Nhân cách cán bộ lao động - Pdf 14


1
chương i: những cơ sở của tâm lý học nhân cách

1.Một số thành tựu về tâm lý học nhân cách
1.1. Tư tưởng Phương Đông cổ đại về nhân cách.
* Thiên - địa - nhân hợp nhất
Nhân cách là trời, đất và người hợp thành một. Về cơ bản con người mang
những thuộc tính vũ trụ. Học thuyết cổ đại phương Đông cho rằng thế giới là do
năm loại vật chất cơ bản tạo thành: mộc, thủy ,hỏa , kim, thủy. Sự phát triển về
biến hóa của các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên (trong đó có con người) đều là
kết quả của năm loại vật chất khác nhau vận động và tác động lẫn nhau. Học thuyết
ngũ hành được vận dụng rộng rãi trong các lĩnh vực của khoa học và đời sống.
Ngũ hành có những đặc tính nhất định, như:
- Mộc có đặc tính là mọc lên và phát triển
- Hỏa có đặc tính nóng, hướng lên trên
- Thổ có đặc tính nuôi lớn, phát dục
- Kim có đặc tính thanh tĩnh, thu sát.
- Thủy có đặc tính lạnh lẽo, lắng xuống dưới.
Ngũ hành đều có âm dương. Sự phối hợp âm dương ngũ hành tạo ra đặc tính
riêng. Âm dương ngũ hành là loại vật chất vô cùng tinh vi, chúng ta chưa thể biết
về nó. Người xưa muốn biết tác dụng của âm dương ngũ hành đã dùng cách sắp
xếp thiên can địa chỉ của giờ, ngày, tháng, năm sinh của con người – nó là thứ
giao biến của đời người, chứa chất nhiều kịch tính phong phú mang tính chất dự
báo cho tương lai của con người và cộng đồng. Âm dương cũng thể hiện trong tâm
lý của con người. Căn cứ vào đó, người ta chia thành các loại người như : người
dương tạng, người âm tạng, người mệnh kim, người mệnh hỏa, mệnh thổ, mộc,
thủy. Như vậy, để dự đoán được tâm lý người và hoạt động của con người sẽ diễn
ra như thế nào, cần phải xác định được thành phần các hành trong mỗi người. Từ
đó đổi ra âm dương ngũ hành. Cách nhận biết của nhân cách con người Phương
Đông dựa vào âm dương ngũ hành là một tiêu chí cần được nghiên cứu một cách

trúc nhân cách con người gồm: Cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi, tương ứng với vô
thức, ý thức và siêu thức.
Khối vô thức là khối bản năng, trong đó bản năng tình dục giữ vị trí trung
tâm. Khối vô thức (id) là thùng năng lượng tâm thần chất chứa những khát vọng
bản năng sôi sục. Hoạt động của “cái ấy” theo nguyên tắc khoái cảm đòi hỏi sự
thoả mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng. Vô thức là cái ngấm ngầm điều
khiển, điều chỉnh hành vi con người.
Khối ý thức tương đương với cái “tôi” (ego). Cái tôi được hình thành do áp
lực thực tại bên ngoài đến toàn bộ khối bản năng. Nó đảm bảo các chức năng tâm
lý như chú ý, trí nhớ…Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại. Nhiệm vụ
của cái tôi là làm cho cái ấy thoả mãn mà không làm tổn hại đến cơ thể, làm giảm
sự căng thẳng một cách tốt nhất.
Siêu tôi (superego): Siêu tôi là tổ chức bên trong bao gồm tất cả phạm trù xã
hội, đạo đức, nghệ thuật, giáo dục. Siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt.
Cả ba khối này hoạt động theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương
đối.Ba khối này luôn luôn xung đột với nhau, sự xung đột này là cơ chế của hoạt
động tâm thần.
Từ quan niệm như trên S.Phơrơt nêu ra cơ chế hoạt động tâm lý của con
người. Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ
chế suy thoái.
Trong thế kỉ XXI. Học thuyết Freud được nghiên cứu sâu với phương pháp
mới: do đó cách hiểu ba khối trong cấu trúc nhân cách cũng có sự biến đổi:
+ “Cái tôi”: cái tôi riêng nhất của mỗi chúng ta thực sự là một chủ thể và
cũng có thể là khách thể. Lương tâm là một vùng đặc biệt được tách ra từ cái tôi.
Lương tâm là một trong những chức năng của vùng này. Trong “cái tôi” có quá
trình tổng hợp khái quát và thống nhất, tức là có tư duy. Hơn thế nữa nét đặc trưng
của “cái tôi” là đam mê , là cả ý lành mạnh, thiện chí nữa. Như thế là “cái tôi” chỉ
ra cả một niềm suy nghĩ, hứng thú, tình cảm, tức là nội dung của thái độ của con
người đối với cái này hay cái kia, ở trong ta hoặc ở ngoài ta.
+ “Caí siêu tôi” là tự quan sát, lương tâm và chức năng lý tưởng. Nó mang

của S.Phơrơt đã tách ra thành phân tâm học mới.
- Phân tâm học mới về nhân cách
+ K.Jung (1879 - 1961) Ông là người phát triển học thuyết Freud theo một
hướng mới. Ông phê phán lập trường của Freud về vô thức. Ông cho rằng hành vi
con người được điều chỉnh bằng vô thức và cả ý thức. Đó là quá trình điều chỉnh
tổng hợp, là một hệ thống tự điều chỉnh. Ông cho rằng con người có vô thức đạo
đức bẩm sinh. Các hoạt động của con người có tính chất bản năng và tạo thành vô
thức tập thể. Điều đó được thể hiện trong nền văn hoá dân tộc cũng như trong nghệ
thuật. Ông cho rằng có vô thức tập thể bởi vì mỗi người đều tiềm tàng trong mình
một di sản tinh thần được truyền từ nhiều thế hệ trong một nền văn hoá dân tộc và
nền văn minh nhân loại. Chính vì vậy, hình thức phản ứng của mỗi cá nhân cũng
giống nhau. Jung không thừa nhận bản năng tình dục là quyết định tâm lý con
người như S.Phơrơt quan niệm, nhưng ông lại thừa nhận trong con người có vô
thức. Vì vậy, bản chất học thuyết của Jung vẫn là học thuyết phân tâm được cải
biến thành học thuyết phân tâm học mới. Trong cấu trúc nhân cách của Jung, cái
tôi là trung tâm của ý thức. Nhân cách là mẹ của ý thức. Vô thức là mẹ của tâm lý
tập thể và tâm lý cá nhân. Quan điểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận
nhân cách tầng sâu. Lý luận nhân cách tầng sâu xuất phát từ quan niệm vô thức.
Vô thức được xác định bằng những sự kiện của hành vi. Đó là những bản năng trực
tiếp và bản năng tức thời. Lý luận nhân cách tầng sâu là một khám phá mới về vô

4
thức. Song điều này chưa đủ để nói lên bộ mặt nhân cách con người. Nhân cách
con người còn thể hiện những phẩm chất cũng như bộ mặt đạo đức trong nó.

+ A. Atle (1870 - 1937) là nhà tâm lý học người Áo. Ông cho rằng tất cả hành vi
của con người đều chịu ảnh hưởng xã hội. Nhân cách thống nhất với hoàn cảnh và
môi trường xã hội. Ông vẫn cho vô thức bản năng hay năng lượng tâm hồn là
những cơ chế của tính tích cực, xung đột và bảo vệ. Theo ông, con người luôn
muốn hơn người khác, khi có nhược điểm trong lĩnh vực này lại siêu đẳng trong

phái này là K.Lêvin. Nếu như hầu hết các nhà tâm lý học Gestal quan tâm đến vấn
đề tri giác, tư duy thì K.Lêvin lại quan tâm đến vấn đề động cơ, nhân cách và tâm
lý học xã hội. Ông đưa ra thuyết trường tâm lý, con người luôn luôn tồn tại trong
một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó. Ông quan tâm đến tiên trị âm và tiên trị
dương trong cùng một không gian sống. Tiên trị dương là nhằm thoả mãn những
nhu cầu nào đó của cá nhân (như kẹo với đứa trẻ). Các khái niệm “trường tâm lý”,
“không gian sống” thể hiện một phương pháp mới miêu tả hành vi hiện thực của

5
nhân cách. Về thuyết “trường tâm lý”, ông cho rằng thế giới xung quanh ta là thế
giới của các sự vật và có những tiến tự nhất định. Vì vậy, con người luôn luôn tồn
tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó. Bằng thực nghiệm ông đã
chứng minh sự có mặt của trường tâm lý và tiên tự của sự việc. Khái niệm “không
gian sống” Lêvin đưa ra nhằm giải thích hành vi của nhân cách, không gian sống
bao gồm cả trường tâm lý. Ông cho rằng, nếu ta biết rõ về không gian sống của con
người; có những thông tin về người ấy thì có thể dự đoán hành vi của người ấy. Lý
luận và các công trình thực nghiệm của Lêvin về không gian sống đã đưa ông
chiếm một vị trí cao trong tâm lý học nhân cách. Các khái niệm “trường tâm lý”,
“không gian sống” thể hiện một phương pháp mới miêu tả hành vi hiện thực của
nhân cách. Ông đã khám phá động lực của mối quan hệ cá nhân và hoàn cảnh, nhu
cầu, nguyện vọng. Ông đã sơ đồ hoá các khái niệm tâm lý bằng trường không gian,
địa thế, véctơ.
Tuy vậy, lý luận về trường không gian sống cũng có những khó khăn mà không thể
giải quyết được. Ví dụ ta không thể biết được cấu trúc và không gian sống của một
con người. Hoàn cảnh con người sống luôn thay đổi, do đó không gian sống cũng
thay đổi. Vì vậy, nếu dựa vào không gian sống thì khó đánh giá được nhân cách
con người.
Quan điểm của K.Lêvin là quan điểm trường phái Gestal mang cấu trúc trọn
vẹn. Nhân cách được xét trong hoàn cảnh, trong nhóm, nhưng những quy định về
chính trị, kinh tế đối với hành vi nhân cách không được ông để ý đến một cách

chia ra năm loại nhu cầu theo thứ tự từ thấp đến cao và nếu nhu cầu cấp thấp
không thoả mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể thực hiện được.
Nhu cầu cấp cao:
- Nhu cầu thực tiễn
- Nhu cầu được thực hiện
- Nhu cầu yêu thương, lệ thuộc
Nhu cầu cấp thấp:
- Nhu cầu an toàn
- Nhu cầu sinh lý
H.Matxlâu cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người. Những
nhu cầu như giao tiếp, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng đặc trưng

cho
giống người. Các nhu cầu đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định. Chính vì vậy, học
thuyết nhu cầu của Matxlâu có quan điểm giống học thuyết của S.Phơrơt.
1.3. Cách tiếp cận vấn đề nhân cách của các nhà tâm lý học Xô Viết.
1.3.1. Quan niệm của Lêonchiep về nhân các
h
.
A.N.Lêônchiep (1903 - 1979) là nhà tâm lý học Nga kiệt xuất. Về mặt nhân
cách, ông cũng có những quan điểm mới mẻ.
Leonchiep coi nhân cách như một cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong
các quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó. Khái
niệm nhân cách thể hiện tính chỉnh thể của chủ thể cuộc sống. Nhân cách là một
cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn. Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự
phát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hoá cá thể của con người. Sự hình thành
nhân cách là một quá trình riêng không trùng khớp với quá trình biến đổi các thuộc
tính tự nhiên của cá thể. Những quá trình thần kinh của cá nhân sẽ không biến
thành những thuộc tính nhân cách, mặc dù quá trình thần kinh sẽ không thiếu được
trong quá trình hình thành nhân cách.

1.3.2. Quan nim ca Rubinstờin v nhõn cỏch.
Trong cỏc cụng trỡnh nghiờn cu ca mỡnh, Rubinstein i t cỏc phm trự
tinh thn, ý thc, ch th n phm trự nhõn cỏch, coi nhõn cỏch l cỏc tri
nghim v i vo vn hỡnh thnh v phỏt trin nhõn cỏch trong hot ng.
Rubinstein ó nhn mnh tớnh cht sc thự ca riờng tng nhõn cỏch, núi lờn xu
hng riờng ca ngi y, bao gm ý hng, ý mun ca tng ngi, nng lc ca
tng ngi, bn tớnh ca nú. Ni dung ny gn lin vi cỏi gi l ý thc ca ch
th v cỏc thỏi : thỏi i vi th gii xung quanh, thỏi i vi ngi khỏc
v thỏi i vi bn thõn. Rubinstờin coi nhõn cỏch l b mỏy iu chnh ton b
h thng thõn th con ngi núi chung, gn lin vi khỏi nim ng i.
Rubinstein i t mt nhn xột trit hc cho rng ton b tõm lý hc ngi
c coi l tõm lý hc nhõn cỏch, coi tt c cỏc hin tng tõm lý c mụ t trong
tõm lý hc i cng u din ra trong nhõn cỏch v u ph thuc vo s phỏt
trin ca nhõn cỏch. Nhõn cỏch õy c hiu l cỏc c im cỏ th riờng tng
ngi. Nhõn cỏch cng c hiu l kh nng con ngi iu khin cỏc quỏ trỡnh
hay thuc tớnh tõm lý ca bn thõn, hng chỳng vo gii quyt cỏc nhim v t
ra cho bn thõn. T ú mun hiu nhõn cỏch l gỡ phi xem con ngi mang nhõn
cỏch y cú xu hng gỡ, cú kh nng ỏp ng mong mun ú khụng, vn ngha
v ý ca cuc i, ca tng cụng vic. T õy, Rubinstein n rt gn vi cỏch tip
cn ca Uznatze v nhõn cỏch, tc l ụng thy trong nhõn cỏch cú cỏc thnh phn
gi l hng thỳ, s am mờ, tõm th to nờn cỏc xu hng, lý tng ca nhõn cỏch.
Nh vy, Rubinstein ó ch ra cho chỳng ta thy quỏ trỡnh hỡnh thnh ý thc v thỏi
nh l hai thnh t to nờn nhõn cỏch. ễng ó ch ra rng nghiờn cu nhõn cỏch
l nghiờn cu t ý thc ca nhõn cỏch, nghiờn cu cỏi tụi nh l ch th nm ly
tt c cỏi gỡ con ngi lm ra, cú trỏch nhim ca bn thõn i vi tt c cỏc sn
phm vt cht m mỡnh to ra. Rubinstein cng ó núi n nhõn cỏch nh l b mt
ca tng ngi, núi lờn lp trng th gii quan ca ngi y.

2. Các đặc điểm cơ bản của nhân cách.
2.1. Tính ổn định của nhân cách.

đóng góp giá trị của mình cho xã hội.
3. CÊu tróc tâm lý cña nh©n c¸ch.
Nhân cách có tính lịch sử và tính giai cấp, do đó quan niệm về cấu trúc của
nhân cách có thay đổi theo thời gian khác nhau. Trước đây đă có nhiều quan niệm
khác nhau về cấu trúc của nhân cách .
Các quan niệm đều đúng với các thời kỳ lịch sử nhất định, đến nay xã hội
đã có nhiều thay đổi và nhiều tiến bộ mới, nên quan niệm về cấu trúc nhân cách
trước đây, có cái không còn hoàn toàn đúng, xong cũng có nhiều cái còn được kế
thừa.
Quan niệm một cách tổng quát nhất về cấu trúc nhân cách là quan niệm của
chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác nói : “ Có tài mà không có đức thì cũng vô dụng, có
đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Như vậy, làm người phải có đủ tài
và đức, để trở thành một con người chân chính thì phải rèn đức, luyện tài.
Một cách gọi khác cũng tương đương với tài và đức là phẩm chất và năng
lực. Cấu trúc nhân cách con người là sự tổng hoà các phẩm chất và các năng lực.
- Làm người cần phải có các phẩm chất sau:
- Các phẩm chất chính trị, đạo đức: Thế giới quan khoa học, niềm tin tưởng
lạc quan, lư tưởng cho cuộc sống,lập trường, quan điểm chính trị vững vàng, lương
tâm nghề nghịêp, có tính tích cực
Các phẩm chất cá nhân: Nhân hậu, khiêm tốn, thật thà, tự trọng.

9
Cỏc phm cht ý chớ : Cú mc tiờu phn u, cú tinh thn c lp, t ch, t
cng , t kim ch, quyt oỏn, dng cm, t tin, kiờn trỡ
Tỏc phong, cung cỏch ng x: Lch s, cụng bng, tụn trng ngi khỏc.
- Nng lc cỏ nhõn cn phi cú l:
Nng lc chung: Thụng minh, thỏo vỏt, cú nng lc quan sỏt.
Nng lc chuyờn bit: Phi cú nng lc chuyờn sõu ( gii ) v mt lnh vc,
hay mt ngh nghip no ú .
Nng lc giao tip: Kh nng ng i nhanh, d gõy thin cm vi mi

- L phng phỏp nghiờn cu nhõn cỏch thụng qua vic lm thc t ca i
tng trong khi tin hnh cỏc cụng vic c th ca tp th.
4.4.Phơng pháp trắc nghiệm tự nhiên.
- L phng phỏp nghiờn cu nhõn cỏch bng cỏch to ra cỏc iu kin,
hon cnh khỏc thng nm i tng y , sõu sc hn.

10
Ch¬ng II: Nh÷ng khÝa c¹nh T©m lý – s ph¹m trong viÖc tæ chøc lao
®éng cho con ngêi

1.Nh÷ng khÝa c¹nh t©m lý trong viÖc tæ chøc lao ®éng cho con ngêi
1.1. T©m lý cña qu¸ tr×nh lao ®éng
.
1.2. VÊn ®Ò kÝch thÝch lao ®éng.
Theo C.Mác, mục đích của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là thoả mãn ngày
càng đầy đủ hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng của bản thân
người lao động. V.I. Lênin cũng khẳng định :”Nền sản xuất xã hội chủ nghĩa nhằm
mục đích thoả mãn nhu cầu cho người lao động và đảm bảo hạnh phúc trọn vẹn
cho mọi thành viên trong xã hội và tạo điều kiện để giúp họ phát triển tự do và toàn
diện, đảm bảo bình đẳng xã hội, gắn liền giữa hạnh phúc và tự do của người lao
động. Để đạt được mục đích đó thì phải không ngừng nâng cao năng suất lao động,
hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là
thường xuyên áp dụng và hoàn thiện các biện pháp kích thích vật chất và tinh thần
đối với người lao động.
Do đó nội dung của kích thích lao động là :
-Kích thích về vật chất
-Kích thích về tinh thần
Kích thích về vật chất đối với người lao động đó là những kích thích về mặt
tài chính. Kích thích vật chất bao gồm : kích thích vật chất trực tiếp và kích thích
vật chất gián tiếp.

chúng ta phải biết được những nhu cầu, ước muốn, mong ước của người lao động
đối với công việc và trong cuộc sống.
Nhu cầu là những đòi hỏi, mong ước của con người xuất phát từ những
nguyên nhân khác nhau (tâm lý, xã hội) nhằm đạt được mục đích nhất định.
Nhu cầu của con người gồm có :
- nhu cầu vật chất
- nhu cầu tinh thần.
Nhà quản lý muốn kích thích người lao động thì trước hết phải tìm hiểu
những nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần nhân viên của họ, từ đó có biện pháp
làm thoả mãn những nhu cầu đó. Nhưng nhu cầu của con người thì vô cùng và mỗi
khi nhu cầu được thoả mãn thì lại xuất hiện những nhu cầu mới. Do đó, ta phải
chọn thoả mãn nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau có như vậy mới tạo được động
lực cho người lao động hăng hái lao động. Những nhu cầu vật chất thì ta phải sử
dụng những kích thích vật chất đó chính là tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi. . .
Nâng cao vai trò kích thích vật chất của tiền lương, xác định đúng đắn mối
quan hệ trực tiếp giữa thu nhập với cống hiến. Tiền lương của doanh nghiệp phải
đảm bảo những nguyên tắc sau:
- Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động.
- Tiền lương phải thực hiện phân phối theo lao động chống chủ nghĩa
bình quân
- Tiền lương phải là động lực kích thích người lao động hăng say lao động
sản xuất
Các nhà QLGD phải điều chỉnh tiền lương của phù hợp sao cho không quá
thấp mức sống trung bình của người lao động. Nhà nước phải điều chỉnh tăng tiền
lương tối thiểu để phù hợp với tốc độ lạm phát ngày càng tăng.
Bên cạnh tiền lương phải kết hợp với các hình thức tiền thưởng như : thưởng
hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, thưởng tiết kiệm vật tư nguyên liệu,
thưởng sản xuất nhiều sản phẩm có chất lượng cao. . .
Biện pháp kích thích tinh thần người lao động :
Yêu cầu của phương pháp này là phải xây dựng được một hệ thống đồng

nguồn lực con người trong cơ qun tổ chức đó sẽ được sử dụng có hiệu quả nhất,
nhưng đó phải là sự kết hợp của cả hai biện pháp. Nếu người lãnh đạo quản lí chỉ
áp dụng đơn lẻ một biện pháp là khuyến khích vế vật chất hoặc khuyến khích về
tinh thần thì sẽ không đạt được mục tiêu quản lý đề ra. Bởi lẽ, nhu cầu của con
người bao gồm cả nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Khi nền kinh tế xã
hội càng phát triển thì nhu cầu về tinh thần càng được coi trọng. Nhà quản lý biết
nắm bắt xu thế này mà đề ra chính sách quản trị nhân sự cho hợp lý, đánh đúng vào
sở thích và nhu cầu cấp thiết của người lao động.
Với sự cần thiết của kích thích lao động, như vậy nó đã tạo nên những ý
nghĩa rất quan trọng .
Đối với phòng quản lý tổ chức lao động :làm các hoạt động của công tác
tuyển dụng tuyển chọn tốt hơn, công tác phân công, hiệp tác lao động đạt hiệu quả
hơn quản lý lao động thuận lợi .
Vì những lẽ đó mà kích thích lao động trở thành nhu cầu không thể thiếu
đối với người lao động. Nếu cơ quan tổ chức nào không làm tốt công tác kích thích
lao động thì chắc chắn rằng nhân sự trong cơ quan tổ chức đó sẽ dần trở nên rệu rã
không có hứng thú làm việc làm hao phí nguồn lực.

-Kích thích tinh thần:Khen, tuyên dương
- Động cơ bên trong của hoạt động: thõa mãn nhu cầu và tình cảm của con
người.
2. Những đặc điểm của hoạt động lao động quản lý.
2.1. Phân loại hoạt động lao động quản lý và đặc điểm của nó.
Là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp của các
lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lí thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa
phối hợp các khâu và các cấp quản lý hoạt động nhịp nhàng đem lại hiệu quả quản
lí cao. Trong hoạt động quản lí, mắt xích trung tâm là ra quyết định. Cho nên có
thể quy tụ hoạt động quản lí ở ba dạng:

13

+ Tính chất cá nhân ra quyết định
+ Sự tác động qua lại của những người tham gia vào quá trình ra quyết định
+ Sự tiếp nhận quyết định bởi những người thừa hành
+ Những hậu quả của quyết định.
Những khía cạnh tâm lí đó cho thấy:
+ Người lãnh đạo đang gặp những khó khăn gì trong quá trình tư duy?
Người đó đang trải qua những cảm xúc và tình cảm nào? Người đó dùng ý chí
mình ra sao?
Có những khác biệt cá nhân của tư duy trong quá trình ra quyết định. Người
lãnh đạo cần đánh giá đúng hành động của mình, bố trí khéo léo con người, giúp
câp dưới cân nhắc thực hiện quyết định của thủ trưởng.
+ Xây dựng mối quan hệ qua lại trong nội bộ tập thể khi ra quyết định, đảm
bảo sự thống nhất tư tưởng và hành động, khuyến khích đóng góp của từng người
trong quyết định.

14
+ Chỳ ý xem mi ngi s chp nhn quyt nh ra sao? S iu hũa hot
ng ca ngi di quyn ra sao?
+ Vic thc hin quyt inh cú nh hng gỡ n trớ tu, tỡnh cm v ý chớ
ca ngi tha hnh?
2.1.3 Hot ng t chc ca ngi lónh o v c im ca nú.

Theo ngha hp hot ng t chc l hot ng c trng ca ngi lónh
o hon thnh chng trỡnh qun lý theo theo tng nhim v c th:
- Trỡnh by quyt nh di hỡnh thc quan nim v hiu bit ca ngi
khỏc.
- Truyn t cú hng mc ớch cho nhiu ngi khỏc bt thụng tin qun lý,
ng thi xỏc nh phn h tham gia vo hot ng phi hp.
- Bo m gõy tỏc ng qun lý cn v i vi mi ngi y mnh
cỏc kh nng ch quan ca tng ngi thc hin v kh nng ca h tp trung vo

15
+ Biện pháp thực hiện:
- Ra sức quán triệt chủ nghĩa Mac- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục, thực hiện đường lối, nhiệm vụ cách mạng của nước ta về tư tưởng, văn hoá,
giáo dục do Đảng và nhà nước đã đề ra.
- Coi trọng giáo dục thế giới quan chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối – chính sách của Đảng và nhà nước, giáo dục đạo đức và lối
sống có văn hoá, theo pháp luật thông qua toàn bộ nội dung học nội khoá cũng như
ngoại khoá.
- Phải đảm bảo ý nghĩa chính trị- xã hội, tác dụng giáo dục tư tưởng và đạo
đức của các loại hình hoạt động xã hội và các mối quan hệ mà đối tương lao động
tham gia, luôn chú ý xây dựng cho người lao động những định hướng, tư tưởng và
động cơ đúng đắn để tích cực tham gia các hoạt động, các mối quan hệ xã hội
nhằm tự giác rèn luyện bản thân theo mục đích giáo dục.
3.3.1.2. Nguyên tắc : Giáo dục trong lao động.
+ Nội dung: Công tác giáo dục phải thông qua việc tổ chức cho đối tượng
lao động tham gia các loại hình lao động vừa sức, nhờ đó mà hình thành cho họ:
- Thái độ kính trọng người lao động.
- Thừa nhận giá trị lớn lao của lao động.
- Xây dựng cho họ niềm tin sâu sắc rằng chỉ có tham gia vào việc sản xuất
những giá trị vật chất cho xã hội, họ mới có quyền thoả mãn một số đòi hỏi của
bản thân, và bằng lao động của mình họ cần phải sáng tạo nhiều phúc lợi vật chất
hơn so với những cái mà họ được hưởng.
- Hình thành cho họ lối sống cần cù, giản dị, tiết kiệm, trong sạch.
- Có thái độ đúng đắn đối với tài sản xã hội.
+ Biện pháp thực hiện:
- Phải kết hợp giáo dục lao động với việc giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo
đức, lối sống, văn hoá.

16

thân thể con người, chống mọi tư tưởng coi khinh con người, có những hành động
xúc phạm đến thân thể con người.
- Tôn trọng không có nghĩa là tôn trọng cái hư, cái xấu của con người.
+) Đòi hỏi cao và hợp lý đối với người lao đông là:
- Biết đòi hỏi họ có những cố gắng hơn, tích cực hơn.
- Biết đề ra những tiêu chuẩn, những mục tiêu phấn đấu hợp lý, vừa sức,
ngày càng được nâng cao để thúc đẩy họ không ngừng vươn lên.
- Có thái độ nghiêm khắc, đúng mức đối với những thiếu xót, sai lầm của họ,
song không vì thế mà có thái độ gay gắt, mệnh lệnh hoặc mỉa mai, nhạo báng họ.
- Có thái độ đúng mức, tế nhị, có lý, có tình, nghiêm mà không khắt khe, dân
chủ mà không xuế xoà.
+ Biện pháp: Nhà giáo dục cần phải:
- Luôn luôn tìm tòi và phát hiện kịp thời những ý nghĩ và hành động tích cực
mới xuất hiện, những mầm mống tốt đẹp vừa mới biểu hiện trong nhân cách của
học sinh để ra sức chăm sóc, vun xới.
- Cần dựa vào những mặt tốt, mặt tích cực trong nhân cách của họ để khắc
phục cái tiêu cực, cái yếu kém trong họ.
- Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa người giáo dục và người được giáo dục
với nhau trên cơ sở tôn trọng, tin cậy lẫn nhau.
- Cần biết đánh giá đối tượng giáo dục cao hơn một chút so với cái họ đang
có.
- Cần khắc phục tình trạng định kiến, bi quan, thiếu tin tưởng vào khả năng
phát triển, hoàn thiện nhân cách, đồng thời cũng phải khắc phục hiện tượng nuông
chiều, buông thả, tự do chủ nghĩa.
3.2.Phương pháp giáo dục
Là cách thức tác động qua lại giữa nhà GD và người được GD, trong đó nhà
GD giữ vai trò chủ đạo nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ GD đã đề ra.

18
3.2.1.Phương pháp thuyết phục: là phương pháp do chủ thể quản lí sử dụng

19
+ Hướng dẫn hợp đồng với đối tượng bằng chính sách lương , chia lợi nhuận,
sử dụng các định mức, các đòn bẩy kinh tế.
+ Điều chỉnh hoạt động của đối tượng bằng các chế độ thưởng, phạt, vật chất,
gắn bó trách nhiệm với vật chất với các hoạt động của đối tượng.
3.2.3. Phương pháp hành chính tổ chức.
Là cách thức tác động của chủ thể đến đối tượng bằng quan hệ tổ chức và quyền
lực hành chính.
- Cơ sở của phương pháp: Các quy luật tổ chức; bất kì một hệ thống quản lí
nào cũng có mối quan hệ tổ chức, có quan hệ quyền uy và phục tùng, quan
hệ cá nhân và tổ chức.
- Đặc điểm của phương pháp:
+ Đây là phương pháp cưỡng bức đơn phương, một bên ra quyết định, một bên
phục tùng.
+ Mức độ cưỡng bức tùy theo tính chất của từng bộ máy, giúp cho các quyết
định quản lí được thực thi nhanh chóng và chính xác.
- Cách thức thực hiện:
+ Tác động về mặt tổ chức: Ban hành các quy định, quy ước để có cơ sở điều
chỉnh hành vi của đối tượng.
+ Tác động điều chỉnh bằng các mệnh lệnh khi bộ máy có sự cố.
3.2.4.Phương pháp tâm lí- giáo dục
- Nội dung của phương pháp: Là cách thức tác động của chủ thể đến đối tượng
quản lí thông qua đời sống tâm lí cá nhân: tâm tư, tình cảm, nguyện vọng…của
họ.
Nhà quản lí sử dụng các tác động tâm lí nhằm khai thác tiềm năng con người,
kích thích ý thức tự giác, sự say mê của con người để họ chủ động sáng tạo
trong hoạt động của mình.
- Cơ sở của phương pháp: Các chức năng và quy luật tâm lí của con người.

20

nhiệm có tính chuyên môn. Điều này dẫn đến những hệ quả tất yếu sau:
- Lao động quản lí là một nghề. Mà đã là một nghề thì phải học để nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lí.
- Nhà quản lí phải hoạt động không những bằng sức lực mà còn bằng trí tuệ,
bằng trình độ nắm vững và vận dụng thành thạo các quy luật về quản lí xã hội nói

21
chung, các quy luật quản lí đặc thù do lĩnh vực hạt động quy định ( như quy luật
giáo dục, quy luật quản lí giáo dục…) và các quy luật liên quan khác.
- Thành quả lao động quản lí là một loại sản phẩm, sản phẩm đặc biệt của
nhà quản lí. Sản phẩm này phải đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu của “khách hàng”
( giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, xã hội…). Nghĩa là những người dưới
quyền và nói rộng ra là toàn xã hội có quyền đòi hỏi các nhà quản lí phải thực hiện
tốt và có hiệu quả lao động quản lí mà ông ta được phân công.
Trong điều kiện toàn ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới giáo dục, giáo
dục đang từng bước hội nhập vào khu vực và thế giới, sự hợp tác quốc tế về giáo
dục ngày càng mở rộng, quản lí giáo dục ngày càng có vai trò quan trọng.Tiềm
năng của ngành giáo dục rất lớn, có thể nói tỉ lệ tri thức làm việc trong ngành
cao,do đó chức năng quản lí trong ngành giáo dục là làm thế nào khơi dậy trí tuệ,
tính sáng tạo, lòng yêu nghề, yêu trẻ của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí nhằm
mục tiêu thực hiện thiên chức vẻ vang được xã hội giao phó.
Giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường là hết sức phức tạp. Bên cạnh
những yếu tố tích cực, nhiều yếu tố tiêu cực, thậm chí phản giáo dục đang hàng
ngày, hàng giờ thâm nhập cản trở hoạt động giáo dục và quản lí giáo dục. Trong
bối cảnh đó, vai trò chức năng quản lí giáo dục ngày càng được đề cao.
3.5. Gi¸o dôc nh©n c¸ch ngêi lao ®éng vµ nh÷ng biÖn ph¸p t©m lý- x· héi
trong viÖc gi¸o dôc nh©n c¸ch ngêi lao ®éng.
3.5.1
. Giáo dục nhân cách người lao động
Muốn giáo dục nhân cách người lao động thì nhà quản lí cần nắm vững các

23
chng iii: c cu hnh vi ca ngi lao ng v nhng nhõn t iu
chnh trong qun lý 1. Vấn đề con ngời trong hệ thống quản lý.
1.1. Con ngời là chủ thể tự quản lý.
- Con ngi úng vai trũ ch o trong h thng qun lớ
- Con ngi va l ch th va l i tng qun lớ
- Khi ngi lónh o iu khin mi ngi thỡ h l ch th qun lớ.Chỡa
khúa giỳp ngi lónh o thnh cụng trong hot ng qun lớ l nhn thc y
cỏc yu t khỏch quan v ch quan cng nh mi tng quan gia chỳng.
- Cỏc yu t ch quan l nhng yu t thuc v ch th qun lớ nh nng lc
qun lớ, phong cỏch qun lớ, nhng phm cht tõm lớ cỏ nhõn liờn quan n hot
ng qun lớ. Nhng yu t khỏch quan tn ti hin thc, khụng ph thuc vo ý
thc con ngi v quyt nh hot ng ca con ngi
- Nu ngi lao ng khụng nhn thc cỏc yu t khỏch quan c th thỡ s
ri vo trng thỏi cc oan. Cỏc quyt nh ca h s mang tớnh cht tựy tin, ch
quan v khụng cú cn c.Mt khỏc nu ngi lao ng quỏ coi trng cỏc yu t
khỏch quan v khụng th hin s tỏc ng tớch cc ca mỡnh thỡ s ri vo ch
ngha nh mnh v mang li tỏc hi ln cho cụng vic.
Nh vy, ngi lao ng phi theo dừi cht ch, tỏc ng kp thi v cú mc
ớch vo h thng qun lớ.Chớnh vỡ võ ngi lónh o bao gi cng phi la chn
phng ỏn ti u. ú l s kt hp gia iu kin khỏch quan v hot ng cú mc
ớch ca con ngi.
Thc cht ca hot ng lao ng v qun lớ l tỏc ng kp thi v cú mc
ớch v phng ỏn ti u kt hp gia iu kin khỏch quan v hot ng ch
quan cú mc ớch ca con ngi, phỏt huy yu t ca con ngi v ly vic phc
vu con ngi lm mc ớch cao nht ca hot ng.
1.2.

được vật (đối tượng ) đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng
dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc
biệt lúc đó như cầu được đối tượng hóa làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra
từ thế giới xung quanh. Chính lúc này nhu cầu có ý nghĩa hướng dẫn hành vi hoạt
động của chủ thể:
Con người là chủ thể của hoạt động, của hành vi. Con người thực hiện: hành vi
nhằm thỏa mãn nhu cầu được ý thức và hành vi này được thực hiện trên những
khách thể nhất định. Muốn hướng con người vào một hành vi nào đó phải nghiên
cứu hệ thống nhu cầu của người đó, giúp họ ý thức được nhu cầu, tạo điều kiện cho
sự gặp gỡ giữa nhu cầu và đối tượng hay nói cách khác là phải tìm cách đối tượng
hóa nhu cầu của chủ thể.
Nhu cầu của con người theo ông Nguyễn Khắc Viện có ba loại cơ bản: nhu cầu vật
chất, nhu cầu xúc cảm và nhu cầu xã hội.
Các nhu cầu vật chất: có liên quan mật thiết đến hoạt động của cơ thể và đôi khi
được mô tả như là các xung năng (drives) sơ cấp hoặc sinh lý. Chẳng hạn như xung
năng tình dục, xu năng đói. Đó là các nhu cầu bẩm sinh. Các nhu cầu vật chất
thông thường ở người là nhu cầu về thực phẩm, phương tiện sinh sống như nước, ô
xy và nhu cầu bài tiết, quần áo và nơi che chở để bảo vệ và giữ cơ thể ấm áp. Nhu
cầu được hoạt động, hoặc được kích thích cảm giác và vận động kể cả khoái cảm,
tình dục, luyện tập thân thể và nghỉ ngơi.
Nhu cầu về cảm xúc: loại nhu cầu này cũng đóng một vai trò quan trọng trong
việc tạo ra động lực cho hành vi và khi cảm xúc bị hẫng hụt thì dẫn đến hậu quả
gây ra các nhiễu loạn trong hành vi (nên chú ý khi ta muốn đề đạt vấn đề gì muốn
được chấp nhận thì phải lựa lúc, lựa lời để tăng hiệu quả). Các nhu cầu chung về
cảm xúc là: Nhu cầu về tình thương yêu của con người, sự tán thành và kính trọng,
nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu về sự xứng đáng, nhu cầu được cần tới và được
người khác mong muốn.
Các nhu cầu xã hội: các nhu cầu xã hội và các cách thỏa mãn các nhu – cầu đó
nảy sinh lừ nền văn hóa hoặc bối cảnh xã hội mà con người là một thành viên. Các
nhu cầu xã hội đan xen với các nhu cầu vật chất và nhu cầu cảm xúc. Những nhu

Thứ hai: Tham, đến mức độ cả tham ý thức bắt đầu lệch lạc và thiếu sáng suốt cho
nên con người hoạt động rất tích cực và. mang tính ích kỷ.
Thứ ba: Đam mê, ở mức độ này nhân cách bị tha hóa hoàn toàn, mất hẳn ý thức,
có nhiều hoạt động thiếu sáng suốt đến mức mất hẳn tính người, hoạt động điên
cuồng, rồ dại và độc ác
Nhu cầu của con người không phải là cái bất di bất dịch mà nó rất năng động, biến
đổi thường xuyên song sự vận động và biến đổi của nhu cầu cũng tuân theo một số
quy luật nhất định.
Quá trình thỏa mãn nhu cầu của con người thông thường trải qua ba giai đoạn hay
ba trạng thái: Lúc chưa được thỏa mãn thì háo hức, mong ước do đó thúc đẩy con
người hoạt động tìm tòi để lấy cân bằng. Muốn điều khiển hành vi của con người
nên đánh vào những nhu cầu đang ở giai đoạn này. Khi đang chiếm lĩnh đối tượng
để thỏa mãn nhu cầu thì con người có trạng thái khoan khoái dễ chịu, ngây ngất
sung sướng. Khi đã lấy được cân bằng, nhu cầu đã được thỏa mãn cực độ bão hòa
thì có tâm trạng chán chường. Lúc này đối tượng mất hết ý nghĩa. Nếu đánh vào
những nhu cầu ở giai đoạn này thì không có ý nghĩa gì. Nhưng nếu có đối tượng
mới sẽ kích thích nhu cầu mới và nhu cầu mới sẽ nổi lên, hoạt động mới sẽ xuất
hiện. Vì vậy nhu cầu con người là bất tận.
Nhu cầu với tư cách là trạng thái có thể có nhiều đối tượng để thỏa mãn cũng như
nhiều con đường để thỏa mãn song chủ thể sẽ chọn đối tượng nào có thể đem lại
lợi ích nhất và tạo nên khoái cảm nhiều nhất cho chủ thể. Đây là một điểm rất đáng

Trích đoạn Phong cỏch lónh đạo của người cỏn bộ quản lớ giỏo dục. Uy tớn của người lónh đạo quản lớ giỏo dục.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status