Nghiên cứu chi tiêu công của quốc gia lafrasia - Pdf 14



TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
  
MÔN TÀI CHÍNH CÔNG

BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Nhóm 6 Lớp Ngân hàng Đêm 2 – K16
Thành phần tham gia
1. Trương Thị Ngọc Mai
2. Đỗ Thị Kim Luyến
3. Cao Như Hồng
4. Nguyễn Thị Thanh Nga
5. Nguyễn Thị Công Uyên
6. Lê Thị Kim Loan


cả nước với khoảng 7 triệu người sinh sống. 40% dân số tập trung ở thủ đơ và 5 tỉnh lớn
khác của Lafrasia. Khoảng 8 triệu người sống trong 10 thành phố nhỏ hơn. Phần cịn lại
rải rác trong các ngơi làng với số lượng từ vài trăm đến vài ngàn người một làng. Khu
vực miền núi cĩ mật độ dân số thưa thớt, chỉ khoảng 250 ngàn người trên diện tích 7 ngàn
dặm vuơng. Khoảng 23% dân số sống dưới mức nghèo khổ. Nhiều người vẫn sống trong
những ngơi làng hoang sơ, tuy nhiên số lượng di cư đến các vùng thành thị ngày càng
tăng, dân nhập cư sống trong các khu nghèo, ổ chuột của thành phố, khơng cĩ sự hỗ trợ
nào từ chính phủ, khơng cĩ những kỹ năng thiết yếu và là nguyên nhân thường xuyên của
các tệ nạn xã hội.

CÁC CHỈ SỐ XÃ HỘI
Lafrasia là nước cĩ thu nhập thuộc hàng trung bình. Tuy nhiên, một số chỉ số xã
hội đã cĩ sự sai lầm cơ bản như chỉ số về y tế, giáo dục và các dịch vụ khác. Bảng 1-1 liệt
kê các chỉ số xã hội cơ bản của Lafrasia và tham chiếu với chỉ số của các nước khác cĩ
cùng điều kiện tương đồng.
Bảng 1-1: Các chỉ số kinh tế của Lafrasia và các quốc gia lân cận từ 1988-1989
Chỉ số Tại Lafrasia TB tại các quốc gia lân cận.
Thu nhập BQ GDP 750 usd 825usd
Tỷ lệ tử vong trẻ em 8% 4.5%
Tỳ lệ tử vong sản phụ 3/1000 1.2/1000
Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng ngừa 58% 87%
Tỷ lệ nhiễm HIV người lớn 10% 11%
Tuổi thọ 55 59
Tỷ lệ trẻ em học tiểu học. 92% 93%
Tỷ lệ trẻ em tốt nghiệp Tiểu học 40% 72%
Tỷ lệ người lớn mù chữ 27% 22%
Số hộ gia đình cĩ điện 35% 25%

1985

1986

1987

1988

1989

1989(USD)

GDP

71,204

99,762

133,982

177,373

225,132

30,018

Tiêu dùng

3,012


ỉ số ti
êu dùng hi
ện tại

10,906

15,814

22,457

30,990

42,767

5,702

Ch
ỉ số ti
êu dùng t
ại thủ đ
ơ

3,788

5,493

7,800

10,764



39,516

5,269

Nh
ập khẩu

-
18,916

-
23,645

-
30,266

-
38,135

-
46,906

-
6,254

GDP đ
ầu ng
ư
ời


41

36

30

28

22

n.a.

Tăng trư
ởng thực tr
ên đ
ầu ng
ư
ời

0.5

1.0

0.3

1.2

1.5


Các tỉnh khơng cĩ sự giám sát độc lập, các chính quyền này như là một bộ phận
quản lý của chính quyền trung ương. Các chính quyền địa phương ở các thành phố và các
địa phương chịu trách nhiệm dự trữ và phân phối nguồn nước, xử lý cống rãnh và chất
thải, dọn dẹp rác thải, quét dọn đuờng xá, thi hành quy định tại địa phương, các chợ cơng
cộng và cơ sở hạ tầng cũng như đảm bảo xây dựng các trường tiểu học. Nơi mà nguồn
vốn cho các trung tâm y tế được cấp bởi chính quyền trung ương thì khơng đủ, chính
quyền địa phương thường từng bước lắp những lỗ hổng này cũng như cấp vốn cho các
dịch vụ cơ bản khác. Nguồn vốn của các hội đồng nhân dân cấp địa phương chủ yếu được
rĩt từ ngân sách TW, nguồn vốn sẽ được bổ sung bằng nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí
nhưng hạn chế (khoảng 15%). Các thành phố lớn hơn cung cấp dịch vụ vận chuyển cơng cộng và chi phí sửa sang một vài bãi đậu xe trong thành phố, các phí tổn bảo dưỡng của
các cơng viên.
CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG
Bao gồm chi phí hoạt động của chính quyền địa phuơng và chính quyền trung
ương chiếm khoảng 19% GDP. Hàng năm chính quyền TW chi tiêu 42.8 tỉ Peso kể cả
phần kinh phí cấp cho các địa phương. Mặc dù dữ liệu về thu nhập và chi phí địa phương
khơng đầy đủ, thơng tin mang tính chất ước lượng rằng tổng thu nhập ở địa phương vào
khoảng 77 triệu Peso mỗi năm. Các mức chi tiêu tổng hợp thì hơi thấp so với tiêu chuẩn
địa phương – Chi tiêu hoạt động tổng hợp của địa phương là 20% GDP của khu vực. Tỉ lệ
phân phối giữa chi phí hoạt động của ngân sách trung ương và các hạng mục chương
trình được liệt kê chi tiết ở bảng 2-1
CHI PHÍ VỐN
Đầu tư cơng ở Lafrasia, kể cả các dự án được viện trợ, chiếm khồng 7% GDP và
60% tổng đầu tư (khu vực cơng và khu vực tư). Mặc dù con số này nghe cĩ vẻ hợp lý, đã
cĩ một sự cân nhắc đáng kể đối với hành động phân chia nguồn vốn hiện tại giữa các khu
vực và sự cân đối thu chi giữa đầu tư cơng và đầu tư ở khu vực tự phục hồi đã rất trì truệ
cụ thể là đối với các tịa nhà cơng cộng (bao gồm các trường học), đường xá, tưới tiêu.
Năng lượng được đầu tư lớn (43% trong tổng đầu tư) bởi vì thủ tướng được yêu cầu phải

Vận tải và thơng tin liên lạc 2,267 5.3
Hàng khơng 642 1.5
Điều hành cảng biển 427 1.0
Xe búyt và đường sắt 385 0.9
Thơng tin liên lạc 470 1.1
Bảo trì đường xá 342 0.8
Tổng cộng 42,767 100

Bảng 2-2 CHI PHÍ VỐN CHO KHU VỰC CƠNG, 1988-1989
Khỏan mục Pesos(triệu) %
Dịch vụ cơng 609 4.1
Quốc phịng 1,857 12.5
Lĩnh vực xã hội 2,629 17.7
Giáo dục-đào tạo 1,129 7.6
Sức khỏe 921 6.2
Văn hĩa 82 1.9
Các dịch vụ xã hội khác 297 2.0 Lĩnh vực kinh tế 9,760 65.7
Tiêu dùng cho nơng nghiệp-và các họat động liên quan

59 0.4
Nước 1,322 8.9
Điện 6,299 42.4
Vận tải và thơng tin liên lạc 2,080 14.0
Hàng khơng 520 3.5
Điều hành cảng biển 327 2.2
Xe búyt và đường sắt 297 2.0
Bảo trì đường xá 787 5.3

chẳng hạn UL 1 năm cứ 100 peso thuộc quỹ trợ cấp của một dự án, chi tiêu ngân sách
hàng năm là 25 peso được yêu cầu cho điều hành và bảo trì đang được quan tâm khi
những dự án mới bắt đầu.
Bài tốn ngân sách cho những năm gần đây là một quá trình thỏa hiệp giũa bộ tài
chính và nguồn trợ cấp để xác định nguồn phân phối chi tiêu. Mối liên hệ giữa ngân sách
và chính sách bị giảm đi bởi quan tâm của bộ tài chính là giảm chi tiêu và nổ lực của quỹ
trợ cấp là việc tăng kiểm sốt ngân sách đầu tư.
Ngân sách hàng năm được chuẩn bị trên nền tảng tiền lời và vết cắt ngang qua
được làm thường xuyên vào giữa năm nếu thu nhập quốc gia cĩ dự tính khơng được cụ
thể hĩa. Kết quả là, việc thực hiện chi tiêu cĩ kế hoạch( ví dụ, thi hành dự án) bị trì hỗn
thường xuyên. Tuy nhiên, những dự án đầu tư cơng thường trải qua những khĩ khăn về
việc thực thi bởi vì thiếu hụt về kỹ thuật và những kỹ năng quản lý……
CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở THÀNH THỊ
Lafrasia đã thấy một sự di chuyển lớn ở các thành phố của nĩ, đặc biệt là thủ đơ.
Phương tiện vận chuyển cơng khơng đầy đủ và hư hỏng. Chỉ khoảng 60% dân số thành
thị (và dưới 1% tại các làng) tiếp cận với nguồn cung cấp nước an tồn, hiệu quả và những
hệ thống phân phối nước cần được sửa chữa. Việc cung cấp nhà ở cịn thiếu trên tồn quốc,
và những khu nhà ổ chuột xuất hiện trên tất cả thành phố chính. Một hậu quả của tình
trạng cĩ quá nhiều nhà ở 1 nơi và sự thiếu hụt nguồn nước và những dịch vụ cải thiện tự
nhiên phải cao hơn tỷ lệ nhiễm dịch bệnh, một vấn đề khá phức tạp do những điều kiện
sức khỏe thành thị khơng đầy đủ. Những tịa nhà, viện bảo tàng, và thư viện cơng cũng
cần duy tu và phục hồi.
NHỮNG CON ĐƯỜNG NHÁNH VÀ QUỐC LỘ Quốc gia cĩ 2600 dặm quốc lộ; 8600 dặm những con đường thứ yếu; và 11000
dặm những con đường nhánh khơng lát đá. Tiền cấp dưỡng và sự phục hồi thứ yếu phải
vượt quá Quỹ hoạt động 342 triệu Peso theo tỷ giá hối đối hiện hành, $US 45.6 triệu –
duy trì 11,200 dặm đường thơ và 11,000 dặm đường phụ. Quỹ nhà nước phải được cấp
cho lao động, vật liệu (phần lớn được nhập khẩu) và xe cộ và thiết bị. Bởi vì đơn hàng

theo kịp và loại trừ sự ùn đống thì khơng đơn thuần là 1 vấn đề quỹ tài trợ mà cịn liên
quan đến vấn đề quản lý. Cán bộ kỹ thuật và quản lý được đào tạo khơng thích đáng và
đặt kế hoạch và ngân sách thì phức tạp hơn vì sự xung đợt gắn liền – phần lớn quỹ tài trợ
đến từ các chính phủ trung tâm nhưng sự chịu trách nhiệm thực hiện cơng việc bảo quản
căn cứ vào cấp tỉnh và địa phương.
SO SÁNH MƠ HÌNH CHI TIÊU
So sánh với các quốc gia khác trong khu vực, chi tiêu của Lafrasia trong hoạt động
phối hợp và ngân sách vốn cho y tế và giáo dục tiểu học xuất hiện khá chậm. Mặc dù
Luật dân chủ 10 năm và liên quan mối quan hệ ổn định với các nước láng giềng, bao gồm
Andaria, sự biện hộ chi tiêu vẫn cao. Tiền trợ cấp cho SOE là sự tiêu hao chính khác
trong ngân sách, như là những số quá mức của người lao động cơng. So sánh số liệu chi
tiêu – sử dụng nhưng những dụng cụ so sánh độ dài các nước láng giềng như sử dụng
trong bảng 1-1 là được thể hiện ở bảng 2-3
THU NHẬP
Thu nhập nội địa đã tăng khoảng 10% trong những năm vừa qua như kết quả của
cải tiến thuế quản lý. Cùng với trợ cấp bên ngồi và khoản nợ, chủ yếu được đánh dấu
bằng dự án chính yếu, ngân sách thiếu hụt đã giảm trong 5 năm từ 40 % cịn khoảng 16%
của hoạt động phối hợp và chi tiêu chính (xấp xỉ 3.7% GDP). Con số này cho thấy được
sự tiến bộ đáng kể, vẫn cĩ thể phục hồi lại được 30 năm của sự hỗn loạn, nhìn vào thể chế
nhiều phía về văn bản thơng báo bên ngồi và hỗ trợ kỹ thuật, tốt như quỹ tài trợ để viện
trợ trong quá trình khĩ khăn của những nguồn rõ ràng và giảm số tiền thiếu hụt. Tuy
nhiên, nhiều vấn đề vẫn cịn được thực hiện cả thuế và các lĩnh vực chi tiêu. Bảng 2-4
cung cấp tổng quát của phần thu nhập của ngân sách trong năm 1989.
CHI PHÍ THU HỒI VÀ TIỀN TRỢ CẤP
Kết quả phụ của sự định rõ vị trí điểm giao nhau quan trọng là chi phí thu hồi của
những con đường một cách đặc biệt, hoạt động lĩnh vực xã hội, và SOE. Chi phí của dịch
vụ trong SOE thì khá thấp, nhưng vẫn là gánh nặng cho mỗi người nghèo. Phần lớn chi
phí cho dịch vụ chăm sĩc sức khoẻ cũng thấp (đặc biệt trong dịch vụ chữa bệnh cho cán
bộ chính phủ) và thường khơng cĩ chi phí. Bộ Giáo dục đã đăng lưu ý chặt chẽ hơn đến


Viễn thơng
27,305
9,370
6,625
5,687
6,623
8,904
672
1,042
1,946
55.3
19.0
13.4
11.5
11.4
18.0
1.4
2.1
3.9 Nước
Giáo dục
Y tế
Khác
Trợ cấp và nợ
Khác
Tổng thu nhập
Tổng chi phí
Thiếu hụt ngân sách

hưởng một phần của các dịch vụ dân sự thay cho tiền lương như các tài xế, tạp vụ cho các
văn phịng cấp cao là ví dụ.
NHỮNG KIẾN NGHỊ CHO VIỆC CẢI CÁCH.
Đã và đang cĩ áp lực rất lớn từ nhiều cơ quan ban ngành và các nước trợ cấp để
giảm tiền lương và nĩ cũng đang giảm như một phần của ngân sách, nhưng người ta thích
giảm lương hơn là giảm số lao động. Đề xuất giảm 10% nhân viên trên mọi lĩnh vực
những người đối lập muốn con số này khơng tính đến những ngành quan trọng ( như
giáo dục tiểu học, trung tâm chăm sĩc sức khỏe và phát triển nơng nghiệp) , đang thiếu nhân lực nghiêm trọng, trong khi những ngành, lĩnh vực khác vẫn cĩ nhiều cơng nhân dư
thừa. Một sự giảm biên chế cĩ chọn thì sẽ tốt hơn.
KỸ NĂNG VÀ HUẤN LUYỆN.
Nhiều lao động tạm thời thì khơng cĩ kỹ năng, họ được thuê để giảm tình trạng
thất nghiệp, nhưng hầu hết họ làm việc khơng cĩ năng suất cao. Họ dùng số tiền lương
nhà nước ít ỏi như là một số tiền chuyển khoản, làmthêm buổi tối của bộ phận tư nhân và
thường khơng làm nhiều thời gian. Thiếu sự quản lý cũng dễ dàng làm cho cơng nhân
nhà nước cĩ thêm cơng việc thứ 2. Thiếu cả nhân viên được đào tạo ( kế tốn, chuyên viên
kinh tế, hành chánh), cơng nhân kỹ thuật lành nghề ( kỹ sư, nhân viên chăm sĩc sức khỏe,
giáo viên cĩ trình độ), thiếu cơ sở vật chất và chương trình đào tạo để giúp phát triển các
kỹ năng. Nhiều người tài giỏi đã rời đất nước trong suốt giai đoạn chính trị độc tài và các
điều kiện hiện tại khơng đủ hấp dẫn để họ quay về phục vụ đất nước. Thêm vào đĩ, việc
thiếu cung cấp và trang bị các thiết bị cần thiết ( như máy tính, máy đánh chữ, thiết bị
thơng tin liên lạc, máy photo) ảnh hưởng đến hiệu quả của việc đào tạo lao động.
TIỀN CƠNG
Cán cân thanh tĩan là vấn đề khĩ khăn, việc thanh tĩan được kiểm sĩat chặt chẽ vì
tính độc lập của nĩ. Lương thật đã giảm vì lượng quy định đã khơng thể giữ chân lạm
phát và cĩ sự tăng lên trong việc sử dụng Perks ( như nhà cửa, xe hơi , tài xế, du lịch nước
ngịai) như vật thay thế cho trả lương những người làm việc ở trình độ cao hơn. Thậm chí
cho phép Perks, các cá nhân được đào tạo tốt và cĩ học thức cao tìm kiếm cơ hội trong

3. KHU VỰC KINH TẾ: NƠNG NGHIỆP VÀ CƠNG NGHIỆP
Ở Lafrasia, 46% GDP bắt nguồn từ nơng lâm ngư nghiệp; 26% là cơng nghiệp(kể
cả cơng nghiệp mỏ); và 18% là dịch vụ. Các sản phẩm để xuất khẩu dựa vào tài nguyên
chính là cacao, đường, và gỗ nhiệt đới.Cấu trúc tổng thể của xuất nhập khẩu được đưa chi
tiết trong bảng 3-1
NƠNG NGHIỆP
Nền kinh tế của Lafrasia cơ bản dựa vào nơng nghiệp. Nơng lâm ngư nghiệp
chiếm khỏang 46% GDP và khỏang 60% tổng lao động.
CACAO
Cacao cung cấp khỏang 48% của tổng doanh thu xuất khẩu và thuế xuất khẩu của
cacao khỏang 30% trong tổng thu thuế của quốc gia. Giá thành sản xuất Cacao của Lafrasian thấp nhất trên thế giới. Tuy nhiên , việc đánh thuế xuất khẩu đã khơng cĩ lợi
cho các nhà sản xuất muốn đạt lợi ích biên. Một sự thu họach xuất khẩu tuyệt vời khi lợi
nhuận biên khá cao.Tuy nhiên, cacao khơng được bảo vệ trong điều kiện thị trường thế
giới và thời tiết xấu. Bởi vì,cacao khơng địi hỏi vị trí địa lý, cacao là một trong những thứ
thu họach cĩ thể làm gia tăng số lượng đáng kể ở vùng cao nguyên, và cần một lượng
mưa thích hợp, nước ngầm phục vụ cho thu họach. Sản lượng cacao xuất khẩu so sánh
với các vụ thu họach nơng nghiệp khác thì cacao khơng địi hỏi sự đầu tư lớn trong kỹ
thuật, tưới đất, hay điện khí hĩa. Đường nhánh và tàu lửa nằm thì khơng tiện nghi. Tuy
nhiên, cần phải cĩ hệ thống vận chuyển tốt hơn để đem cacao ra thị trường và cải tiến các
kho lưu trữ gần cảng. Cần phải trồng nhiều cây và cung cấp các dịch vụ tốt hơn, nhưng
Bộ Nơng Nghiệp lại hạn chế ngân sách, Bộ nơng nghiệp phải cĩ qũy để đầu tư hay tạo cơ
hội phục vụ đối với các nơng dân trồng cacao
Danh mục 1988 1989
Xuất khẩu 30397 39516

Tuy nhỏ nhưng cơng nghiệp gỗ nhiệt đới đã đĩng gĩp khỏang 9% thu nhập xuất
khẩu. Ngành cơng nghiệp cần nước điện, phương tiện vận chuyển, và xe ba gác rất khĩ di
chuyển trên đường, đặc biệt là những con đường khơng lát đá mà chạy từ khu rừng đến
vùng cao nguyên dẫn đến cảng.
Lafrasia nhập khẩu thức ăn bao gồm: ngơ, gạo, dầu, và thức ăn chế biến. Bộ Nơng
nghiệp muốn khuyến khích nơng dân chuyển từ sản xuất mía sang ngũ cốc. đặc biệt đối
với các lọai hoa lợi mới hơn, nhưng quốc gia lại thiếu nguồn tài nguyên rộng lớn và một
hệ thống tốt để chuyển dịch. Thiếu nhân viên chuyên mơn và kho vận chuyển cho các
dịch vụ mở rộng và làm cho nơng dân người mà thích nghiên cứu các phương pháp mới
và đa dạng.
ƯU THẾ TRONG NƠNG NGHIỆP
Với sự gia tăng sản xuất ngũ cốc, Bộ Nơng nghiệp thấy được tiềm năng khi đầu tư
vào các ngành cơng nghiệp hướng ra xuất khẩu. Cơng nghiệp cacao cĩ tiềm năng để phát
triển theo cách truyền thống và các sản phẩm tốt giúp cho người dân đạt tiền lương cao
và thu nhập xuất khẩu lớn. Tuy nhiên, để phát triển cần phải duy trì và phục hồi các con
đường và tàu lửa nằm tốt hơn hết là gia tăng chi phí họat động cho hỗ trợ kỹ thuật. Ngành
cơng nghiệp cacao cũng địi hỏi một chương trình trồng cây tức thời để duy trì doanh thu
trong tương lai. Hiện nay, chính phủ đã phân phối 828 triệu pesos và khỏang 2% ngân sách nhà
nước cho tất cả các chương trình nơng nghiệp, mặc dù vai trị chính của nơng nghiệp
trong GDP, xuất khẩu và nhân cơng. Chi phí chính trong khu vực nơng nghiệp là trợ cấp
cho ngành mía, mở rộng mạng lưới tưới đất, nghiên cứu và mở rộng ngành nơng nghiệp,
chương trình trồng cây cacao và kho lưu trữ. Sự mở rộng ngành nơng nghiệp hầu như
khơng được cung cấp và phương tiện vận chuyển khĩ khăn đến thị trường
CƠNG NGHIỆP
Hai cơng ty kinh doanh đã được thành lập các nhà máy điện tử ở Lafrasia trong 5
năm qua. Những ngành cơng nghiệp lớn như: dệt, lắp ráp tự động, hĩa chất, giấy, thức
uống đĩng chai và ximăng(SOE). Ngành cơng nghiệp xi măng thì ít tiền; chi phí trợ cấp

cho trường tiểu học là khơng được tính vào do thiếu số liệu.
Bảng 4 -1. GIÁO DỤC ĐÀO TẠO: Phân bổ học sinh sinh viên, năm 1988
CHỈ TIÊU SỐ LƯỢNG HS/SV (NGÀN) % ĐƯỢC TUYỂN

Đại học
Thuộc khu vực cơng
Thuộc khu vực tư
115
77
38
2.0
67
33
Trung học
Thuộc khu vực cơng
Thuộc khu vực tư
687
458
229
14
57
43
Tiểu học
Thuộc khu vực cơng
Thuộc khu vực tư
4.800
2.894
1.106
81.8
73

sinh viên ở những trường tư và trường cơng lập tốt hơn mới được nhận vào. Tiền học phí
rất thấp (75 peso cho mỗi quý) và các sinh viên cịn được nhận tiền trợ cấp ăn uống là
phần đã tiêu tốn 1 phần lớn ngân sách nhà nước. Cĩ một nhu cầu rất lớn về chăm sĩc, giáo
viên và cán bộ quản lý đã qua đào tạo cho cả khu vực cơng và khu vực tư nhưng nơi ở để
cung cấp cho tất cả các sinh viên trong các trường đại học là rất hạn chế. Giáo dục đào
tạo bậc cao đẳng đại học và trung học chuyên nghiệp cịn thiếu cơ sơ vật chất, đặc biệt là
cho các chương trình giảng dạy về khoa học kỹ thuật.
Đối với đào tạo hướng nghiệp thì tình hình cịn tồi tệ hơn. Cứ mỗi trong số 5 tỉnh
thì cĩ 1 trường cao đẳng đại học/trung học chuyên nghiệp thuộc quyền quản lý của chính
phú. Tuy nhiên tất cả các trường này đều thiếu nhân sự, thiếu vốn, quá tải và trang thiết bị
khơng đủ dùng và quá lỗi thời. Tuy nhiên hầu hết các trường kỹ thuật đào tạo nghề là của
tư nhân và chi phí cũng khá cao. Vì hầu hết các sinh viên ở các trường đại học thuộc khu
vực cơng đều được tuyển chọn vào các ngành khoa học xã hội hơn là ngành khoa học kỹ
thuật hay Đơng phương học. Các trường tư này cĩ ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp
các chuyên mơn đặc biệt là kỹ năng đĩ là nhu cầu khơng tương thích trong cả 2 khu vực
cơng và tư. Trong 5 trường đại học thuộc khu vực cơng thì lương cho các giảng viên
đang ngày càng thấp dần và việc tăng số lương các nhà quản lý cũng đã làm hạn chế
nguồn vốn đầu tư cho bảo quản, cơ sở vật chất và thiết bị phịng thí nghiệm.
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BẬC TRUNG HỌC
Các trường trung học (từ lớp 8 -12) chỉ được đặt ở các thành phố và làng xã lớn.
Sinh viên được miễn học phí và nhận tiền trợ cấp ăn ở giống như đào tạo ở bậc cao hơn
nhưng lại khơng cĩ đủ chổ ở để cung cấp cho nhiều học sinh muốn được hưởng sự chăm
sĩc này. Phí phải trả để được hưởng lợi ích này hơi cạnh tranh nhưng những sinh viên
thuộc gia đình giàu cĩ thì thường được tự túc. Cĩ 1 số lượng các trường bậc trung học
được điều hành bởi các nhĩm tơn giáo và các tổ chức phi chính phủ (NGOS), nĩ mang lại
nhiều cơ hội cho các học sinh thuộc các tỉnh khơng thể hưởng được nhận vào các trường trung học thuộc khu vực cơng. Các bậc phụ huynh và các nhĩm phái phải gĩp vốn để trang
bị cơ sở vật chất học tập học sinh. Nhiều sinh viên thuộc gia đình nghèo khĩ đã ngưng


GIÁO DỤC CHO NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH.
Cũng cĩ nhu cầu cho chương trình giáo dục cho người trưởng thành để dạy đọc
viết cơ bản, sức khoẻ, kỹ thuật dạy nghề. Hai mươi bảy phần trăm (27%) số người trưởng
thành trong cộng đồng dân cư là mù chữ. Giáo dục cơ bản cho người trưởng thành là
trách nhiệm của chính quyền trung ương, nhưng các quỹ tài trợ đĩng gĩp cho những
chương trình này thì thực sự khơng tương xứng.
Các tổ chức phi chính phủ cố gắng san bằng sự chênh lệch này tại một số khu vực,
nhưng một bộ phận lớn dân cư là nhưng người trưởng thành mù chữ thì vẫn khơng được
đáp ứng bởi các chương trình đào tạo phổ cập (đọc viết) cho người trưởng thành này.
CHĂM SĨC SỨC KHOẺ.
Trong việc chăm sĩc sức khoẻ, điều quan trọng nhất cung cấp dịch vụ đến hầu hết
các ngơi làng và khu vực ở xa và sự phân bổ hợp lý tài nguyên giữa việc chăm sĩc cơ bản
(sự sinh dưỡng, tiêm chủng ngừa, sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, và những thứ tương tự). và
sự chăm sĩc sức khoẻ chuyên mơn hố và các dịch vụ cấp ba, bao gồm chăm sĩc tại bênh
viện và phụ hồi sức khoẻ dài hạn.
Cũng cĩ việc ban hành cách lấy lại được chi phí khi tham gia bảo hiểm cho người
nghèo. Sự trợ cấp hiện tại (bảo hiểm xã hội) chăm sĩc lợi ích và dịch vụ cơ bản cho người
nghèo từ chi phí tham gia bảo hiểm xã hội của những người cĩ thu nhập trung bình và
cao.
Những thành phố lớn cĩ các thiết bị bệnh viện tốt và hiện đại với sức chứa giới
hạn. Sự chăm sĩc tại bệnh viện thì được trợ cấp, nhưng giường bệnh thì giới hạn cố định.
Một số phịng khám cung cấp dịch vụ chăm sĩc sức khoẻ cơ bản, bao gồm phụ sản
(trước khi đẻ) và cho sơ sinh trong các ngơi lành xung quanh và các khu vực lân cận.
Nhưng phần lớn sự cung cấp vẫn thiếu (thuốc uống cơ bản, vaccin, và các thiết bị cấp
cứu hàng ngày) và thái độ của nhân viên y tế khơng tốt.
SỰ PHÂN BỔ CHĂM SĨC SỨC KHOẺ
Giống như mảng giáo dục, mảng chăm sĩc sức khoẻ cĩ 2 thành phần cùng tồn tại
song song nhau là: hệ thống chăm sĩc sức khoẻ của tư nhân và của cơng cộng. Thành
phần tư nhân thì thiên về khám chữa bệnh cao cấp cĩ tính phí hơn là khám chữa bệnh

hội và hiện tại khơng phân biệt người giàu người nghèo rất hiệu quả.
Trong khu vực thủ đơ, chi phí cho sức khoẻ và giáo dục cao hơn đặt dưới áp lực
xây dựng những điều kiện khả năng mới cho việc duy trì và tạo ra điều kiện hiện tại sống
tốt hơn.
5. DOANH NGHIỆP SỞ HỮU NHÀ NƯỚC.
Cĩ một số doanh nghiệp nhà nước ở Lafrasia. 03 trong số đĩ nhận được một sự trợ
cấp lớn nhất của chính phủ là điện, nước và xi măng.
ĐIỆN
Doanh nghiệp điện nhà nứơc nhận được sự trợ cấp đáng kể từ nguồn ngân sách
của chính phủ, phần lớn là cho chi phí. Bởi vì sụ điều chỉnh biểu giá sẽ kéo theo tình
trạng lạm phát ở phía sau, doanh nghiệp điện đã lập kỷ lục cho việc tăng số tiền thiếu hụt
giữa thu và chi trong 03 năm vừa qua. Trong khi đã cĩ chính sách kháng cự lại việc tăng
giá và vài sự quan tâm xác thực về việc khơng cĩ sự thua lổ trong kinh doanh điện, giám
đốc ngành điện tin rằng việc tăng giá điện là việc cần phải được làm để làm giảm bớt việc
tiêu thụ điện năng đang tăng nhanh và tránh tốn kém chi phí cao cho việc xây dựng để
tăng cơng suất. Gần đây, 35% hộ gia đình, hầu hết họ ở các trung tâm thành thị được
hưởng quyền sử dụng điện. Mục tiêu của chính phủ hiện tại là phải cĩ nhiều họ hơn nữa
được sử dụng điện, giá điện cao sẽ làm cho mục tiêu này khơng thể đạt được.
NƯỚC
Ủy ban nước Lafrasia (LWC) là người chịu trách nhiệm tổng thể về quản lý nước
và xây dựng hệ thống nước và quản lý các phương tiện xử lý cũng như các hồ chứa lớn.
Tưới tiêu cho việc trồng mía đường và các vụ mùa khác ở 02 tỉnh đựơc cung cấp bởi
LWC. Các thành phố và các làng lớn mua nước đã xử lý từ LWC để phân phối đến dân
cư của họ, bảo trì hệ thống phân phối và thu tiền từ người sử dụng. Nước giếng và nước
suối cung cấp cung cấp hầu hết cho các làng nhỏ, các cột nước thơng với nước đã xử lý
được sử dụng trong những làng lớn và trong những khu vực nghèo của thành phố. Chính
phủ chỉ trợ cấp vừa phải cho các họat động bán sỉ ngoại trừ một ngoại lệ đối với việc bảo

của Lafrasia và một sân bay quốc nội tại Bahia Linda. Sân bay ở thủ đơ hầu như rất mới,
khách du lịch, thương gia là luồng khách hàng ổn định cho họat động kinh doanh của
doanh nghiệp này, họ trả phần trăm trên phần cho nhà chức trách của sân bay dựa trên số
tiền thu được. Phí đáp, phí đậu, phí giấy phép hành nghề của tài xế taxi đĩng gĩp phần lớn
vào nguồn doanh thu của 02 sân bay này, mặc dù phí cho mồi lần đáp máy bay , 25USD,
thi rẻ khơng thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào. Cĩ một vài áp lực chính trị phải phát triển các
sân bay trong vùng cho việc đi lại giữa những thành phố nhỏ. Nhà chức trách của bến bãi
đang chứng tỏ một con số thặng dư rất khiêm tốn cĩ được từ các loại phí khác nhau và thu
phí đối với những chuyến tàu, bao gồm cả những tàu du lịch khi sử dụng các phương tiên
của cảng và phí thu của các cơng ty thương mại được phép họat động ở cầu cảng. Các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status