Tiểu luận tài chính công: Nghiên cứu chi tiêu công của quốc gia Lafrasia - Pdf 14

TRNG I HC KINH T TP. H CH MINH
KHOA SAU I HC MON TAỉI CHNH CONG
Case study:

NGHIấN CU CHI TIấU CễNG
CA QUC GIA LAFRASIA GVHD: TS. NGUYN HNG THNG
HVTH: NHểM 1
Lp: K16 Ngaõn haứng ẹeõm 2
lớn nhất trong năm tỉnh, với gần 40% dân số. 8 triệu người khác sống trong 10
thành phố nhỏ hơn. Phần còn lại sống ở nông thôn với mật độ dân số từ vài trăm
đến vài ngàn người. Tỉnh miền núi có mật độ dân số thưa nhất, chỉ với 250.000
người phân bố trên 7000 dặm vuông. Khoảng 23 phần trăm dân số Lafrasia sống
dưới mức nghèo khổ. Nhiều người vẫn sống ở vùng nông thôn, nhưng số người di
cư lên các khu vực thành thị ngày càng tăng lên, họ sống trong nhưng căn nhà lụp
xụp và thiếu ăn, lao động chân tay không có kỹ năng, thường tập trung trong những
khu dân lao động tự do.

CHỈ SỐ XÃ HỘI
Lafrasia nằm trong những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp dưới mức
trung bình, nhưng một số chỉ số xã hội cho thấy không đáp ứng các nhu cầu cơ bản
về y tế, giáo dục và các dịch vu khác. Bảng 1- 1 liệt kê các chỉ số xã hội của
Lafrasia và một nhóm các quốc gia tương tự, những nước ở cùng khu vực và có
cũng mức thu nhập.

AN NINH TRẬT TỰ
Chính quyền trước sử dung quân đội để kiểm soát tình hình trong nước và kẻ thù
ngoài nước. Ít nhất là một trong những nước láng giềng của Lafrasia, Andaria, có
bản phác hoạ lãnh thỗ về phía tỉnh miền nam của Lafrasia bởi có một lượng lớn
người dân tộc thiểu số người Andaria sống ớ đó. Tôn giáo và tình hình dân tộc là
nguồn quan tâm gần đây.
Dù nhà nước dân chủ, với hệ thống nhiều đảng phái, một số đảng phái nhỏ sẽ không
thích chống đối. Chính phủ vẫn thích duy trì một lực lượng quân đội mạnh như là
một hàng rào phòng thủ chống lại cả Andaria và các thế lực đe doạ trong nước.

ĐIỀU KIỆN VĨ MÔ
Đồng tiền của Lafrasia là đồng peso, đã được tái hình thành năm 1985; giá trị của
đồng peso mới (bằng 100 peso cũ) đã được ấn định 3 peso 1 đô la. Tỷ giá hối đoái
rớt xuống nhanh chóng là kết quả của lạm phát kéo dài, năm 1989 tỷ giá hối đoái là


Danh mục 1985 1986 1987 1988 1989 1989 (US$)
GDP 71,204 99,762 133,982 177,373 225,132 30,018
Consumption 3,012 83,095 106,473 136,758 164,997 22,000
Chi tiêu chính phủ 14,695 21,307 30,257 41,755 57,621 7,683
Chi tiêu vãng lai 10,906 15,814 22,457 30,990 42,767 5,702
Chi tiêu xây dựng cơ bản 3,788 5,493 7,800 10,764 14,854 1,980
Chi khu vực tư 2,422 3,817 5,649 6,597 9,903 1,320
Xuất khẩu 9,991 15,186 21,868 30,396 39,516 5,269
Nhập khẩu -18,916 -23,645 -30,266 -38,135 -46,906 -6,254
GDP bình quân đầu người 1,959 2,691 3,509 4,545 5,625 750
Dân số (triệu) 36.3 37.1 38.2 39 40 n.a
Tỷ lệ lạm phát (%) 41 36 30 28 22 n.a
Tốc độ tăng GDP bq đầu người thực 0.5 1 0.3 1.2 1.5 n.a
PHẦN II: KHU VỰC CÔNG

CHÍNH QUYỀN TRUNG ƯƠNG
Chính quyền trung ương bao gồm quốc hội, với 1 thủ tướng và 1 nội các, và 1 tổng
thống đã được bầu để kết hợp vừa quản lý chung vừa làm những nhiệm vụ quan
trọng khác. Chính quyền TW chịu trách nhiệm về mặt giáo dục ở tất cả các cấp
(ngoại trừ xây dựng hệ thống trường tiểu học); Quốc phòng; Các bệnh viện và
những trung tâm y tế; Các trường y; cơ sở hạ tầng; công an và hệ thống luật pháp;
quan hệ quốc tế; những công viên công cộng và nhà bảo tàng; Ngân hàng TW; Hệ
thống bảo hiểm xã hội; Sự giám sát của hệ thống ngân hàng và hệ thống kinh
doanh; Nghiên cứu và mở rộng ngành nông nghiệp; và những quy định về nông
nghiệp, công nghiệp và hệ thống tài chính.
5 trường ĐH công cộng, mỗi cái ở 1 tỉnh, được tài trợ bởi chính phủ. Ngoài ra cũng
có những học viện kỹ thuật ở 1 số trung tâm của các tỉnh. Tất cả các trường trung
học thì được tài trợ riêng. Chính quyền TW quản lý 1 số doanh nghiệp nhà nước
(SOEs), kể cả sân bay và phương tiện vận chuyển hàng không, thành phố cảng, hệ

tiêu

Pesos (tri

u)

T


tr

ng %

D

ch v


công t

ng quát

9,759

22.4

Qu

c phòng


2,138

5.0

Kinh t
ế

11,761

27.5+ Nông nghi

p và các ngành
liên quan
769

1.8+ C

p nư

c

609

6.1


ng s

t
và xe buýt

385

0.9+ Truy

n thông

470

1.1+ B

o trì
đư

ng xá

342

0.8

Bảng 2-2 cho thấy đánh giá việc sử dụng vốn trong khu vực công cộng trong năm
1988-1989, bao gồm những dự án tài trợ.

Bảng 2-2: Chi đầu tư khu vực công, 1988-1989
Ch


tiêu

Pesos (tri

u)

T


tr

ng %

Dịch vụ công tổng quát 609 4.1
Qu

c phòng

1,807

12.5

Xã h

1.9

Các dịch vụ XH khác 297 2.0
Kinh tế 9,760 65.7

+ Nông nghi

p

59

0.4+ C

p nư

c

1,322

8.9+ Đi

n

6,299


n

327

2.2

+ Đường sắt và xe buýt 297 2.0

+ B

o trì
đư

ng xá

787

5.3+ Truy

n thông

149

1.1

T

lực công được báo cáo đúng thời gian và thể hiện tính rõ ràng minh bạch.
Ở Lafrasia, cơ chế lập kế hoạch ngân sách không theo cách thức như vậy. Nước này
đang cố gắng kết hợp lập ngân sách 3 năm một, liên quan đến chương trình đầu tư
công, nhưng những tranh cãi chủ yếu lại xảy ra giữa Ủy ban đầu tư, chịu trách
nhiệm chuẩn bị chương trình chi đầu tư hàng năm và Bộ tài chính, chịu trách nhiệm
tiến hành kế hoạch ngân sách định kỳ. Không có những chi phí không được công
khai định kỳ trong trung hạn hoặc dài hạn của các chương trình đầu tư công được
đưa vào sổ sách kế toán khi những dự án mới được bắt đầu chẳng hạn như theo tính
toán cứ mỗi 100 pesos của một dự án thì có 25 pesos được sử dụng cho quá trình
hoạt động và trợ cấp một năm.
Việc thực thi ngân sách vài năm gần đây là quá trình tranh cãi giữa bộ tài chính và
những nhà tài trợ để xác định các lĩnh vực chi tiêu. Mối liên hệ giữa hệ thống chính
sách và dự toán ngân sách rất kém là do sự quan tâm của Bộ tài chính chủ yếu nhằm
vào việc cắt giảm chi tiêu trong khi những nỗ lực của những nhà tài trợ là gia tăng
sự kiểm soát của họ trong hoạt động đầu tư của ngân sách. Ngân sách hàng năm
được lập theo nguyên tắc ngày càng tăng lên, và thông thường vào giữa năm, việc
cắt giảm thông qua bộ được tiến hành nếu các khoản thu nhập từ thuế không thực
hiện đủ theo kế hoạch. Kết quả là việc thực hiện chi tiêu cho các kế hoạch đã định
(chẳng hạn như thực hiện dự án) thường bị chậm trễ. Hơn nữa, các dự án đầu tư
công thường phải trải qua rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện do sự hạn
chế về kỹ thuật và kỹ năng quản lý.

CƠ S Ở HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
Ở Lafrasia sự di trú ra các thành phố là rất mạnh mẽ, đặt biệt là ra thủ đô. Phương
tiện giao thông công cộng thì lại không tương thích và rất ọp ẹp. chỉ khoảng 60%
dân số ở thành thị (và một tỷ lệ thấp hơn ở nông thôn) có cơ hội được cung cấp
nước sạch, và hệ thống cung cấp nước đang rất tồi tệ và cần được sửa chữa. Việc
khan hiếm nhà ở diễn ra thường xuyên trên cả nước và các khu nhà ổ chuột đang
mọc lên xung quanh các thành phố lớn. M ột hậu quả của việc tập trung đông người,
sự khan hiếm nước sạch là sự gia tăng hơn thường lệ các bệnh truyền nhiễm, là do

QUẢN LÝ TÀI SẢN
M ột vấn đề chủ yếu trong lĩnh vực quản lý đường xá là sự thiếu vắng của việc kiểm
kê nhưng không chỉ lĩnh vực này mà các lĩnh vực khác cũng tương tự. Việc thiếu
hụt các cơ quan quản lý tài sản đặc biệt là điều kiện quản lý và quy trình quản lý
xảy ra ở tất cả các lĩnh vực. Ngoại trừ các tòa nhà của chính phủ và các bệnh viện ở
trung ương được quản lý kê khai tốt còn hầu hết các tài sản công đều không được
giám sát và lên kế hoạch tài trợ.

VẤN ĐỀ CHI TIÊU NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG
Tiếp tục trì hoãn các khoản chi sẽ dẫn đến kết quả là sự hư hỏng đáng kể của toàn
bộ cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đường xá, hệ thống tưới tiêu và các tòa nhà của chính
phủ. việc chi tiêu không đúng tiến độ sẽ dẫn đến sự ùn tắc các công trình, theo tính
toán thiệt hại khoảng 2,5%GDP hay khoảng 9% tổng chi tiêu hàng năm của chính
phủ. Việc thực hiện các dự án đã tụt lại khá xa so với kế hoạch, đòi hỏi phải có sự
khôi phục mạnh mẽ hơn nữa. Vấn đề để bắt kịp tiến độ đối với việc ùn tắc các dự án
không chỉ là cấp phát ngân sách mà còn cần quan tâm đến vấn đề quản lý. Kỹ thuật
và nhân lực quản lý được đào tạo không thỏa đáng và các quy trình xây dựng ngân
sách không nhận được bất cứ nhập liệu nào từ dự án hay các nhà quản lý doanh
nghiệp nhà nước liệu có thể ước lượng đúng nhu cầu ngân quỹ cho hoạt động
thường xuyên và đầu tư. Các xung đột thường nảy sinh trong quá trình giám sát các
khoản chi vì phần lớn quỹ ngân sách đều tập trung từ chính quyền trung ương
nhưng chịu trách nhiệm tiến hành các khoản chi lại được thực hiện ở cấp tỉnh và các
cấp địa phương.
SO SÁNH CÁC MÔ HÌNH CHI TIÊU
So với các nước khác trong khu vực, việc kết hợp chi tiêu của Lafrasia giữa ngân
sách địa phương và trung ương cho sức khỏe và giáo dục phổ thông là khá thấp.
M ặc dù sau 10 năm thực hiện quy chế dân chủ và duy trì mối quan hệ hữu nghị với
các nước láng giềng nhưng chi tiêu cho quốc phòng vẫn còn duy trì ở mức cao. Việc
trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước và người lao động làm việc trong khu vực
công làm kiệt quệ thêm ngân sách. Số liệu so sánh chi tiêu, sử dụng những công cụ

người thất nghiệp với các kỹ năng hạn chế.
Bảng 2-3 So sánh các khoản chi tính theo đầu người ở một số khu vực, Năm 1989
Đơn vị: USD
Khoản mục Lafrasia Các quốc gia
tương đồng
Lĩnh vực đường xá 3.76 7.5
Chi duy trì hoạt động 1.14 3.15
Chi phục hồi/xây dựng mới 2.62 4.35
Lĩnh vực giáo dục 26.6 32.67
Chi xây dựng 3.76 10.25
Chi hoạt động 22.81 21.92
Lĩnh vực chăm sóc sức khỏe 13.76 15.79 Bảng 2-4 Các khoản thu Ngân sách nhà nước 1988 -1989
Khoản mục Triệu pesos Tỷ lệ %
Thu từ thuế 27,305 55.3
Thuế xuất khẩu 9,370 19.0
Thuế nhập khẩu 6,625 13.4
Thuế thu nhập 5,687 11.5
Các khoản thuế khác 5,623 11.4
Phí và lệ phí 8,904 18.0
Lĩnh vực giao thông 672 1.4
Lĩnh vực điện lực 1,042 2.1
Lĩnh vực thông tin liên lạc 1,946 3.9
Lĩnh vực nước 1,762 3.6
Lĩnh vực giáo dục 322 0.7
Lĩnh vực sức khỏe 389 0.8
Các lĩnh vực khác 2,771 5.6
Các khoản viện trợ và vay nợ 12,150 24.6

nhân viên đòi hỏi một sự nỗ lực hơn nữa của các công chức chứ không phải là giải
pháp mang tính tạm thời.
CÁC KỸ NĂNG VÀ ĐÀO TẠO
Có rất nhiều người lao động tạm thời không có kỹ năng làm việc được thuê để làm
giảm tình trạng thất nghiệp, nhưng hầu hết trong số họ có năng suất lao động thấp.
Họ coi những khoản tiền lương thấp mà chính phủ trả cho họ như là khoản trợ cấp
và phải làm thêm giờ vào ban đêm đông thời thường xuyên nghỉ việc. Không có sự
giám sát khiến cho những người lao động dễ dàng làm việc thêm một công việc
nữa. Ở đây có sự khan hiếm về nhân sự trong lĩnh vực quản lý (như các kế toán
viên, nhà kinh tế và các nhà quản lý hành chính) và lĩnh vực kỹ thuật (như các kỹ
sư, người lao động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, thư ký và các giáo viên giỏi)
kết hợp với sự thiếu hụt các phương tiện và chương trình đào tạo trong nước để phát
triển các kỹ năng này. Rất nhiều người được đào tạo bài bản đã rời khỏi đất nước
trong suốt thời kỳ chế độ độc tài quân sự và các điều kiện hiện tại chưa đủ hấp dẫn
để thu hút họ quay về. Thêm vào đó, việc thiếu các khoản trợ cấp và máy móc thiết
bị (như máy vi tính, máy đánh chữ, máy xử lý văn bản, thiết bị thông tin liên lạc và
máy photo) làm hạn chế hiệu quả lao động của những người được đào tạo tốt.

TIỀN CÔNG
Những vấn đề về dịch vụ công càng trầm trọng hơn là do quy mô tiền lương đã
không được xem xét đúng mức kể từ khi đất nước giành được độc lập.Tiền lương
thực tế bị giảm xuống do tiền lương danh nghĩa phải chịu tác động của lạm phát.
Đồng thời sự gia tăng đối với việc hưởng các bổng lộc (như nhà ở, xe hơi có tài xế
riêng, du lịch nước ngoài) như là sự thay thế cho việc thanh toán các khoản lương
đối với các quan chức cấp cao. Ngay cả khi được hưởng bổng lộc nhưng những
người được giáo dục và đào tạo bài bản vẫn muốn tìm kiếm những cơ hội ở lĩnh vực
tư nhân với sức hấp dẫn hơn về thu nhập và môi trường làm việc thoải mái. M ức
lương trung bình hàng năm của một quan chức cấp cao chỉ khoảng 18,000 pesos
(khoảng 200 USD/tháng). Cộng thêm các bổng lộc như nhà ở, xe hơi có tài xế riêng
làm giảm đi phần nào nhưng tiền lương vẫn còn ở mức quá thấp để giữ những

PHẦN III: CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ: NÔNG NGHIỆP & CÔNG NGHIỆP

Ở Lafrasia, 46% GDP là bắt nguồn từ nông nghiệp, lâm nghiệp và đánh bắt cá. 26%
là công nghiệp (bao gồm công nghiệp mỏ); và 18% là hệ thống dịch vụ. Những sản
phẩm xuất khẩu tài nguyên cơ bản chủ yếu là cây dừa, cây mía, & gỗ cứng vùng
nhiệt đới. Toàn bộ cơ cấu xuất khẩu & nhập khẩu được trình bày chi tiết trong bảng
3-1.

Xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ năm 1988 và 1989
Triệu peso
Danh m

c

1988

1989

-

Xu

t kh

u

+ Hàng hóa
. Dừa
. Đường
. Dược phẩm

39,516

37,429
18,796
4,589
5,860
3,386
4,798
2,087
46,906
38,441
10,380
13,084
12,195
2,782
8,465
-7,390
3.3

NÔN G NGHIỆP
Nền kinh tế của Lafrasia chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp. Nông nghiệp, lâm
nghiệp, & đánh bắt cá ước tính khoảng 46% GDP và khoảng 60% tổng số công ăn
việc làm.

CÂY DỪA
Cây dừa cung cấp khoảng 48% tổng thu nhập xuất khẩu, và thuế xuất khẩu dựa trên
cây dừa là khoảng 30% thu nhập thuế của Chính phủ. Những chi phí sản xuất của
cây dừa ở Lafrasian nằm trong số thấp nhất thế giới. Một cây trồng xuất khẩu ưu tú
với mức doanh lợi cao tương đối, tuy nhiên cây dừa có thể không được bảo vệ với
tình huống thị trường & điều kiện thời tiết không thuận lợi. Cây dừa cũng là một

Thành phố cảng cũng đã làm xấu thêm các con đường này.
Quốc gia hiện nay đang nhập khẩu một số lượng thực phẩm đáng kể, bao gồm ngô,
gạo, dầu, và những loại thực phẩm chế biến. Bộ Nông nghiệp khuyến khích người
dân thay đổi từ cây mía sang việc chế tạo ngũ cốc, đặc biệt là nhiều loại sản lượng
có lợi suất cao, nhưng thiếu sự mở rộng tài nguyên và hệ thống phân loại tín dụng
nông nghiệp cần phải tạo điều kiện thuận lợi như là một sự luân phiên. Sự thiếu
nhân viên kỹ thuật và chi phí đi lại đối với việc mở rộng những dịch vụ tạo nên rất
khó khăn để phục vụ cho những người dân mà họ quan tâm thực nghiệm bằng
những tính chất và phương pháp mới.

NHỮNG ƯU THẾ TRONG NÔNG NGHIỆP
Cùng với việc gia tăng ngành sản xuất ngũ cốc, Bộ Nông nghiệp xem xét khả năng
rất cao trong việc quay trở lại đầu tư những ngành công nghiệp hướng vào xuất
khẩu hiện nay. Ngành công nghiệp dừa có tiềm năng phát triển những ngành gia
công và chế biến thành phẩm cuối cùng, để tạo ra những công việc có thu nhập cao
hơn và thu nhập xuất khẩu nhiều hơn. Tuy nhiên, sự phát triển như vậy đòi hỏi tăng
thêm chi tiêu công cho bảo trì và sự khôi phục của những con đường và những
tuyến đường sắt, cũng như tăng thêm chi phí điều hành cho việc hỗ trợ kỹ thuật.
Ngành công nghiệp trồng dừa trước mắt cũng cần đến một chương trình trồng cây
mới để giữ vững được mức thu nhập trong tương lai.
Hiện tại, tất cả chương trình nông nghiệp, chính phủ phân phối chỉ 828 triệu peso,
hoặc khoảng 2% từ ngân sách, mặc dù vai trò chính của nông nghiệp trong GDP là
xuất khẩu và việc làm. Chi phí chủ yếu trong lĩnh vực này là những khoản tiền trợ
cấp cho cây mía, mở rộng hệ thống thủy lợi, nghiên cứu và phát triển ngành nông
nghiệp, chương trình trồng mới cây dừa, và những phương tiện bảo quản lưu trữ.
Trong quá trình hoạt động và duy tu bảo dưỡng, những người làm công tác nghiên
cứu và phát triển nông nghiệp hầu như không nhận được tiền trợ cấp hoặc chi phí đi
lại, và tình trạng tồi tệ của những tuyến đường thứ cấp càng làm khó khăn cho việc
đưa sản phẩm cây trồng thị trường tiêu thụ.


sự thiếu thỏa đáng về sách và các trợ cấp ở các trường công lập.

Bảng 4-1: Phân bổ học sinh trong ngành Giáo dục, năm 1988

Ch


tiêu

S


h

c sinh (1.000)

T


l


tuy

n

Trên trung h

c


Trư

ng công

458

57-

Trư

ng tư

229

43

Ti

u h

c

4,800

81.8
2.2

Các cấp 5,728 100

-

Trư

ng công

3,426

71-

Trư

ng tư

1,376

29CHI TIÊU GIÁO DỤC
Tổng chi tiêu cho Giáo dục ở Lafrasia là rất thấp nếu so với các quốc gia khác.
Bảng 4-2 cung cấp số liệu cơ bản về chi tiêu của Chính phủ cho giáo dục theo từng
cấp.

525

26.3

Tiểu học 143 45.1
Ngư

i l

n

43

0.06Giáo dục trên trung học
Chỉ có 1/6 học sinh tốt nghiệp trung học sẽ theo học tiếp ở trường trung học, mặc dù
theo học cao hơn sẽ nhận được một phần kinh phí từ ngân sách. Sẽ phải làm một bài
kiểm tra đầu vào, và chỉ có học sinh của trường dân lập và các trường công tốt hơn
được chấp nhận. Học phí rất thấp (75 pesos mỗi khoá) và học sinh nhận được trợ
cấp tiền ăn từ một phần lớn ngân sách nhà nước. Nhu cầu về y tá, giáo viên và
những người quản lý có tay nghề ở cả khu vực tư và công là rất lớn, nhưng chỗ ở
trong trường đại học thì quá hạn chế không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu của SV. Bậc
giáo dục này vẫn còn thiếu trang thiết bị giảng dạy, đặc biệt là các chương trình
khoa học kỹ thuật.
ở bậc giáo dục dạy nghề, tình hình còn xấu hơn. Ở mỗi tỉnh có một trường dạy nghề
của chính phủ . Tuy nhiên, tất cả trường này đều thiếu nhân viên, thiếu tiền tài trợ ,
quá tải và sử dụng những thiết bị không đồng bộ và lỗi thời. Hầu hết các trường kỹ
thuật và dạy nghề là trường tư và rất đắt. Bởi vì hầu hết sinh viên học các trường đại

phụ huynh học sinh đang nỗ lực xóa bỏ các khoảng cách, các lỗ hổng trong cộng
đồng, thì áp lực phải cung cấp sự hỗ trợ cho nhà trường đè lên vai phụ huynh học
sinh, con của những gia đình nghèo sẽ không bỏ học. Với việc phải cạnh tranh khốc
liệt để được vào học trung học, học sinh cần phải có sự nỗ lực hơn nữa để chuẩn bị
cho các bài thi đầu vào các cấp, và chuẩn bị cho đầu ra chỉ một số ít các học sinh có
khả năng mới ra trường được. Các trường học do tôn giáo mở ra dường như đã làm
tốt công việc chuẩn bị cho học sinh bao gồm cả những học sinh bị rớt ở những kỳ
thi hết cấp tiểu học và những học sinh sắp thi vào trung học, đại học, bởi vì các
trường này nhận được hỗ trợ mạnh mẽ từ bên ngoài.

Giáo dục cho người lớn
Cũng cần có chương trình giáo dục cho người lớn để dạy họ về văn hóa, chăm sóc
sức khỏe và kỹ thuật trồng trọt. 27% dân số trong độ tuổi trưởng thành bị mù chữ.
Giáo dục các kiến thức căn bản cho người lớn là trách nhiệm của Chính phủ, nhưng
nguồn kinh phí cho các chương trình này hiện nay đang thiếu hụt trầm trọng. Các tổ
chức phi chính phủ đang lấp lỗ hổng này ở một số khu vực nhưng vẫn có tình trạng
các chương trình phổ cập văn hóa không đến được với một phần khá đông dân số
trưởng thành bị thất học.

CHĂM SÓC SỨC KHỎE
Ở lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, các vấn đề quan trọng gồm cung cấp dịch vụ y tế
cho hầu hết các làng xã xa xôi và việc phân bổ hợp lý các nguồn lực giữa chăm sóc
cơ bản (như là về dinh dưỡng, miễn dịch, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, và
các dạng tương tự) và các dịch vụ đặc biệt khác, bao gồm bệnh viện và chăm sóc
dài hạn. Một vấn đề nữa đó là làm thế nào để quản lý chi phí khi cung cấp dịch vụ y
tế cho người nghèo. Tiền trợ cấp hiện tại dường như có lợi cho tầng lớp dân cư
trung và thượng lưu từ việc lấy chi phí cung cấp dịch vụ chăm sóc cơ bản cho người
nghèo. Bệnh viện ở các thành phố lớn được trang bị tốt và hiện đại; bệnh viện được
trợ cấp nhưng các giường nằm được phân theo thứ hạng. Có một số phòng khám
cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản như chăm sóc sức khỏe sản phụ và trẻ

Chi phí
Bảng 4-4 : Phân bổ chi tiêu chăm sóc sức khỏe
Ch


tiêu

Lafrasia

Các QG tương
đồng
Chi tiêu đ

u ngư

i (đơn v


USD)
Chi tiêu tiền 3.07 1.88
Nhân sự 7.88 14.54

1.69

3.62

Khác

59

Khác

9

8Bảng 4-4 là số liệu so sánh sự phân bổ chi phí chăm sóc sức khỏe. Chi phí trả tiền
bệnh viện, chủ yếu là chi cho dịch vụ khám chữa bệnh chiếm gần 55% ngân sách
chi cho sức khỏe cộng đồng. Các khoản có lợi nhuận như là miễn dịch, chăm sóc
sức khỏe sản phụ và phòng ngừa bệnh thường xuyên không có tiền tài trợ. Cho dù
có sự góp mặt của một mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế tư nhân tồn tại song song,
nhưng chuyện như thế vẫn còn y nguyên và còn phát triển như là sự phản ứng trước
tình trạng suy giảm chất lượng dịch vụ y tế công cộng. Như vậy, một hệ thống mà
ban đầu chuyển đổi các nguồn lực từ dịch vụ chăm sóc phòng ngừa bệnh và nhu cầu
của người có thu nhập thấp sang dịch vụ chữa bệnh cho người có thu nhập cao thì
hiện nay chất lượng phục vụ đều không có hiệu quả đối với cả người giàu lẫn người
nghèo. Ở lĩnh vực chi tiêu, y tế và giáo dục bậc cao đều phải chịu áp lực phải tạo
dựng các phương tiện mới thay vì duy trì và cải tạo các phương tiện đang có.

PHẦN V : DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Có một số các doanh nghiệp nhà nước ở Lafraisia. Có 3 trong số đó nhận được trợ
cấp lớn nhất của Chính phủ là: điện, nước, và xi măng ( dữ liệu thu thập được từ
thông tin SOEs bảng 2-4)

ĐIỆN
Các Công ty điện lực nhận trợ cấp từ Ngân sách nhà nước, chủ yếu là để chi đầu tư

Chính phủ tiếp quản ngành công nghiệp xi măng từ nhiếu Công ty tư nhân nhỏ và
yếu cách đâu 10 năm. Xi măng là một nguyên liệu chủ yếu trong sự phát triển cơ sở
hạ tầng các dạng, vì vậy chính phủ đảm nhận cung cấp xi măng cho các doanh
nghiệp nhà nước và các công ty tư nhân với giá trợ cấp. Không như điện và nước,
ngành công nghiệp này không phải là sự hữu ích công mà yêu cầu sự trợ giúp chính
phủ để cung cấp quyền sử dụng cho người với mức giá thấp và thích đáng. Nhu cầu
công nhân làm trong ngành Xi măng khoảng 8000 người hoặc ít hơn trong các trung
tâm thành phố, tất cả các công nhân được chính phủ xem xét đến. Ngành công
nghiệp này chịu sự giám sát tổng thể của Bộ thương mại, nơi mà quyết định các
chính sách giá cả và các nguồn trợ cấp từ ngân sách chính phủ. Tuy nhiên ngành
công nghiệp xi măng hiện tại đang mất 30 triệu pesos một năm. Các báo cáo tài
chính khám phá ra rằng có sự hao hụt thất thoát bắt nguồn từ nguyên nhân là sự
quản lý không hiệu quả và giá bán thấp của xi măng kém chất lượng, điều này cho
phép mộp tỷ lệ khá cao công nhân rời bỏ công ty nhà nước để đến làm việc cho các
công ty sản xuất xi măng tư nhân ở các nước láng giềng. Các doanh nghiệp nhà
nước khác, các nhà thầu cá nhân và các chính quyền địa phương bị phản đối mạnh
mẽ việc cắt giảm giá trợ cấp cho xi măng.

VẬN TẢI NGOẠI THƯƠNG
Các sân bay công cộng đang hoạt động tốt, trôi chảy, nhưng cán cân của nó thì
không thặng dư. “Lợi nhuận” đang đươc tái đầu tư vào mở rộng và cải tiến tại các
sân bay quốc tế tại thủ đô của Lafrasia và một sân bay nội địa tại Bahia Linda. Sân
bay ở thủ đô tương đối mới, khách du lịch và các thương nhân cũng tạo thành một
luồng khách hàng cho các công ty thương mại và các công ty này đóng góp một tỷ
lệ % từ tiền thu được cho cơ quan quản lý sân bay. Lệ phí hạ cánh, phí chỗ (dành
cho máy bay của các hãng hàng không), và lệ phí giấy phép cho những người lái
taxi hình thành nên nguồn doanh thu chính của hai sân bay, mặc dù phí hạ cánh cho
mỗi máy bay là 25USD – là mức phí quá thấp. Có một vài áp lực chính trị phải phát
triển các sân bay khu vực để qua lại giữa các thành phố nhỏ. Các cảng cũng được
chỉ ra một lượng thăng dư khiêm tốn, từ các mức phí khác nhau thu được của các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status