LUẬN VĂN: Đổi mới cở chế, chính sách nhằm khuyến khính phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay doc - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Đổi mới cở chế, chính sách nhằm
khuyến khính phát triển kinh tế tư
nhân ở Việt Nam hiện nay

LỜI NÓI ĐẦU

Kết thúc hai cuộc kháng chiến chống Pháp,Mĩ thắng lợi , đất
nước ta đi vào công cuộc cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong
cả nước. Vì rập khuôn máy móc, mang tính lí luận Chủ nghĩa Mác-
Lenin dẫn đến kinh tế nước ta chỉ tồn tại hai thành phần kinh tế nhà


MỘT SỐ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ KINH TẾ TƯ NHÂN

I.1. Bản chất của Kinh tế tư nhân.
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê.

I.2. Các bộ phận của Kinh tế tư nhân.
Kinh tế tư bản tư nhân, nếu xét về thành phần kinh tế, chỉ bao
gồm 2 thành phần kinh tế: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh thế tư bản
tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại
hình doanh nghiệp của tư nhân.

I.2.a.Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ bao gồm những đơn vị kinh tế dựa
trên hình thức sở hữu tư nhân quy mô nhỏ về tư liệu sản xuất và hoạt
động dựa vào sức lao động của từng hộ là chủ yếu.

Trong một số ngành, nghề ở nông thôn và thành thị, kinh tế cá
thể và tiểu chủ có vị trí quan trọng. Nó có khả năng tận dụng tiềm
năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người
lao động. Nhưng đến một trình độ nhất định việc mở rộng sản xuất,
kinh doanh của kinh tế cá thể, tiểu chủ sẽ bị hạn chế vì thiếu vốn,
trình độ công nghệ thấp và khó tìm thị trường tiêu thụ, bởi vậy cần
được sự hỗ trợ của Nhà nước để khắc phục những hạn chế nói trên.

Các đơn vị kinh tế cá thể, tiểu chủ có thể tồn tại độc lập, hoặc

dân, kinh tế tư bản đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp
quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào
sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sông nhân
dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị -
xã hội của đất nước.
Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của kinh
tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân
công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân , lao động và doanh
nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hoá y tế, văn hoá,
giáo dục

I.3.1. Khơi dậy và phát huy tiềm năng của 1 bộ phận lớn dân cư
tham gia vào công cuộc phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, tạo việc làm.

I.3.1.a. Tạo việc làm, toàn dụng lao động xã hội.
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là lực lượng
tham gia tích cực và có hiệu quả đối với vấn đề giải quyết việc làm.
Tính đến năm 1996 đã giải quyết việc làm cho 4.700.724 lao động,
chiếm gần 70% lực lượng lao động xã hội trong khu vực sản xuất phi
nông nghiệp. Trong khi doanh nghiệp nhà nước chỉ thu hút được
11,5 lao động/1 tỷ đồng vốn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
thu hút được 1,7 lao động/1 tỷ đồng vốn. Riêng các doanh nghiệp tư
nhân trong 5 năm qua ( 1991-1996 ) tuy số vốn huy động chưa lớn
nhưng bình quân mỗi năm giải quyết thêm khoảng 72.020 việc làm;
I.3.1.c. Huy động mọi nguồn vốn đâu tư phát triển.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ tuy quy mô nhỏ nhưng với số lượng
cơ sở sản xuất kinh doanh lớn nên đã động viên được nhiều nguồn
vốn vào sản xuất kinh doanh từ 14.000 tỷ đồng năm 1992 đã tăng lên
26.500 tỷ đồng vào năm 1996, chiếm tới 8,5% tổng vốn đầu tư sản
xuất kinh doanh của toàn xã hội. Các doanh nghiệp tư bản tư nhân đã
huy động được lượng vốn vào kinh doanh là 20.665 tỷ đồng (tính
đến hết năm 1996), bình quân mỗi năm trong giai đoạn 1991 – 1996
tăng thêm 3.940 tỷ đồng, chiếm khoảng 5% tổng số vốn đầu tư phát
triển của toàn xã hội và 6,9% vốn kinh doanh của các ngành. Tính
đến thời điểm năm 1996, khu vực kinh tế tư nhân đã huy động được
tổng số lượng vốn lên đến 47.155 tỷ đồng chiếm tới 15% tổng số vốn
đầu tư và phát triển toàn xã hội.
Mặc dù trong những năm đổi mới vừa qua với chính sách mở
cửa, kêu gọi đâu tư nước ngoài của Nhà nước đã thu hút thêm nguồn
FDI ngày một tăng (từ 13.7% tổng số vống đầu tư phát triển của cả
nước năm 1990 lên đến trên 25% năm 1998), nhưng khu vực trong
nước vẫn đóng góp lượng vôn đầu tư rất đáng kể cho nền kinh tế:
49% tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hội năm 1990 và trên 21% năm
1998, tức là chiếm trên 1/5 tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hội – là tỷ
trọng không nhỏ.

I.3.2. Thúc đẩy việc hình thanh các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ
chế quản lí theo hướng thị trường, tạo sự cạnh tranh trong nên
kinh tế.
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành sản xuất
kinh doanh, v.v. đều do kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đảm
nhân. Hiện nay, trừ một số lĩnh vực, ngành nghề mà nhà n ước độc

và xác lập vai trò, vị trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theo
yêu cầu của cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách cơ chế
quản lý theo hướng thị trường, mở của hợp tác với bên ngoài.

I.3.3. Góp phần xây dựng đội ngũ các nhà doanh nghiệp Việt Nam.
Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trước đây xoá bỏ các
thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa và cả những nhà doanh
nghiệp tư nhân, chỉ còn lại các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế
quốc doanh và hợp tác xã. Đội ngũ các nhà doanh nghiệp trong khu
vực kinh tế quốc doanh được đào tạo trong cơ chế cũ - mặc dù đã
được đào tạo, đổi mới, trưởng thành trong cơ chế thị trường những
năm gần đây và đã đạt được những thành công đáng kể trong sản
xuất kinh doanh, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiểu yếu kém bất cập
trước yêu cầu nhiệm vu và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường nhất là
trước yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thời mở của
nền kinh tế.

Nhờ đổi mới và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta
đã từng bước hình thành được đội ngũ các nhà doanh nghiệp hoạt bát
trong hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề của nền kinh tế quộc dân
với số lượng ngày một lớn: khoảng 40.000 chủ doanh nghiệp và trên
120.000 chủ trang trại. Đây thực sự là một thành quả có ý nghĩa lớn
trong việc xây dựng đội ngũ các nhà doanh nghiệp và phát huy
nguồn lực con người cho đất nước thời mở của của khu vực kinh tế
tư nhân. Mặc dù được hình thành một cách tự phát nhưng nhờ được
đào luyện trong cơ chế thị trường, đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư

Quan hệ phân phối giờ đây càng trở nên linh hoạt, đa dạng:
ngoài phân công chủ yếu dựa trên lao động, còn sử dụng các hình
thức phân phối theo vốn góp, theo tài sản, theo cổ phần và các hình
thức khác.v.v.

Chính sự chuyển biến của các quan hệ sở hữu, quản lý và
phân phối nói trên đã làm cho quan hệ sản xuất trở nên mềm dẻo, đa
dạng, linh hoạt, dễ được chấp nhận và phù hợp với thực trạng nền
kinh tế và tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay.
PHẦN II

THỰC TRẠNG CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ CƠ CHẾ
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN

II.1. Thực trang phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian qua.

II.1.1.Kinh tế tư bản tư nhân.
- Về vốn sản xuất:
Theo số liệu thống kế năm 1995, trong tổng số 15.276 doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thì
có tới 87,2% số doanh nghiệp có mức vốn điều lệ dưới 1 tỷ đồng,
trong đó 29,4% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 100 triệu đồng.
Những doanh nghiệp có mức vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm 10% trên 10
tỷ đồng trở lên chiếm 1%, trong đó từ 100 tỷ đồng trở lên chỉ có

tỷ đồng (năm 1996);

Như vậy, so với chỉ tiêu doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính
phủ và một số nước trên thế giới thì rõ ràng các doanh nghiệp thuộc
khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta chủ yếu thuộc loại hình doanh
nghiệp nhỏ.

II.1.2. Kinh tế cá thể, tiểu chủ
Các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, tiểu chủ ở nước ta về
quy mô có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Vốn sản xuất kinh doanh khoảng 11 triệu đồng.
- Sử dụng khoảng 3,3 lao động (kể cả chủ) ở nông thôn và
6,3 lao động ở thành phố (năm 1996).
- Doanh thu hàng năm khoảng 18 triệu đông.
Có thể kết quả điều tra trên chưa phản ánh thật đầy đủ, nhưng
cũng cho thấy phần nào thực trạng quy mô vốn, lao động, doanh
thu của loại hinh kinh tế cá thể, tiểu chủ ở nước ta, nhìn chung là
nhỏ bé. Sản xuất kinh doanh của loại hình kinh tế này phần lớn chỉ
đủ tái sản xuất giản đơn, khả năng tích luỹ tái sản xuất mở rộng
vươn lên chuyể đổi sang các loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn
hơn rất khó khăn. Nó không phải là loại hình kinh tế chủ yếu để
làm giàu, nhưng lại cần thiết cho bước quá độ sang nền kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay - nhất là trong việc giải quyết việc làm,
huy động nguồn lực nhỏ lẻ, phân tán trong dân và phát triển sản
xuất, hình thành các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa và đội ngũ lao
động cho nền kinh tế thị trường,v.v.


cả vẫn là thương nghiệp, sửa chữa và công nghiệp chế biến; ngành
nông – lâm nghiệp vẫn có hiệu quả nhất.
Kết quả điều tra năm 1995 của Tổng cục Thống kê và những
khảo sát nghiên cứu gần đây cũng cho thấy: trong các doanh nghiệp
tư nhân, tính bình quân một đồng vốn đem lại 3,2 đồng doanh thu và
mức sinh lời trên 1 đồng vốn là 0.057 đồng; công ty trách nhiệm hữu
hạn tương ứng là 1,94 đồng và 0,018 đồng; doanh nghiệp nhà nước
một đồng vốn tạo được 1,43 đồng doanh thu, mức sinh lời trên một
đồng vốn là 0,054 đồng và lợi nhuận trên 1 đồng doanh thu là 0,0378
đồng. Điều đó nói lên rằng: hiệu quả hoạt động của các loại hình
doanh nghiệp tư bản tư nhân, doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước
ta cũng như doanh nghiệp nhà nước còn rất thấp.

Mặc dù năng lực sản xuất kinh doanh của kinh tế cá thể và
tiểu chủ hạn chế so với các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty
trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phân, nhưng lại là loại hinh kinh
tế có số lượng lớn, trải rộng trên nhiều vùng, hoạt động trên nhiều
lĩnh vực khác nhau nên trong cơ cấu doanh thu của khu vực kinh tế
tư nhân lại chiếm tỷ trọng lớn nhất. Cụ thể là: trong tổng doanh thu
của cả khu vực kinh tế tư nhân năm 1996, kinh tế cá thể, tiểu chủ
chiếm 40,6%, thứ hai là công ty trách nhiêm hữu hạn chiếm 36,04% ,
thứ ba là doanh nghiệp tư nhân chiếm 17,18%, thứ tư là công ty cổ
phần chiếm 3,78%. Riêng trong việc giải quyết việc làm cho lao
động thì kinh tế cá thể là nơi thu hút số lượng lớn nhất so với các
loại hình kinh tế khác. Cụ thể là: kinh tế cá thể, tiểu chủ chiếm
81,2%; công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 7,98%; doanh nghiệp tư
nhân chiếm 5,54%; và thấp nhất là công ty cổ phân chiếm 0,84%.

với năm 1994, và sang năm 1996 có 2.215.000 cơ sở, tăng 8% so với
năm 1995
Nhờ có tốc độ phát triển và tăng trưởng nhanh nên khu vực
kinh tế tư nhân đã đóng góp ngày càng quan trọng vào GDP của nền
kinh tế: từ 102.468 tỷ đồng năm 1995 đã tăng lên 151.388 tỷ đồng
vào năm 1998, chiếm tỷ trọng 41,06% GDP.

Tuy nhiến đáng lưu ý là tốc độ phát triển của khu vực kinh tế
cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân cũng như toàn bộ nền kinh tế nước
ta đã có dấu hiệu chững lại vào năm 1997 – sau một thời gian phát
triển có thể nói khá ngoạn mục. Sự suy giảm của khu vực kinh tế tư
nhân một mặt là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực
– đây được coi là nguyên nhân trực tiệp trước mắt; còn nguyên nhân
sau xa bên trong lại chính do cơ chế, chính sách quản lý điều hành
vĩ mô của Nhà nước tỏ ra chưa phù hợp với đòi hỏi của khu vực kinh
tế tư nhân đã có nhiều đổi khác sau hơn 10 năm đổi mới; đồng thời
cũng do những hạn chế về năng lực nội tại của bản thân khu vực
kinh tế tư nhân. Mặc dù vậy, thành tựu phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân gắn liền với công cuộc đổi mới là to lớn và rất có ý nghĩa,
góp phân tạo tiền đề quan trọng cho bước phát triển mới của đất
nước trước thềm thế kỷ XXI và là thành tựu đáng ghi nhân của một
chặng đường phát triển và những tồn tại cũng là tất yếu. Nhiệm vụ
của giai đoạn tới là phải tiếp tục khắc phục những tổn tại nhằm thúc
đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo cương lĩnh, chiến lược đã đề
ra.



Bảng 1: Số cơ sở kinh tế tư nhân giai đoạn 1991 – 1998.

Loại
hình
1994

1995

1996

1997

1998

Tư bản
tư nhân

10.881

15.276

18.894

25.002

26.021

% so
năm


40,1

14,2

40,4

7,1

Cty
TNHH

2.968

4.242

6.303

7.350

7.100

% so
năm
trước

84,7

42,9


7.6

19,7

12,5

Số cơ
sở KT
cá thể

1.533.100

2.050.200

2.215.000
% so
năm
trước

102,3

133,7

108

28,1% vào năm 1998.
Xét về cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh: phần lớn các
doanh nghiệp tư nhân trong nước thuộc các lĩnh vực thương nghiệp,
dịch vụ, tiểu thủ công, lắp ráp, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng
tiêu dùng

II.1.6. Những tồn tại, yếu kém của thành phần kinh tế tư nhân.
Một là, phần lớn các cơ sở kinh tế tư nhân đều có quy mô nhỏ,
năng lực và sức cạnh tranh hạn chế, dễ bị tổn thương trong cơ chế
thị trường. Hiện nay có tới 87,2% số doanh nghiệp có mức vốn dưới
1 tỷ đồng, trong đó 29.4% có mức vốn dưới 100 triệu đồng; những
doanh nghiệp có mức vốn từ 10 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm 1%, trong
đó từ 100 tỷ đồng trở lên có 0,1%.Thiếu vốn để sản xuất và mở rộng
sản xuất là hiện tượng phổ biến đối với toàn bộ các doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế tư nhân hiện nay và được coi là một trong
những cản trở lớn nhất (sau vấn đề thị trường tiêu thụ và cạnh tranh)
đến sự phát triển sản xuất kinh doanh của các c ơ sở kinh tế tư nhân.
Hầu hết các doanh nghiệp khởi sự hoàn toàn bằng vốn tự có ít ỏi của
mình.
Ngân hàng thì luôn ở trong tình trạng thủ thế “chở doanh
nghiệp đến vay với đầy đủ các điều kiện về tài sản thế chấp” chứ
không phải là “tìm các phương án kinh doanh có hiệu quả để cho
vay”. Mặc khác bản thân doanh nghiệp cũng có những hạn chế nhất
định trong việc tiếp cận các nguồn vốn, tiếp cận thông tin. Thành lập
doanh nghiệp chủ yếu là dựa trên kinh nghiệm chứ chưa tính toán
đầy đủ nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ chắc chắn, nên hầu
hết các chủ doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân ( nhất là hộ

lao động, chất lượng sản phẩm của phần lớn các cơ sở sản xuất kinh
doanh.
Lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa của kinh tế tư
nhân chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiếu kỹ năng,
trình độ văn hóa thấp. Số liệu điều tra cho thấy: trong khu vực kinh
tế tư nhân chỉ có 5,13% lao động có trình độ đại học, khoảng 48,4%
số chủ doanh nghiệp không có bằng cấp chuyên môn. Trong số lao
động có trình độ cao đẳng và đại học trở lên thì doanh nghiệp tư
nhân chiếm 1,9%, công ty cổ phần là 1,3%, công ty trách nhiệm hữu
hạn là 8.6%, trong các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ là 0.5%. Cùng
với sự lạc hậu về công nghệ, kỹ thuật, sự yếu kém của đội ngũ lao
động là nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh của
khu vực kinh tế này.

Ba là, thiếu mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn
định là tình trạng phổ biến đã tác động bất lợi tới chiến lược kinh
doanh của các doanh nghiệp. Luật Đất đai chỉ quy định quyến sử
dụng đất, không cho phép tư nhân có quyền sở hữu và hạn chế
nghiêm ngặt việc mua bán đất đai. Trong điều kiện như vậy, bất lợi
hơn cả chính là các cơ sở kinh tế tư nhân mới thành lập rất khó có
được mặt bằng đất đai ổn định. Thêm vào đó, sự phân biệt đối xử
trong việc giao đất của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và
cho thuê đất đối với các cơ sở kinh tế tư nhân cũng gây bất lợi và
thiệt thòi cho khu vực kinh tế tư nhân. Mắt khác, những vấn đề về
chuyển nhưỡng, cho thuê quyền sử dụng đất lại chưa rõ ràng càng
làm cho vấn đề mặt bằng sản xuất căng thăng hơn. Rất ít doanh
nghiệp có mặt bằng sản xuất ngay từ khi mới thành lập mà thường

4%. Đáng chú ý là trong năm 1998 đã giảm đi 250 công ty trách
nhiệm hữu hạn (từ 7.350 công ty trách nhiệm hữu hạn năm 1997 đến
năm 1998 còn 7.100 công ty trách nhiệm hữu hạn), số công ty cổ
phần tăng lên 19, riêng doanh nghiệp tư nhân tăng cao nhất là 1.250
doanh nghiệp so với năm 1997. Tốc độ tăng GDP của cả khối kinh tế
tư nhân giảm từ 8.7% năm 1995 xuống 5,7% vào năm 1997 và 4.2%
vào năm 1998. Ngoài ra còn có hiện tượng rất đáng lưu ý là: một số
doanh nghiệp lớn, không muốn đăng kí kinh doanh thành lập các
doanh nghiệp lớn, mà chỉ liên doanh liên kế với các doanh nghiệp
nhà nước, doanh nghiệp tập thể để núp bóng trốn lậu thuế, kinh
doanh trái phép, hoạt động kinh tế tư ngầm; một số chủ doanh
nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân móc nối, cấu kế với một số cán
bộ nhà nước thoái hóa để bòn rút, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước,
gây hậu quả nghiêm trong nhiều mặt do sự tác động bất lợi đới với
nền kinh tế- xã hội Tình hình trên một mặt do sự tác động bất lợi
của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, nhưng mặt quan trọng hơn
lại bắt nguông từ sự yếu kém về năng lực của bản thân khu vực kinh
tế tư nhân nói riêng và sự yếu kém của nên kinh tế nước ta nói
chung- đặc biệt là những hạn chế của chính sách, giải pháp quản lý
vĩ mô của Nhà nước – là những hiện tượng rất đáng lưu ý, cần có sự
quản lý, kiểm tra ngăn chặn để hoạt động của khu vực kinh tế tư
nhân trong nền kinh tế được lành manh.

II.2. Thực trạng cơ chế chính sách đối với kinh tế tư nhân

II.2.1. Thực trạng những điều kiện khởi sự doanh nghiệp
Trước khi Luật Doanh nghiệp được ban hành và có hiệu lực từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status