinh tế tư nhân ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xó hội
nhất định, do trỡnh độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định. Như vậy bản
chất của lọai hỡnh kinh tế này đó là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Người sở hữu tư liệu sản xuất là người chủ và họ luôn có xu hướng tối đa hóa lợi ích
mà mỡnh thu được vỡ vậy họ phải búc lột sức lao động của công nhân làm thuê.
Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản ánh
mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó. Trong phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa thỡ chế tạo ra giỏ trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của nó.
Thật vậy giá trị thặng dư, phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động của công

xuất mới, là một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá
thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân…
2.TÍNH TẤT YẾU TỒN TẠI KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM:
* Quan điểm về kinh tế tư nhân của Đảng trước khi đổi mới (1986)
Kinh tế tư nhân là đối tượng chính phải cải tạo, xóa bỏ. Vỡ kinh tế tư nhân luôn
đồng nghĩa với làm ăn cá thể bóc lột, tự phát lên con đường chủ nghĩa tư bản, vỡ thế
kinh tế tư nhân không thể là một chủ thể kinh tế để xây dựng chr nghĩa xó hội.
Sau cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta thỡ Đảng và Nhà nước đứng trước hai
hỡnh thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là sở hữu tư nhân của những người sản

xuất nhỏ(cá thể, thợ thủ công, tiểu thương…) và sở hữu tư nhân của giai cấp tư sản
dân tộc Việt Nam. Đối với sở hữu tư nhân của những ngừơi sản xuất nhỏ thỡ Nhà
nước cải tạo bằng con đường vận động thuyết phục để đưa họ vào làm ăn tập thể.
Cũn đối với sở hữu tư nhân của giai cấp tư sản dân tộc thỡ Nhà nước phân làm hai
đối tựơng, một đối tượng đó là các nhà tư sản dân tộc nhưng có công với cách mạng
và kháng chiến thỡ Nhà nước cải tạo hũa bỡnh bằng cỏch chuộc lại hay chưng mua
rồi sau đó chuyển thành sở hữu Nhà nước (sau đó vận động họ kết hợp với nhà nước
để kinh doanh hỡnh thành các xí nghiệp công tư hợp doanh) Đối với nhà tư sản làm
tay sai cho đế quốc phong kiến thỡ Nhà nước cải tạo bằng cách quốc hữu hóa hay
tịch thu toàn bộ tài sản biến thành sở hữu Nhà nước.
Tuy nhiên trong giai đoạn này ngay cả ở trong nghiệp là nơi diễn ra quỏ trỡnh
xúa bỏ tư nhân mạnh nhất nhưng sở hữu tư nhân vẩn cũn tồn tại,trong thời gian này
những ngừơi không vào tập thể hợp tác xó, làm ăn cá thể, tiểu thương… thường
không được coi trọng, bị phân biệt trong nhiều việc.
* Từ sau đại hội VI kinh tế tư nhân được thừa nhận tồn tại khách quan lâu dài có
lợi cho quốc kế dân sinh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội.

đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất chẳng những khụng cần phải xúa bỏ mà cũn cần được tạo mọi điều kiện
để phát triển.
Trỡnh độ lực lượng sản xuất của chỳng ta khụng những cũn rất thấp kộm mà cũn
phỏt triển khụng đồng đều có nhiều trỡnh độ khác nhau do đó trong nền kinh tế tồn
tại nhiều loại hỡnh sở hữu khỏc nhau về tư liệu sản xuất dẫn đến tồn tại nhiều thành
phần kinh tế. Trong lịch sử mỗi phương thức sản xuất có một loại hỡnh sở hữu tư
liệu sản xuất đặc trưng nhưng điều đó không có nghĩa là mỗi phương thức sản xuất
chỉ cú một hỡnh thức sở hữu tư liệu sản xuất mà cú thể cú nhiều loại hỡnh sở hữu tư
liệu sản xuất khác nhau cùng tồn tại. Sự xuất hiện của cỏc hỡnh thức sở hữu tư liệu
sản xuất do tớnh chất và trỡnh độ phát triển của các lực lượng sản xuất quy định, lực
lượng sản xuất không ngừng vận động biến đổi làm cho quan hệ sản xuất cũng
không ngừng vận động biến đổi, tương ứng với mỗi trỡnh độ phát triển của lực
lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sản xuất. Do vậy sự chủ quan núng vội duy ý
chớ trong việc xúa bỏ sở hữu tư nhân, xác lập sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất
đều trái với yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất trỡnh
độ phát triển của lực lượng sản xuất và phải trả giá. Điều này đó được thực tế ở Việt
Nam trong những năm sau khi giành độc lập đến 1986 chứng minh. việc xóa bỏ vội
vàng sở hũu tư nhân, phát triển kinh tế kế hoạch hóa tập trung đó làm cho kinh tế
Việt Nam trỡ trệ, lõm vào khủng hoảng, lạm phỏt tăng cao…Vỡ vậy từ một nền sản

xuất nhỏ với nhiều loại hỡnh sở hữu khụng thể tiến thẳng lờn chủ nghĩa xó hội thụng
qua việc xúa bỏ chế độ tư hưu ngay.
Thứ hai: trong quỏ trỡnh phỏt triển do điều kiện lịch sử đó để lại nhiều thành
phần kinh tế như thành phần kinh tế tư nhân, thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ,
thành phần kinh tế tự nhiên của đồng bào dân tộc ở dẻo cao phía bắc và tây
nguyên… mà chúng ta không thể cải biến nhanh được. Hơn nữa sau nhiều năm cải

vấn đề việc làm của chúng ta. Nước ta cũn cú lực lượng lao động dồi dào (hơn 40
triệu lao động) cần cù thông minh, song số người chưa có việc làm hay thiếu việc
làm cũn nhiều, vừa lóng phớ sức lao động, vừa gây ra những khó khăn lớn về kinh tế
xó hội ( thất nghiệp, tệ nạn…) Trong khi khả năng thu hút lao động của khu vực kinh
tế nhà nước khụng nhiều thỡ việc khai thỏc, tận dụng tiềm năng của các thành phần
kinh tế khác là một trong những giải pháp quan trọng để tạo thêm nhiều công ăn
việc làm cho người lao động.
Từ những lý do phõn tớch như trên chúng ta có thể thấy việc Đảng và Nhà nước
chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần cú sự quản lý của Nhà nước là việc
làm hết sức đúng đắn phù hợp với thực tế, mong muốn của người dân và lựa chọn
đúng con đường phát triển giữ vững định hướng xó hội chủ nghĩa.
3. VAI TRề CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN:
Hội nghị lần thứ 5 BCH trung ương khóa IX đó khẳng định: “Kinh tế tư nhân là
một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư
nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định
hướng xó hội chủ nghĩa…” Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của kinh tế tư nhân đó
được Đảng khẳng định và trên thực tế khu vực kinh tế tư nhân cũng đó và đang thể
hiện được vai trũ của mỡnh trong nền kinh tế, và ngày càng có những đóng góp quan
trọng trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân đang thực sự trở thành một động lực
mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xó hội ở nước ta.
* Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong
nước GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng sản phẩm của khu vực kinh tế tư
nhân nhỡn chung tăng ổn định trong những năm gần đây. Nhịp độ tăng trưởng năm
1997 là 12,89%; năm 1998 là 12,74%; năm 1999: 7,5%; năm 2000: 12,55% và
chiếm tỷ trọng tương đối ổn định trong GDP, tuy năm 2000 có giảm chút ít so với
năm 1996 (từ28,45% năm 1996 cũn 26,87% năm 2000). Tỷ trọng GDP của khu vực
kinh tế tư nhân trong tổng GDP giảm đi chút ít do sự tham gia và đóng góp của khu
vực có vốn đầu tư nước ngũai.

Bảng đóng góp GDP của khu vực kinh tế tư nhân:

GDP
% 21.28 20.9 20.31 19.52 19.72
Tỷ trọng hộ trong khu

Vực kinh tế tư nhân
- 74.7 74.94 74.34 73.62 73.41
3. Doanh nghiệp tư
nhân
Tỷ
đ
19.602 21.920 25.304 27.975 31.733
Tỷ trọng trong GDP % 7.21 6.99 7.01 6.99 7.14
Tỷ trọng trong khu
vực
Tư nhân
% 25.3 25.06 25.66 26.38 26.59

Nguồn:Bỏo cỏo tổng hợp tỡnh hỡnh và phương hướng,giải pháp phát triển kinh tế tư
nhân. Ban kinh
tế trung ương ngày 26-11-2001
Trong 4 năm (2000-2003) tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân trong công nghiệp
đạt mức 20% năm. Trong nông nghiệp kinh tế tư nhân đó cú đóng góp đáng kể trong
trồng trọt chăn nuôi và đặc biệt là trong các ngành chế biến và xuất khẩu. Nhờ sự
phát triển của kinh tế tư nhân, cơ cấu kinh tế nông nghiệp đó cú sự chuyển dịch quan
trọng theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy nhanh quá trỡnh CNH-HĐH khu vực nông
nghiệp nông thôn.
* Đóng góp về xuất khẩu và tăng nguồn thu ngân sách:

thực hện luật doanh nghiệp số vốn các doanh nghiệp đầu tư là hơn 145.000 tỷ đồng.
Đặc biệt số vốn đăng kí giai đoạn 2000-2003 cao gấp 4 lần số vốn đăng kí 9 năm

trước đó (1991-1999). Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh đó đóng vai trũ
là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế địa phương. Nhờ vốn huy
động được từ thực hiện luạt doanh nghiệp cơ cấu vốn đầu tư toàn xó hội đó thay đổi
theo hướng tăng tỷ lệ vốn đầu tư trong nước, tăng tỷ lệ vốn đầu tư của khu vực dân
doanh trong tổng dầu tư toàn xó hội (Vốn đầu tư của dân cư và các doanh nghiệp từ
chổ chiếm 20% năm 2000 tăng lên 23% năm 2001; 25.3% năm 2002 và trong năm
2003 khoảng gần 27% trong đầu tư ).
* Khu vực kinh tế tư nhân tạo việc làm và góp phần xóa đói giảm nghèo:
Ở nước ta hàng năm có khoảng 1.5 triệu người đến độ tuổi lao động, gồm có
lực lượng thanh niên đến độ tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp phổ thông , trung
học, đại học , cao đẳng và dạy nghề. Ngoài ra cũn cú những lao động bị thât nghiệp
do sắp xếp lại sản xuất trong các nghành kinh tế quốc dân. Nếu chỉ thông qua các
doanh nghiệp Nhà nước thỡ sẽ khụng bao giờ tạo đủ công ăn việc làm cho những
người có nhu cầu lao động. Thực tế những năm qua cho thấy ở thời điểm cao nhất
quốc doanh củng chỉ thu hút được khoảng 2 triệu lao động/năm. Trong khi dó tính
đến thời điểm 31-12-2000 số lượng lao động trong khu vực kinh tế tư nhân
là4.643.884 người chiếm 12% tổng số lao động xó hội, bằng 1.36 lần tổng số việc
làm trong khu vực kinh tế Nhà nước. Lao động của hộ kinh doanh cá thể là
3.802.057 người,của các doanh nghiệp tư nhân là 841.787 người, trong 3 năm (
2000-2002 ) các doanh nghiệp dân doanh và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập đó
tạo ra khoảng 1.5 triệu chổ làm việc mới . Tuy nhiờn số lao động qua thực tế khảo
sỏt ở hộ kinh doanh cỏ thể cũn lớn hơn nhiều so với số đăng kí vỡ nhiều hộ gia đỡnh
hủ yếu sử dụng lao động trong dũng họ, lao động mang tính thời vụ và lao động
nông nhàn không thể hiện trong các báo cáo thống kê.

nhà nước. Thể chế kinh tế thị trường ngày càng thích ứng hơn với cơ chế kinh tế
mới.Các loại thị trường bắt đầu hỡnh thành và phỏt triển như thị trường hàng hóa
dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường chứng khoán…
Khu vực kinh tế tư nhân cũn là mụi trường thuận lợi để mở rộng hợp tác
kinh tế với nước ngoài. Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay sự giao lưu kinh
tế văn hóa giữa các nước phát triển mạnh và kinh tế tư nhân là khu vực năng
động, có hiệu quả cao cho nên nó là những đối tác quan trọng trong các liên
doanh với nước ngoài. Tuy nhiên chúng ta cũng cần nâng cao khả năng cạnh
tranh của kinh tế tư nhân thỡ khi chúng ta gia nhâp WTO mới có chổ đứng trên
thị trường thế giới.

II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG THỜI

GIAN QUA Ở VIỆT NAM
1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN.

Sau cuộc cách mạng dân tộc thành công chúng ta muốn nhanh chóng tiến
lên con đường xó hội chủ nghĩa nờn đó vội vàng thực hiện xúa bỏa mọi hỡnh
thức sở hửu tư nhân chính vỡ vậy yhành phần kinh tế tư nhân là đối tượng cải tạo
của cách mạng xó hội. Tư liệu sản xuất của nhân dân được Nhà nước chưng mua
hoặc quốc hữu hóa để biến thành tài sản của Nhà nước.Tuy nhiên cả trong hoàn
cảnh như vậy thỡ kinh tế tư nhân vẫn có sự tồn tại, đặc biệt là trong nông nghiệp
nơi có phong trào tập thể hóa rất cao nhưng vẫn tồn tại kinh tế tư nhân chứng
minh sự tồn tại khách quan và sức sống mónh liệt của thành phần kinh tế này.
Từ sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 198) với sự thay đổi quan
điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế tư nhân thỡ khu vực kinh tế tư nhân đó cú
sự phỏt triển rất mạnh mẽ và đó cú những đóng góp quan trọng cho sự phát triển

khụng hoạt động chiếm tỷ lệ thấp, theo thống kê của nhiều thành phố thỡ số
doanh nghiệp đang thực sự hoạt động chiếm 80% - 85% trong tổng số doanh
nghiệp đăng kí. BIỂU ĐỒ SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP KHU VỰC KINH TẾ TƯ
NHÂN GIAI ĐOẠN 19991-2003. Sự phát triển về quy mô vốn, lĩnh vực và địa bàn kinh doanh:
Cho đến nay khu vực kinh tế tư nhân đó thu hỳt một lượng lớn vốn đầu tư xó
hội, vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh và hộ kinh doanh cá thể đang trở
5198
10881
15276
18894
26001
28700
41700
66780
120000
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
1992 1994 1995 1996 1998 1999 2000 2001 2003


Doanh nghiệp tư nhân là loại hỡnh mới được phục hồi và phát triển rất nhanh sau
khi có luật doanh nghiệp tư nhân, cũn cụng ty cổ phần mới ra đời chủ yếu sau khi
ban hành luật công ty năm 1990. Theo số liệu điều tra của viện quản lý kinh tế
trung ương năm 1994 cho thấy: 77.7% các công ty trách nhiệm hữu hạn và công

ty cổ phần là thành lập mới, cũn 23.3% số cụng ty là do chuyển đổi hỡnh thức tổ
chức ( từ doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xó, doanh nghiệp tư nhân). Hiện nay
công ty trách nhiệm hữu hạn đang là hỡnh thức được yêu thách nhất và phát triển
rất mạnh trong cả nước.
Khu vực kinh tế tư nhân đó cú những bước phát triển nhanh trong thời gian
qua, đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng không phải là không có những
mặt hạn chế yếu kém:
Một là: Hầu hết các doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân của nước ta
mới được thành lập, hơn 90% là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, kinh nghiệm
và năng lực cạnh tranh thấp nên dễ bị tổn thương.Theo số liệu của phũng thương
mại và công nghiệp Việt Nam có hơn 61% doanh nghiệp mới thành lập thiếu các
nguồn lực cơ bản như vốn, thị trường, đất đai, khó tiếp cận với các nguồn cung
ứng hổ trợ.
Thứ hai: Mặc dù đó huy động được một nguồn vốn lớn trong xó hội nhưng
nhỡn chung hiện trạng về vốn của khu vực kinh tế tư nhân cũn yếu kộm, vốn
bỡnh quõn thấp. Theo số liệu điều tra của viện quản lý kinh tế trung ương cho
thấy:67.88% số doanh nghiệpvà 40.3% số công ty tư nhân có vốn kinh doanh
dưới 500 triệu đồng. Phần lớn các doanh nghiệp và công ty tư nhân kinh doanh
bằng vốn tự có, việc kinh doanh bằng vốn tự có sẽ hạn chế khả năng mở rộng
quy mô doanh nghiệp và áp dụng công nghệ tiên tiến. Hiệu quả sử dụng vốn của
các doanh nghiệp tư nhân tuy có cao hơn các doanh nghiệp Nhà nước nhưng vẫn
cũn thấp.

tế tư nhân phát triển. Đảng và Nhà nước luôn tạo môi trường thuận lợi về thể chế
và tõm lý xó hội cho sự phỏt triển của kinh tế tư nhân : sửa đổi bổ sung luật
doanh nghiệp, xóa bỏ phân biệt đối sử giữa các thành phần kinh tế, ổn định pháp
luật, quy định rừ những nghành nghề kinh doanh khụng được phép thực hiện, sửa
đổi bổ sung một số một số cơ chế chính sách về đất đai, tài chính tín dụng, tiền
lương, xúc tiến thương mại…Các chính sách trên đó và đang mang lại hiệu quả
và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển.
Việc khu vực kinh tế tư nhân cũn một số mặt hạn chế yếu kộm như đó nờu ở
trờn là do:
Các công ty tư nhân khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ nên
nguồn vốn đầu tư nhỏ không đủ để đầu tư vào các nghành cần nguồn vốn lớn như
công nghiệp, cơ sỏ hạ tầng… các nguồn vốn của ngân hàng, Nhà nước cho vay
thỡ thường có thời gian ngắn không tạo sự yên tâm cho chủ đầu tư vỡ khụng dễ

thu hồi vốn nhanh trong các nghành công nghiệp, cơ sở hạ tầng… Hơn nữa trỡnh
độ lao động cũn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu công nghệ ngày càng hiện đại.
Tâm lí muốn thu hồi vốn đầu tư nhanh chóng qua các nghành thương mại
dịch vụ, trỡnh độ quản lớ của cỏc doanh nhõn cũn thấp, chưa có chiến lược đầu
tư lâu dài nên các doanh nghiệp tư nhân thường có quy mô nhỏ và ít đầu tư vào
các nghành công nghiệp.
Hành lang phỏp lớ và cỏc chớnh sỏch cụ thể cũn phức tạp hoặc chưa đủ sức
thu hút các doanh nhân bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp nặng, công
nghệ cao, cơ sở hạ tầng… do đó chưa hỡnh thành cơ cấu đầu tư tư nhân có hiệu
quả cho nền kinh tế.
Ở một số tỉnh thành đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi chưa có những
chính sách phù hợp để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, cũng như đang
cũn thiếu thốn rất nhiều điều kiện để các doanh nhân đầu tư như về chất lượng

nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định
hướng xó hội chủ nghĩa.Vai trũ và vị tri của kinh tế tư nhân đang được cả xó tụn
trọng. Việc đổi mới nhận thức này chính là yếu tố cơ bản nhất tạo ra môi trường
tâm lớ xó hội thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển hơn nữa trong thời gian tới.
Mặt khác để đường lối chủ chương của Đảng có thể đi vào cuộc sống một
cách thiết thực có hiệu quả, Nhà nước đó khụng ngừng hoàn thiện cỏc chớnh
sỏch khuyến khớch kinh tế tư nhân phát triển, từng bước bải bỏ các quy định
không phù hợp, cải thiện môi trường pháp lý trong kinh doanh, cải cỏch thủ tục
hành chớnh ( trong việc đăng kí kinh doanh, một cửa một dấu… ). Hàng loạt
các văn bản pháp quy đó ra đời như luật thuế, luật doanh nghiệp tư nhân, luật
công ty, luật đất đai…
Đó thực sự thỳc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, tạo ra niềm tin
cho các chủ doanh nghiệp.
Chúng ta cũng có thể thấy rằng khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế
năng động do họ có toàn quyền quyết định mọi vấn đề thuộc về doanh nghiệp
(sản xuất cái gỡ, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai ), họ không bị rằng buộc
bởi một cơ chế khi quyết định một vấn đề kinh tế như doanh nghiệp Nhà nước,
vỡ vậy họ ra quyết định rất nhanh chóng đây là yếu tố thời cơ tạo nên sự năng
động, thành công của khu vực kinh tế tư nhân. Không những vậy các doanh
nghiệp cũn cú thể tự do tỡm đối tác của mỡnh, tỡm thị trường cho mỡnh nờn cỏc
doanh nghiệp rất chủ động trong kinh doanh.
Một sự thuận lợi nữa là việc chúng ta đang phát triển kinh tế thị trường định
hướng xó hội chủ nghĩa. Việc mở rộng quan hệ kinh tế với cỏc nước cho phép tư

nhân tham gia các hoạt động xuất nhập khẩu, tỡm đối tác làm ăn tạo động lực cho
sự phát triển của kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi hiện nay kinh tế tư nhân đang gặp nhiều
lược đầu tư lâu dài, chưa tạo ra được thương hiệu cho doanh nghiệp của mỡnh
nờn làm cho cỏc doanh nghiệp tư nhân không có chổ đứng vững chắc trên thị
trường.
Hệ thống chính sách của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân chưa đầy đủ, thiếu
đồng bộ nhiều mặt chưa rừ ràng như trong chính sách đất đai ( về đền bù, giải tỏa
mặt bằng… ) chính sách thuế ( như thực hiện các loại thuế chưa thống nhất, thuế
đánh trùng lắp, thuế suất cao, hệ thống thuế cũn nhiều khe hỏ…tạo điều kiện cho
một số doanh nghiệp phạm pháp ) chính sách lao động xó hội…Điều này không
những gây khó khăn cho công tác quản lý kinh tế tư nhân mà cũn tạo ra sự bất
bỡnh đẳng giữa các thành phần kinh tế nhất là giữa kinh tế tư nhân và kinh tế
Nhà nước: như việc đang cũn tồn tại nhiều luật khỏc nhau để điều chỉnh các
thành phần kinh tế khác nhau ( Doanh nghiệp Nhà nước thỡ cú luật doanh nghiệp
Nhà nước diều chỉnh, các loại doanh nghiệp tư nhân thỡ thực hiện theo luật
doanh nghiệp…), nếu thực sự bỡnh đẳng thỡ cỏc doanh nghiệp đều phải được
điều chỉnh bằng một loại luật thống nhất; hay như trong chính sách lao động xó
hội thỡ người lao động trong khu vực ngoài quốc doanh hầu như chưa được
hưởng bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm y tế cũn trong doanh nghiệp Nhà nước
người lao động được hưởng đầy đủ hệ thống bảo hiểm, khi công nhân không có
việc làm vẫn được tính thời gian để hưởng chế độ…
Một bộ phận xó hội, cỏn bộ cụng chức nhà nước chưa có cái nhỡn đúng đắn
về vị trí và vai trũ của kinh tế tư nhân tạo ra môi trường tâm lí không ổn định cho
sự phát triển của kinh tế tư nhân. Điều này đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc huy
động các nguồn lực, tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân cho đầu tư phát triển
sản xuất kinh, doanh và làm khó khăn thêm trong việc đưa đuờng lối chính sách
của Đảng vào cuộc sống.
2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
a. các vấn đề kinh tế vĩ mô
Hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh

điểm hệ thống và thống nhất, không chia cắt theo thành phần kinh tế. Chỉ nên có
một bộ máy, một hệ thống chính sách và một hệ thống phỏp luật chung trong
toàn bộ nền kinh tế. Khi hỡnh thành mụ hỡnh quản lý cỏc doanh nghiệp phải làm
sao cho cỏc yếu tố đó tác động một cách tích cực đến sự phát triển của toàn bộ
nền kinh tế.
Việc hoàn thiện môi trường pháp lý là cần thiết nhưng chỳng ta cũng phải
tạo dựng và duy trỡ tỡnh ổn định của các chính sách, hạn chế sự thay đổi quá
mức cần thiết để các doanh nghiệp yên tâm phát triển kinh doanh. Khi có sự thay

đổi nhanh trong một số chính sách như về thuế, đất đai, xuất khẩu…sẽ khiến
nhiều nghành bị động và chịu tổn thất đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ. Việc ổn
định các chính sách vĩ mô cũng tạo nên sự ổn định trong môi trường kinh doanh,
làm giảm đi sự khó khăn của môi trường kinh doanh trong nước. Sự khó khăn
trong môi trường kinh doanh thể hiện trước hết khi gia nhập thị trường doanh
nghiệp của kinh tế tư nhân phải mất nhiều thời gian và chịu chi phí khá cao, cao
hơn các nước khác trong khu vực. Cho đến nay khi gia nhập thị trường doanh
nghiệp phải qua sáu bước là: đăng kí kinh doanh; khắc dấu; đăng kí mó số thuế;
đóng thuế môn bài; mua hóa đơn lần đầu và đăng báo trong đó có nhiều thủ tục
rườm già và bây giờ không cũn thực sự cần thiết, vỡ vậy chỳng ta cần phải đơn
giản hóa các thủ tục, bỏ các thủ tục không cũn phự hợp để tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp kinh doanh. Các cơ quan Nhà nước phải tạo điều kiện để doanh
nghiệp được tham gia đóng góp ý kiến vào nhiều văn bản, chính sách khác nhau
mới có thể tiếp thu được ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp, biết được điều
các doanh nghiệp thực sự cần để xây dựng các văn bản thực sự sát với thực tế.
Cơ chế chính sách phuơng hướng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân cần phù
hợp với lộ trỡnh Việt Nam gia nhập AFTA và WTO, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

sách quy định cụ thể nhằm hạn chế và tiến tới loại bỏ những trở ngại trong việc
vay vốn nhất là vay vốn nước ngoài. Trong hệ thống ngân hàng phải làm cho thủ
tục vay vốn đơn giản và thận tiện hơn. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhà
nước nên mở rộng hỡnh thức cho vay, việc quy định về lói xuất, thời hạn vay vốn
phải linh hoạt và bỡnh đẳng giữa các doanh nghiệp. Mặt khác phải có chính sách
thuế hợp lý mới kích thích được tư nhân đầu tư và mới thu hút được vón đầu tư
trong nhân dân.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, chế
biến, đầu tư vào các lĩnh vực mới, các lĩnh vực yêu cầu hàm lượng kĩ thuật cao…
Ngoài việc đổi mới chính sách tài chính tín dụng để thu hút vốn thỡ có thể hay
đổi cơ cấu đầu tư của tư nhân hướng vào các nghành trên bằng chính sách thuế.
Đối với những doanh nghiệp mới ra kinh doanh những lĩnh vực mới cần khuyến
khích ta có thể miễn hoặc giảm thuế trong một thời gian nhất định để doanh
nghiệp có bước đầu phát triển thuận lợi và nên có chính sách giảm thuế chung
cho các cơ sở kinh doanh thuộc kinh tế cá thể và kinh tế hộ gia đỡnh, đánh thuế
cao trong các lĩnh vực, nghành không khuyến khích phát triển…Chúng ta cũng
cần có quy định rừ ràng về đất đai, mặt bằng kinh doanh, phát triển cơ sở hạ tầng
để doanh nghiệp có điều kiện phát triển mở rộng sản xuất.

Nông thôn và miền núi là những vùng giàu tiềm năng ( về con người, lao
động, tài nguyên… ) để đầu tư phát triển nhưng lại chưa được chú trọng xây
dựng phát triển, chưa có sức thu hút đối với các doanh nghiệp tư nhân vỡ với số
vốn nhỏ, điều kiện cơ sở hạ tầng chưa đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất thỡ các doanh
nhân không thể tự mỡnh đứng ra đầu tư được vỡ vậy Nhà nước phải xây dựng
các khu quy hoạch cụ thể, ở các vùng này Nhà nước cần xây dựng những khu
công nghiệp với cơ sở hạ tầng cần thiết, có giá thành phù hợp để khuyến khích
các doanh nghiệp đầu tư, ngoài ra cần có chính sách khuyến khích mạnh mẽ việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status