Một số món ăn kiêng kỵ nhau
Để bữa ăn gia đình vừa ngon vừa đảm bảo sức khỏe thì việc lựa chọn thực phẩm là điều
không thể coi nhẹ. Một số thực phẩm kỵ nhau mà nhiều người trong chúng ta không để
ý đến.Trong quá trình hấp thu và chuyển hóa, giữa các thành phần của thức ăn luôn có
những tương tác rất phức tạp. Chúng có thể "hợp đồng tác chiến" (chẳng hạn vitamin A
giúp tăng cường sự tổng hợp các chất đạm, vitamin C xúc tiến quá trình hấp thụ sắt)
kiềm chế lẫn nhau (chất này cản trở sự hấp thu và chuyển hóa chất kia). Hậu quả của sự
phối hợp không hợp lý các thức ăn sẽ trở thành gánh nặng đối với cơ thể. Khi gánh
nặng đó vượt quá khả năng tự điều chỉnh, cơ thể sẽ bị trúng độc.
Một số món ăn kỵ nhau:
1. Không nên xào nấu gan lợn với giá đỗ.
Các nhà khoa học phân tích 100g gan lợn thấy có 2,5mg đồng và trong giá đậu có nhiều
vitamin C. Nếu ta xào lẫn hoặc ăn gan lợn với giá đậu cùng một lúc hoặc trong thời gian
gần nhau sẽ làm vitamin C bị oxy hoá. Kết quả giá đậu thành chất bã sẽ không còn chất
bổ.
2. Không nấu gan động vật với carốt, rau cần
Không nên dùng các loại rau, củ, quả này sau khi ăn món gan động vật. Lý do là trong
gan động vật, hàm lượng đồng, sắt và một số nguyên tố kim loại khác khá cao. Các ion
kim loại rất dễ làm cho vitamin C có trong loại rau, củ, quả này bị ôxy hóa và mất hết
công hiệu. Ngoài ra loại rau, củ, quả này chứa nhiều chất cellulose và acid oxalic ảnh
hưởng tới sự hấp thụ sắt của cơ thể.
3. Không ăn dưa chuột với cà chua.
Vì trong dưa chuột chứa một loại men phân giải VitaminC, khi ăn dưa chuột với Cà
chua hay những loại thực phẩm giàu VitaminC sẽ không tốt vì làm giảm khả năng hấp
thụ Vitamin C của cơ thể.
4. Sữa đậu nành và trứng gà:
Sữa này có men protidaza kiềm chế các protein trong trứng gà, cản trở tiêu hóa, gây khó
tiêu, đầy bụng.
5. Sữa bò và nước hoa quả chua (Cam, quýt):
Sữa bò chứa nhiều protein, trong đó chất cazeine chiếm tới 80%. Khi sữa bò pha lẫn
hoặc uống cùng với nước trái cây chua sẽ làm cho chất cazeine kết dính, lắng đọng lại
dạ dày tiết ra axít, tác dụng với chất chát tanin trong quả hồng, gây viêm loét và chảy
máu dạ dày.
14. Thịt chó không nên ăn với tỏi (vì sẽ gây khó tiêu).
15. Cá chép kỵ thịt cầy:
Cá chép chứa nhiều hoạt chất sinh học, thịt cầy cũng với thành phần dinh dưỡng phong
phú, hai thứ ăn chung xảy ra phản ứng hóa học phức tạp, sản sinh ra chất có hại cho cơ
thể.
16. Bí rợ kỵ cải thìa:
Bí rợ chứa enzym phân giải vitamin C, khi ăn chung với cải thìa sẽ làm giá trị dinh
dưỡng của cải thìa.
17. Muối tiêu và khoai môn (nếu ăn cùng dễ làm ruột đau thắt). Chuối hột thì kỵ mật
mía, đường (ăn cùng lúc bị chướng bụng).
18. Dưa hấu và thịt dê (ăn cùng dễ trúng độc).
19. Hoa quả nhiều axit tanic với hải sản kỵ nhau:
Các loại quả có tính axit tanic như ổi, hồng, nho nếu ăn cùng hải sản sẽ khó tiêu hóa,
gây đau bụng, buồn nôn.
20. Cà chua kỵ khoai lang, khoai tây:
Cà chua chứa nhiều chất toan, cùng với khoai lang trong dạ dày sẽ hình thành chất khó
tiêu, rất dễ dẫn đến đau bụng; tiêu chảy và rối loạn tiêu hóa.
21. Cà chua kỵ rượu:
Cà chua chứa acid tannic, có thể hình thành chất khó tiêu trong dạ dày, gây tắc nghẽn
đường ruột.
23. Đậu hũ (tào phớ) kỵ hành:
Đậu hủ chứa nhiều calci, hành chứa acid oxalic, hai thứ ăn chung sẽ tạo kết tủa oxalac
calci, không dễ tiêu hóa hấp thu, có hại cho cơ thể.
24. Đào lông kỵ thịt ba ba:
Thịt ba ba chứa nhiều đạm, đào lông chứa nhiều acid malic, acid này sẽ làm cho đạm bị
biến chất, làm giảm giá trị dinh dưỡng, cho nên, thịt ba ba không thích hợp ăn chung
với đào.
25. Tiêu muối kỵ chè - cháo:
Mật ong , sữa , sữa đậu nành ?
Ăn cùng tắc tử - phải đành xa nhau!
Gan lợn, giá, đậu nực cười?
Xào chung, mất sạch bổ tươi ban đầu!
Thịt gà, kinh giới kỵ nhau?
Ăn cùng một lúc, ngứa đầu phát điên!
Thịt dê, ngộ độc do đâu?
Chỉ vì dưa hấu, xen vào bữa ăn!
Ba ba ăn với dền, sam
Bụng đau quằn quại, khó toàn vẹn thân!
Động kinh, chứng bệnh rành rành?
Là do thịt lợn, rang chung ấu Tầu!
Chuối hột ăn với mật, đường?
Bụng phình, dạ trướng, dọc đường phân
rơi!
Thịt gà, rau cải có câu?
Âm dương, khí huyết thoát vào hư vô!
Trứng vịt, lẫn tỏi, than ôi?
Ăn vào chắc chết, mười mươi rõ ràng!
Cải thìa, thịt chó xào vô?
Ăn vào, đi tả, hôn mê khôn lường!
Sữa bò, cam, quýt, bưởi, chanh?
Ăn cùng một lúc, liên thanh sấm rền!
Quả lê, thịt ngỗng thường thường?
Ăn vào cơ thể đùng đùng sốt cao!
Đường đen pha sữa đậu nành?
Đau bụng, tháo dạ, hoành hành suốt đêm!
Thịt rắn, kị củ cải xào?
Ăn vào, sao thoát lưỡi đao tử thần!
Nôn mửa, bụng dạ không yên?
Để bổ sung axít folic, bạn có thể bổ sung bằng cách uống. Tuy nhiên, tốt nhất là bạn
nên tiêu thụ các lọai thực phẩm giàu axít folic gồm rau xanh, các loại đậu…
2. Vitamin B12
Vitamin B12 giúp duy trì sức khỏe của các tế bào thần kinh não, kích thích cơ thể gia
tăng sản xuất myelin- bao bọc các dây thần kinh nhằm chống lại các xung điện của não.
Điều này rất quan trọng, vì nhiều vấn đề sức khỏe tâm thần phát sinh từ sự suy giảm của
các tế bào thần kinh do thiếu các màng bọc myelin bảo vệ.
Nghiên cứu cho thấy, khi cơ thể được bổ sung đầy đủ vitamin B12 không chỉ giúp cải
thiện tình trạng trầm cảm, tăng sự tỉnh táo, mà còn có tác dụng ngừa mất trí nhớ và tăng
cường sức mạnh não bộ. Vitamin B12 có trong các loại thịt gia cầm, cá, thịt heo và thịt
bò.
3. Vitamin C
Vitamin C là một trong những chất chống oxy hóa phổ biến và có tác dụng giúp cải
thiện hiệu suất tổng thể não bộ. Bạn có thể tìm thấy vitamin C trong nhiều loại trái cây
và rau quả, đặc biệt là các loại trái cây thuộc họ cam quýt và các loại đậu.
4. Vitamin E
Vitamin E là chất chống oxy hóa mạnh, có tác dụng giúp bảo vệ các tế bào não và dây
thần kinh trước các nguy cơ tiềm tàng. Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, khi bổ sung
đủ lượng vitamin E trong chế độ ăn uống hàng ngày sẽ làm chậm sự tiến triển của bệnh
Alzheimer, thậm chí có thể giúp ngăn ngừa hoàn toàn. Trên thực tế, rất nhiều chứng rối
loạn não có thể được phòng ngừa đơn giản bằng cách bảo vệ não bộ từ các chất chống
oxy hóa.
Bạn có thể tìm thấy vitamin E trong các loại rau lá xanh, các loại hạt, ngũ cốc và khoai
lang. Ngoài ra, bạn cũng có thể cung cấp vitamin E bằng cách sử dụng nguồn bổ sung. Acid Amin - Tổng quan
Hiện nay, không chỉ người bệnh mới khỏi, người bị suy nhược do làm việc nhiều do ăn
uống thiếu cân đối, trẻ em đang lớn phát triển chậm có nhu cầu sử dụng thuốc bổ mà
đặc biệt gây yếu cơ (vì vậy, có hẳn chế phẩm chứa L-carnitin để giúp khắc phục tình
trạng thiếu L-carnitin).
Ða số các chất bổ dưỡng được dùng làm thuốc bổ đều có ở thiên nhiên. Nếu hàng ngày
ta ăn uống với chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân bằng thì không sợ thiếu vitamin, chất
khoáng, kể cả các acid amin thiết yếu kể trên.
Hiện trên thị trường gần đây đã xuất hiện nhiều loại thuốc có chứa Lysine, trong đó có
Lyvitol dạng uống. Nhân sâm
Nhân sâm (Panax Ginseng) là một vị thuốc quý của Y học cổ truyền (YHCT) mà các
tác dụng dược lý như: tăng lực, tăng trí nhớ, bảo vệ cơ thể chống stress, bảo vệ và tác
động lên hệ miễn dịch giúp chống viêm, bảo vệ tế bào chống lão hóa, tăng sức đề kháng
cho cơ thể,…đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu chứng minh.
Phạm vi chuyên khảo ngắn này có tính cách tổng hợp lại từ các huyền thoại về Nhân
sâm của YHCT đến các nghiên cứu và kinh nghiệm ứng dụng Nhân sâm trong điều trị.
Đại cương
YHCT xếp Sâm là vị thuốc đứng đầu trong các vị thuốc bổ. Có nhiều loại sâm:
Nhân sâm (Panax Ginseng – Araliaceae): được mô tả sớm nhất, theo lịch sử YHCT của
Trung Quốc từ 3000 năm trước Công nguyên, Nhân sâm đã được nói đến như là một
thần dược trong “Thần nông bản thảo” của vua Thần Nông.
Nhân sâm là loại củ có hình dáng giống hình người, nên một số vị thuốc khác có hình
dáng tương tự cũng được gọi là Sâm, và hơn thế nữa nhân sâm là một vị thuốc bổ, nên
các vị thuốc khác có tác dụng bổ cũng được gọi là Sâm. Để phân biệt thường người ta
gọi thêm tên địa phương hoặc màu sắc vào như:
Đảng sâm (Codonopis sp. Campanulaceae): mọc và sản xuất ở Thượng Đảng.
Huyền sâm (Sorophularia Miq. Scrophulariaceae): có màu đen.
Đan sâm (Salviae multiorrhizae Lapiataceae): có màu đỏ.
Bố chính sâm (Hibicus sagittifolius Malvaceae): mọc và sản xuất ở Bố Trạch.
Sa sâm (Launae pinnatifida Compositae/Adenophora verticulata): “sa” là cát, sâm này
đêm tân hôn. Dược liệu này đem đến sinh lực. (Tôn Tư Mạo, thế kỷ thứ VII, nghiên cứu
về Phụ Khoa).
5 loại Sâm dùng để trị bệnh cho 5 tạng trong cơ thể là:
Nhân Sâm bổ Tỳ.
Sa Sâm bổ phế.
Huyền Sâm (hay nguyên sâm) bổ Thận.
Đan Sâm (hay Xích-Huyết Sâm) bổ Tâm.
Quyền Sâm (hay Tử Sâm) bổ Can
Theo các nước khác
Ngoài Trung Quốc, nhiều nước khác cũng có Sâm như : Ấn Độ, Triều Tiên, Nhât Bản,
vùng Viễn Đông Nga, vùng Bắc Mỹ (Hoa Kỳ), nhưng nổi tiếng nhất vẫn là Sâm Triều
Tiên và Trung Quốc. Tại triều Tiên, Khai Thành là nơi trồng nhiều Nhân Sâm nhất và
đã có hơn 200 năm kinh nghiệm trồng và sử dụng Nhân sâm. Tại Triều Tiên người ta
phân ra 2 loại HỒNG SÂM và BẠCH SÂM, mỗi loại có nhiều hạng tốt xấu khác nhau:
Hồng sâm: là loại củ sâm to (nặng ít nhất 37g) đã qua bào chế sao tẩm với các phụ gia
cũng là thuốc Bắc rồi đem chưng cách thủy và sấy khô đóng vào hộp gỗ.
Bạch sâm: Là loại sâm không đủ tiêu chuẩn để chế Hồng sâm. Sâm này khô và trắng,
chỉ dùng dao tre cạo sạch vỏ mỏng sau đó phơi khô rồi đóng vào hộp giấy.
Tại Việt Nam:
Có nhiều dược thảo có tên Sâm được sử dụng từ rất lâu đời, nhưng với nhiều công dụng
khác nhau như:
Bố Chính Sâm: mọc ở Phú Yên. Hải Thượng Lãn Oâng dùng phối hợp với thuốc khác
để trị ho, sốt, gầy mòn. Hiện nay dùng làm thuốc bổ khí, thông tiểu tiện, hạ sốt.
Sâm Cau: mọc nhiều dưới tán rừng xanh Lạng Sơn, Hòa Bình đến Đồng Nai. Có tác
dụng bổ Thận, tráng Dương, dùng để chữa nam giới tinh lạnh, liệt dương, phụ nữ bạch
đới, người già tiểu són,…
Sâm Đại Hành: mọc hoang ở khắp nơi trên đất nước ta, thường được dùng để trị ho,
đinh nhọt, lở ngứa ngoài da, chốc đầu, tổ đĩa,…
Sâm Hoàn Dương: mọc nhiều ở vùng núi cao nguyên nước ta, dùng để trị viêm phế
quản phổi, mụn nhọt, ho, tắc tia sữa,…
Nồng độ Nhân sâm thấp có tác dụng co bóp tim mạch và số lần co bóp tăng.
Nồng độ càng cao: tác dụng ức chế tim càng mạnh và hạ huyết áp. Do đó kết luận Nhân
sâm có 2 hướng tác dụng lên hệ thần kinh thực vật:
Liều nhỏ có tác dụng như thần kinh giao cảm.
Liều lớn có tác dụng như thần kinh đối giao cảm (thần kinh phế vị)
Tác dụng đối với sức chống đỡ bệnh tật
Các nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ) Daugolnilov (1950 – 1952), Brekhman và
Phrumentov (1956 – 1957) cho biết Nhân sâm có tác dụng tăng sức đề kháng của động
vật đối với bệnh Tật.
Kích thích hệ thống miễn dịch làm gia tăng số lượng bạch cầu, đại thực bào và
Interferon giúp cơ thể chống vi trùng và siêu vi.
Tác dụng bảo vệ cơ thể
Giảm lượng cholesterol máu, giảm LDL-cholesterol và tăng HDL-cholesterol, giãn nở
các động mạch giúp cho sự tuần hoàn khỏi bị đình trệ tắc nghẽn, giảm nguy cơ các bệnh
lý tim mạch.
Hỗ trợ gan giúp gan giải các chất độc như rượu,…
Ngăn ngừa và bảo vệ tế bào tránh sự hủy hoại của các tia xạ, tia X quang,…
Giúp chống lão hóa cơ thể, lão hóa tế bào.
Tác dụng đối với stress
Nhân sâm có tác dụng bảo vệ không làm thay đổi trọng lượng tuyến thượng thận, lách
và tuyến giáp của chuột trong quá trình chịu đựng stress thực nghiệm. Nhân sâm có tác
dụng hỗ trợ cho sự tổng hợp các Glucocorticoides và Mineralocorticoides trong tuyến
thượng thận. Sử dụng liều nhỏ Nhân sâm kéo dài giúp cho chuột cống và chuột nhắt
trắng gia tăng khả năng chịu đựng sự kích thích của sự thay đổi nhiệt độ thật nóng và
thật lạnh liên tục.
Tác dụng đối với chuyển hóa
Nhân sâm có tác dụng gia tăng sự tổng hợp protein và acid nucleic. Trong thực nghiệm
nó làm gia tăng hoạt động của RNA polymerase trong nhân của tế bào gan chuột.
Các tác giả Trung Quốc và Nhật Bản cũng đều xác nhận rằng Nhân sâm có tác dụng hạ
đường huyết cả trên thực nghiệm và lâm sàng.
Biểu hiện thiếu Vitamin
Các nhà y học trên thế giới qua nghiên cứu đã chứng minh: Trẻ con trong quá trình phát
dục có thể xuất hiện các hành vi khác thường, có trường hợp là do thiếu Vitamin gây
nên.
Khi thiếu Vitamin A, trước hết là trẻ có những biểu hiện hành vi như không thiết gì ăn
uống, người cồn cào nôn nóng không yên hoặc thèm ngủ suốt v.v khi thiếu nghiêm
trọng, sẽ dẫn tới chứng bệnh mắt quáng gà. Khi thiếu Vitamin B1 (Torulin), thời kỳ
đầu trẻ có những biểu hiện như ăn uống giảm sút, tâm tư tình cảm không ổn định, tư
tưởng không tập trung, trẻ nhỏ hay quấy khóc, hờn dỗi, hay nằm mộng, hay hoài nghi
Nếu thiếu nghiêm trọng sẽ sinh phù chân, co giật khi thiếu Vitamin B trẻ thường xuất
hiện khả năng hoạt động và sức chú ý giảm sút, bất an, dễ bị kích động, học tập có trở
ngại, chậm lớn nếu bị thiếu nghiêm trọng, sẽ phát sinh viêm khoé mép (chốc mép),
viêm lưỡi. Khi thiếu Vitamin PP có thể làm cho trẻ bị bệnh da cóc (bark favus), cũng
có thể sinh ra các triệu chứng như tai ù, bị ảo giác, sức nhớ giảm sút nhiều, người phiền
muộn, luôn cảm thấy căng thẳng. Khi thiếu Vitamin B6, trẻ xuất hiện các triệu chứng
quấy khóc đêm, người luôn nôn nóng, sốt ruột, ngủ chập chờn, giấc ngủ không sâu,
buồn nôn, nôn mửa, thậm chí bị chứng phong rút, bị động kinh. Khi thiếu Vitamin
B12, đầu tiên thấy trẻ biểu hiện các triệu chứng khác thường về mặt tinh thần, tâm tư
tình cảm, tỏ ra đờ đẫn, ít khóc, ít cựa quậy và hoạt động, phản ứng rất chậm chạp, chỉ
thích ngủ, chân tay cựa quậy quờ quạng một cách vô ý thức, đầu, thân mình và tay chân
luôn lắc lư run rẩy, cuối cùng gây nên thiếu máu. Khi thiếu Vitamin D, trẻ có những
biểu hiện khác thường như mồ hôi ra nhiều, ngủ không tốt, sợ hãi nhút nhát về đêm,
tập trung kém, hay quên. Thực phẩm giàu vitamin B12 có trong gan, thịt bò, trứng, pho
mát, sữa, thận.
Thiếu vitamin C: Nướu rǎng dễ bị chảy máu, trầm uất, tụ máu trên da, đau khớp, long
rǎng, chậm lành vết thương. Có thể tìm nguồn vitamin bổ sung ở chanh, cam, cà chua,
khoai tây hoa cải.
Thiếu vitamin D: Cảm giác nóng ở họng, miệng, ra mồ hôi nhiều, tiêu chảy, mất ngủ,
cǎng thẳng. Thực phẩm giàu vitamin D là dầu gan cá, cá thu, cá hồi, cá trích và các ấn
phẩm làm từ sữa.
Thiếu vitamin E: Biểu hiện qua phản xạ lệch lạc, tâm tính thất thường, mắt chuyển
động thiếu nhịp nhàng, khô da, phồng nơi bàn chân. Vitamin E có thể tìm thấy trong lúa
mì, dầu cải, lá cải xanh, đậu nành, ngũ cốc các loại.
Thiếu vitamin K: Biểu hiện chảy máu mũi, trục trặc trong việc đông máu ở vết thương,
tiêu chảy. Các thực phẩm có thể bổ sung nguồn vitamin K là đậu nành, dầu gan cá, sữa
chua, lòng đỏ trứng, lá cải xanh.