1
Phần I: Kỹ Thuật Nuôi Gà Thả Vườn
Trung tâm giống & KT Vật Nuôi Phú Yên
Chăn nuôi gà an theo hướng toàn sinh học
(ATSH) nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh và đảm
bảo vệ sinh môi trường do đó công tác tiêu độc vệ
sinh sát trùng phải được thực hiện thường xuyên.
Trước khi nuôi phải xông xịt sát trùng chuồng trại
theo quy định. Trong suốt quá trình nuôi mỗi tuần
xịt toàn bộ chuồng trại và khu vực xung quanh
(trừ máng ăn, máng uống) 1 lần. Xịt từ tuần thứ 1
đến tuần thứ 10 bằng dung dịch Biocide 2% với
0,5 lít/m
2
chuồng trại lúc trời nắng.
1. Chuẩn bị điều kiện nuôi
Trước khi đem gà về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất, kỹ thuật
như:
- Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả
phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
- Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y, vaccine cần thiết cho đàn gà.
- Chuồng nuôi phải đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
- Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước.
- Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10cm được phun sát trùng
trước khi sử dụng.
- Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.
a. Chuồng trại
- Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để xây dựng chuồng gà. Nên làm chuồng
theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng buổi sáng và tránh được nắng
buổi chiều.
- Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m
- Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp
gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
f. Dàn đậu cho gà
- Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho
đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
- Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu).
Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5m, cách nhau 0,3-0,4m để gà khỏi đụng vào nhau,
mổ nhau và ỉa phân lên nhau.
- Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
- Vườn chăn thả: 1 m
2
/ 1gà.
2. Chọn giống
- Nuôi thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà
Lương Phượng
- Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu
Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri
Chọn giống gà con
- Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
- Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập.
- Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ
huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
Chọn gà đẻ tốt
- Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt
1,6-1,7 kg thì rất tốt.
3
- Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.
- Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
- Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt.
- Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai
máng ăn. Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh). Cứ 2 tuần 1 lần cân 10%
tổng số gà để tính trọng lượng bình quân.
- Chú ý trong khi nuôi hoặc chủng ngừa cần loại những con còi cọc, nhốt và
nuôi riêng để đạt tỷ lệ đồng đều cao.
- Phân gà được hốt dọn thường xuyên (nếu nuôi lồng) hoặc cuối đợt (nếu nuôi
trên nền trấu) và phải được đem ủ kỹ với vôi bột 3 tháng sau mới đem dùng.
4
- Khi gà đạt trọng lượng 2kg thì xuất bán. Chú ý xuất và chở gà đi lúc trời mát
và xe chuyên dùng phải có hệ thống thông gió tránh gà chết ngạt hàng loạt. Nếu chở
đi xa tốt nhất chở vào ban đêm tới nơi giết thịt trời vừa sáng là tốt nhất.
- Phải đưa gà đến các cơ sở giết mổ tập trung và phải có dấu của thú y mới
được bán.
Chú ý: Không nuôi nhiều cỡ gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần
phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.
4. Thức ăn cho gà
- Gà là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn
bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rữa.
- Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công
nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và
Vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị
để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
- Đối với gà thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà
nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.
Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi
là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
- Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi
lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà.
- Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn
nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
- Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ
- Gia cầm non, gia cầm bị suy yếu, giống mẫn cảm với bệnh.
- Môi trường sống:
+ Thức ăn không cân bằng dinh dưỡng dễ làm con vật mắc bệnh.
+ Nước uống phải sạch.
+ Không khí, nhiệt độ
b. Sức đề kháng của cơ thể gia cầm
- Mỗi con vật đều có một hàng rào cơ học để tự bảo vệ cơ thể.
- Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh
(sức đề kháng chủ động).
c. Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh
+ Vệ sinh phòng bệnh
- Thức ăn tốt.
- Nước sạch.
- Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
- Chuồng nuôi sạch.
- Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
- Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.
+ Phòng bằng Vaccine
Lịch chủng ngừa
Ngày tuổi
Phòng bệnh
Loại Vaccine
Cách chủng
3
Dịch tả
Newcastle chủng F
Nhỏ mắt
7
Gumboro
Gumboro lần 1
Tụ huyết trùng
Tụ huyết trùng lần 2
Chích dưới da
Chú ý: Lịch chủng ngừa trên chỉ là tham khảo, tùy từng vùng người nuôi có
quy trình chủng ngừa phù hợp. Trong qúa trình nuôi nếu đến lịch chủng ngừa mà gà
có biểu hiện bệnh thì không chủng mà phải điều trị cho gà khỏi hẳn thì mới chủng
6
ngừa, nếu gà đang bị bệnh mà chủng ngừa thì gà sẽ bệnh nặng thêm và hiệu lực của
vaccine cũng giảm.
+ Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh
- Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
- Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
- Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.
+ Phòng bằng thuốc:
- Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol
- Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,
Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình
phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ
6. Một số bệnh thường gặp ở gà
6.1. Bệnh cầu trùng
* Nguyên nhân: Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn
bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do
con người, súc vật vô tình mang các noãn bào này đi xa. Tốc độ sinh sản nhanh của
các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát.
Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm,
yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.
Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc
bệnh hơn nuôi trên nền.
* Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu
chết.
- Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).
- Tiêu chảy phân màu xanh - trắng, diều căng đầy hơi.
- Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh.
Nếu sau 4-5 ngày gà không chết sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận
động tròn theo một phía, đi đứng không vững. Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết
từ 50 - 90%.
+ Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu
chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ Gà trở thành vật
mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.
* Bệnh tích: Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của
virus. Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già.
* Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
* Trị bệnh: Dùng các thuốc tăng sức đề kháng:Vitamix, vit-plus,
6.4. Bệnh Gumboro
* Nguyên nhân: Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi.
* Triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.
8
- Gà sút nhanh, run rẩy. Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị
nhiễm.Tỷ lệ chết: 10-30%.
- Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).
* Bệnh tích: Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt. Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to.
- Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.
- Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực.
- Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.
* Phòng và trị bệnh:
- Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên
mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.
- Phòng bằng vaccine.
6.5 Bệnh tụ huyết trùng
6.6 Bệnh E. Coli
* Nguyên nhân: Do vi khuẩn Gram âm Escherichia coli gây ra ở gà con và gà đẻ.
* Triệu chứng:
- Gà con mới nở: rốn viêm, ướt, có màu xanh. Bụng sưng to, lòng đỏ không
tiêu, tiêu chảy.
- Gà con từ 1-5 tuần tuổi: sốt cao, uống nhiều nước, khó thở, viêm kết mạc mắt,
một số con bị viêm khớp.
- Gà đẻ: giảm tỷ lệ đẻ, gà kém ăn, gầy ốm, một số con có dấu hiệu viêm khớp.
* Bệnh tích:
- Viêm màng bao tim, viêm màng bụng, viêm màng quanh gan làm cho bao tim
đục.
- Viêm túi khí, viêm phổi.
-Trên gà đẻ: viêm ống dẫn trứng, gan và lách sưng to và xung huyết.
* Phòng bệnh:
- Định kỳ sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, nước uống bằng 1 trong 2
chế phẩm PIVIDINE hoặc ANTIVIRUS-FMB
- Sử dụng kháng sinh T.S.C Vita: 2g/1 lít nước uống hoặc GENTA-
SEPTRYL: 1g/1 lít nước uống để phòng bệnh.
-Tăng cường sức đề kháng, chống stress bằng ELECTROLYTE-C: 1g/1 lít
nước uống hoặc B.COMPLEX-C: 5g/1kg thức ăn.
* Điều trị:
-Sử dụng T.S.C Vita: 4g/1 lít nước uống hoặc GENTA-SEPTRYL: 2g/1 lít
nước uống để điều trị.
- Kết hợp bổ sung ELECTROLYTE-C: 1g/1 lít nước uống hoặc
B.COMPLEX-C: 5g/1kg thức ăn tăng sức kháng bệnh, mau hồi phục sức khỏe sau
khi điều trị.
6.7 Bệnh hô hấp mãn tính (CRD)
* Nguyên nhân: Bệnh gây bởi vi khuẩn Gram âm Mycoplasma gallisepticum
* Triệu chứng:
- Thời gian ủ bệnh từ 6-21 ngày.
Sulfamides chỉ có 3 nhóm kháng sinh Tetracyclines, Macrolides và Quinolone có hiệu
lực với Mycoplasma. Cả 3 nhóm kháng sinh trên có trong các chế phẩm sau:
+C.R.D: 1g/1,5 lít nước uống.
+DOXY-COLI: 1,5g/1lít nước uống.
+E.T.S-PLUS: 1,5g/1lít nước uống
* Điều trị:
-Sử dụng 1 trong 3 chế phẩm sau để điều trị bệnh:
+C.R.D: 2g/1,5 lít nước uống.
+DOXY-COLI: 3g/1lít nước uống.
+E.T.S-PLUS: 3g/1lít nước uống
- Để tăng hiệu quả điều trị nên bổ sung thêm Bromhexine giúp long đàm có
trong 2 sản phẩm sau:
+SG.BROMHEXINE-C: 1 g/1lít nước uống.
+BROMHEXINE: 1 viên (8g)/8 lít nước uống.
- Kết hợp cung cấp vitamin ADE.B.Complex-C: 1 g/1lít nước uống hoặc
AMILYTE: 1 g/2 lít nước uống để tăng cường sức đề kháng, phục hồi sức khỏe.
-Tăng mật độ thông thoáng, giảm bớt mật độ nuôi
11
Phần II: QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂN NUÔI VỊT
I. Giới thiệu một số giống vịt phổ biến ở Phú Yên.
1.Vịt cỏ
Vịt Cỏ là giống vịt hướng trứng có tầm vóc nhỏ, khối lượng khi trưởng thành
đạt 1,4 - 1,5 kg/con. Vịt có nhiều màu sắc lông, tập trung thành 4 nhóm màu chính:
màu cánh sẻ, màu xám hồng, màu xám đá và màu trắng (Lê Xuân Đồng và CTV -
1984). Năng suất trứng điều tra trên vịt Cỏ tự nhiên hiện nay biến động từ 180 - 200
quả/mái/năm.
Trống
Mái
2 Vịt Khali Campbell
Vịt Khali Campbell là giống vịt chuyên chứng được tạo ra ở Anh vào năm
200W cho 75 vịt con và 140 vịt con cho 1m
2
chụp sưởi. Những nơi không có điện cần
sưởi ấm bằng đèn, nước nóng, bếp trấu, bếp than nhưng phải hạn chế khí CO
2
.
3. Ẩm độ không khí
Ẩm độ thích hợp nhất cho vịt con là 60 - 70%, vào mùa mưa độ ẩm cao trong
không khí rất cao 80 - 90%, nhiều lúc lên tới 100%, ẩm độ cao, chuồng ướt, dễ gây
cho vịt con cảm nhiễm bệnh rất nguy hiểm. Khi độ ẩm cao cần hạ thấp mật độ vịt
con/m
2
nền chuồng, đảo và cho thêm chất độn khô hàng ngày để giữ cho vịt được ấm
chân và sạch lông.
4. Mật độ chuồng nuôi
Giai đoạn tuổi
Hình thức nuôi
Mật độ tối đa ( con/m
2)
1- 10 ngày tuổi
Chuồng không sân chơi
32
11 - 21 ngày tuổi
Chuồng có sân chơi
18
22 - 56 ngày tuổi
Nuôi nhốt
6
5. Chế độ chiếu sáng
- Trong tuần thứ 1 đến tuần thứ 2 chiếu sáng 24/24 giờ, sau đó là 18/24 giờ.
22 %; năng lượng trao đổi: 2.800 - 2.900 kcal.
Nhu cầu lượng thức ăn hàng ngày cho vịt như sau :
Ngày tuổi
Thức ăn (gr/con/ngày)
Ngày tuổi
Thức ăn (gr/con/ngày)
1
3,5
11
38,5
2
7,0
12
42,0
3
10,5
13
45,5
4
14,0
14
49,0
5
17,5
15
52,5
6
21,0
16
56,0
- Kỹ thuật cho ăn:
Trước khi cho vịt ăn phải dọn máng, quét bỏ những thức ăn thừa, hôi, thối và
mốc, cho vịt ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh rơi vãi và ôi chua, tách những con
nhỏ cho ăn riêng để vịt được đều.
8. Kiểm tra đàn vịt
Trạng thái đàn vịt cho phép ta đánh giá về sức khoẻ của nó :
- Vịt con phân tán đều khắp chuồng chứng tỏ đàn vịt khoẻ mạnh, thoải mái,
nhiệt độ trong chuồng đạt yêu cầu.
- Vịt con dồn đống là do lạnh, nhiệt độ chuồng nuôi thấp.
- Vịt con nằm há mỏ và cánh dơ lên là do nhiệt độ chuồng nuôi quá cao.
- Vịt không chơi hoặc nằm ở khu vực nhất định là chắc chắn có gió lùa.
- Vịt bị bết dính là do chuồng ẩm, chế độ nuôi dưỡng kém.
Kiểm tra sức khoẻ đàn vịt hàng ngày:
- Những con vịt ốm yếu cần loại ngay ra khỏi đàn.
- Khi đàn vịt biếng ăn, biếng uống, phân thay đổi phải báo ngay cho thú y xử lý.
III. NUÔI VỊT HẬU BỊ
Giai đoạn hậu bị là giai đoạn từ 57 ngày tuổi đến khi bắt đầu đẻ, trong suốt thời
gian này vịt phát triển dưới điều kiện tự nhiên. Vịt nuôi thức ăn hạn chế, cả số lượng
và chất lượng làm sao đạt trọng lượng ở mức yêu cầu giống để đảm bảo có năng suất
đẻ trứng cao trong giai đoạn sinh sản. Vịt trống và mái được nuôi chung một đàn.
1. Điều kiện khí hậu
Vịt đòi hỏi điều kiện khí hậu không ngặt ngèo. Cần lưu ý trong thời gian thay
lông, vịt mẫn cảm với nhiệt độ thấp và mưa, do đó chuồng nuôi phải sạch và khô ráo,
mùa hè có bóng râm cho vịt tránh nắng.
2. Bố trí sân chơi
Tốt nhất sân chơi cho vịt hậu bị là bãi cát, bãi cỏ, có thể là sân gạch hoặc bê
tông. Bề mặt sân nhẵn để tránh những xây xát ở gan bàn chân, tạo cho nấm xâm nhập
15
vào cơ thể. Trước khi sử dụng nên dọn sạch sẽ và tiêu độc, sân chơi phải được quét
dọn thường xuyên.
nước, dọc sân chơi nên có cây bóng mát để chắn gió và che nắng. Song song với
chuồng nuôi là máng uống có tấm ngăn tránh vịt vào bơi. Nếu sử dụng mương bơi thì
phải thường xuyên thay nước để giữ cho nước sạch.
3. Mật độ
Đối với chuồng có sân chơi mật độ từ 3 - 4 con/m
2
là phù hợp. Nếu mật độ cao
quá làm giảm năng suất đẻ trứng và tiểu khí hậu chuồng nuôi xấu đi. Nhưng nếu mật
độ thấp sẽ không kinh tế khi sử dụng chuồng trại.
16
4. Ánh sáng và chế độ chiếu sáng
Cung cấp đủ 17 – 18 giờ chiếu sáng mỗi ngày trong suốt giai đoạn vịt đẻ. Thời
gian chiếu sáng không đảm bảo sẽ làm giảm năng suất trứng. Cường độ chiếu sáng: 1
bóng điện 75w cho 25 m
2
chuồng.
5. Cung cấp nước
Hàng ngày phải thay nước uống 2 lần, đảm bảo đủ nước sạch cho vịt uống. Nếu
nuôi chăn thả hàng ngày vào buổi sáng, buổi trưa và chiều tối nên để cho vịt bơi ở
những ao hồ có nước trong, sạch để vịt uống nước, giao phối và làm sạch bộ lông.
Mùa hè cần che máng uống nước tránh để vịt uống nước nóng.
Nhu cầu nước uống phụ thuộc vào khả năng đẻ trứng, nhu cầu hàng ngày từ
600 - 750 ml/con/ngày.
6. Thức ăn và chế độ cho ăn
Thức ăn phải phù hợp với sức đẻ trứng của vịt. Mức nhu cầu cho mỗi kg thức
ăn của vịt đẻ: Prôtêin thô: 17%, năng lượng: 2.800 kcal.
Chuyển từ thức ăn vịt hậu bị sang thức ăn vịt đẻ được tiến hành 2 tuần trước khi
vịt đẻ và tăng lượng thức ăn lên 10% khi vịt đẻ quả trứng đầu tiên. Tăng lượng thức
ăn lên 15 % khi đàn đẻ 5 %, sau đó tăng dần lượng thức ăn sao cho 7 ngày sau trở đi
vịt ăn tự do theo nhu cầu ở ban ngày. Máng ăn phải để trong chuồng tránh mưa và
ao, hố tù đọng, nước giếng có hàm lượng sắt cao.
1.3. Vệ sinh sau từng đợt chăn nuôi
Vịt ốm yếu cần loại ngay ra khỏi đàn, xác vịt chết cần phải đưa ngay ra khỏi
khu vực chăn nuôi và xử lý tuỳ từng loại bệnh.
Chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi được cọ rửa sạch sẽ và khử trùng tiêu độc để
chuẩn bị đợt chăn nuôi tiếp, để trống chuồng 7 - 15 ngày.
Thực hiện tiêm phòng và dùng thuốc phòng bắt buộc theo quy trình phòng
bệnh.
Thực hiện nghiêm ngặt việc phun thuốc khử trùng định kỳ trong chuồng nuôi
và khu vực trang trại, gia trại 1 - 2 lần /tuần. Tuân thủ nghiêm túc các vấn đề về an
toàn sinh học cho trang trại và cho người ra vào khu vực chăn nuôi.
1.4. Xử lý chất thải và vịt chết
Không sử dụng chất thải và phân của vịt khi chưa được xử lý.
Nước thải, nước rửa chuồng trại chăn nuôi gia cầm theo hệ thống mương tiêu
thoát về đến hố chứa và phải được xử lý trước khi đưa ra môi trường bên ngoài trang
trại. Phân và chất độn chuồng trong quá trình chăn nuôi được thu gom lại thành đống
ở nơi qui định, xử lý theo phương pháp nhiệt sinh vật sau đó mới được sử dụng cho
trồng trọt.
Xác vịt chết phải tiến hành hủy theo phương pháp thiêu đốt, không nên chôn sẽ
làm bẩn nguồn nước ngầm và ô nhiễm môi trường.
1.5. Phòng hộ cho người chăn nuôi
Người chăn nuôi phải có trang bị bảo hộ lao động cần thiết trong quá trình chăn
nuôi, bao gồm quần áo, ủng, mũ, găng tay, khẩu trang. Các trang bị bảo hộ lao động
chỉ dùng riêng trong khu chăn nuôi, hàng tuần thay, giặt, khử trùng.
Người chăn nuôi khi ra vào khu vực chăn nuôi phải tắm, thay quần áo, vệ sinh
an toàn dịch bệnh. Thường xuyên khám, kiểm tra đảm bảo an toàn sức khoẻ.
18
2. Lịch phòng bệnh và tiêm phòng
Lịch phòng bệnh và tiêm phòng cho vịt:
Ngày tuổi
nước, suy yếu, xù lông, chảy nước mắt, nước mũi, tiêu chảy phân xanh có nhiều nước.
- Vịt liệt, xã cánh, gục đầu, suy yếu khi bắt buộc phải đi thì di chuyển bằng
cách lắc đầu, cổ và người.
- Vịt thịt 2-7 tuần tuổi thì mất nước, gầy ốm, mỏ xanh, lổ huyệt nhuộm máu
* Bệnh tích:
- Xuất huyết điểm dày đặc khắp cơ thể. Xuất huyết, tụ máu, chảy máu ở trên và
trong cơ tim, ruột , màng treo ruột.
- Nội mạc và van tim xuất huyết. Gan, tụy, thận xuất huyết điểm.
- Vịt đẻ: những nang ở buồng trứng xuất huyết, mất màu, biến dạng. Ống dẫn
trứng xung huyết, xuất huyết và hoại tử.
- Lòng ống ruột, dạ dày cơ đầy máu. Cơ thắt giữa dạ dày tuyến và thực quản
xuất huyết thành vòng.
- Dạ dày tuyến xuất huyết.
- Viêm ruột, xuất huyết hình nhẫn.
- Gan hoại tử bằng đầu đinh ghim
19
* Biện pháp phòng chống
- Đây là bệnh do virus, biện pháp tốt nhất để hạn chế là phòng bệnh, không có
thuốc đặc trị.
- Những vịt bị bệnh nên tách riêng ra và tiến hành phòng bệnh cho toàn đàn
bằng vaccin.
- Đối với vịt đẻ bị bệnh thì nên loại thải.
- Khi môi trường thủy sinh nhiễm mầm bệnh thì không thả vịt, cách ly với môi
trường bệnh.
- Định kỳ vệ sinh sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, môi trường thủy
sinh bằng 1 trong 2 loại chế phẩm PIVIDINE hoặc ANTIVIRUS-FMB
- Bổ sung vitamin B.COMPLEX-C: 5g/1kg thức ăn hoặc ELECTROLYTE:
1g/2 lít nước uống giúp tăng sức kháng bệnh, chống stress khi môi trường thay đổi