tiểu luận tài chính công đề tài an sinh xa hội nước ta thực trạng và hướng giải pháp - Pdf 14

Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Luận văn
Đề tài: Tài Chính Công
Trang 1
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Trang 2
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Trang 3
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Lời mở đầu
uộc sống ngày càng phát triển, ngày càng tiến bộ, con người ngày càng
có cuộc sống đầy đủ, phong phú hơn, song quy luật “sinh lão bệnh tử”
không chừa một ai, cuộc sống luôn luôn tồn tại những khó khăn, rủi ro
khó lường từ các hoạt động của con người, từ thiên nhiên, dịch bệnh, các quá
trình phát triển kinh tế - xã hội Điều đó tác động xấu đến chất lượng cuộc sống
của con người, để tồn tại và phát triển con người đã có nhiều biện pháp để khắc
phục khó khăn. An sinh xã hội (ASXH) ra đời đã ngăn chặn và hạn chế bớt
những khó khăn, rủi ro trên.
C
Truyền thống tương trợ, hỗ trợ, san sẻ nhau đã xuất hiện từ xa xưa lúc con người
cùng nhau săn bắt, hái lượm để tồn tại, cùng nhau chiến đấu với thú dữ, thiên tai,
và cho đến ngày nay trước những biến cố, rủi ro của cuộc sống, tinh thần ấy vẫn
được phát huy mạnh mẽ và ngày càng có những hình thức đa dạng như: bảo
hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp gia đình, các chương trình xoá đói giảm
nghèo, các quỹ tiết kiệm xã hội Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an
sinh xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể
hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn
định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước.
Vậy an sinh xã hội (ASXH) là gì? Thực trạng ASXH ở nước ta như thế nào? Còn
những hạn chế, tiêu cực gì trong ASXH? Vai trò của chính phủ như thế nào trong
việc giúp cuộc sống của người dân được nâng cao hơn, đảm bảo công bằng

chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho
các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công
cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy
mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.
Việc có một hệ thống an sinh xã hội có thể làm thay đổi cuộc sống của mọi người
theo chiều hướng tốt lên cũng như không có một hệ thống an sinh xã hội cũng làm
thay đổi cuộc sống của họ theo chiều hướng xấu đi.
Hệ thống an sinh xã hội của mỗi nước có tác động rất lớn đến an sinh khu vực và
thậm chí là cả thế giới.
2. Các bộ phận cấu thành của ASXH
2. 1- Bảo hiểm xã hội
Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH. Có thể nói, không có
BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh. Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có
thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người
lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc
giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng
một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm
Trang 5
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời
góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro
giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo
nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và
đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn
quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia
sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà
nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời
chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người

rợ cấp này không liên quan đến tài sản trước đó của người thụ hưởng; các
chế độ được chi trả từ ngân sách Nhà nước.
2.6.Trách nhiệm từ chủ sử dụng lao động
Thường chỉ là hệ thống tai nạn nghề nghiệp hoặc hệ thống đền bù cho
người lao động.
Chủ yếu liên quan đến tai nạn tại nơi làm việc và bệnh nghề nghiệp.
Trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với chăm sóc y tế và bồi thường
tuỳ theo mức độ tai nạn và bệnh nghề nghiệp.
Có thể bao gồm một phần để chi trả chế độ cho người lao động trong thời
gian ngừng việc (nằm trong chế độ BHXH).
2.7. Dịch vụ xã hội khác
3. Bản chất và tính tất yếu khách quan của an sinh xã hội
Theo khái niệm an sinh xã hội ở trên, có thể thấy:
+ ASXH trước hết đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của
mình.
+ Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng.
+ Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội
trước những biến cố, những “ rủi ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập….
Như vậy, có thể nói, bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập
và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua
các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội
và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Có thể thấy rõ bản chất của
ASXH từ những khía cạnh sau:
3.1 ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp
quốc thừa nhận.
Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó. Mục tiêu của ASXH
là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành
Trang 7
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc

đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo…
ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những
người bình thường khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc
phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào
Trang 8
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
cộng đồng. ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả
những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp
họ hướng tới những chuẩn mực của Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ đó, một mặt có thể
chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy
lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”… ASXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người
không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… Đồng thời, giúp
mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công
bằng, bình yên.
3.3 ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân
tương ái của cộng đồng. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một
trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội. Sự san sẻ trong cộng
đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân
bản của con người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh.
3.3.1. ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội. Trên bình
diện xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp
dân cư. Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa
các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc. Sự
phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ
mạnh và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người đã nghỉ việc…. Một
bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thế, còn
bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác
định. Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ
những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp đóng” tương đối).
Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của

1. Các vấn đề chung về ASXH ở Việt Nam
1.1 Khái niệm theo quan điểm ở Việt Nam
An sinh xã hội chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của
mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫng hụt về kinh tế
và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo
vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có con nhỏ
1.2 Các bộ phận cấu thành chủ yếu của ASXH ở Việt Nam
Bảo hiểm xã hội.
Trợ giúp xã hội.
Trợ cấp gia đình.
Các quỹ tiết kiệm xã hội.
Các dịch vụ xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng…
Các tổ chức chính liên quan đến ASXH ở Việt Nam
Bô lao đông -thương binh và xã hội
Bộ Y tế
Hội chữ thập đỏ
Ngân hàng chính sách xã hội
1.4 Vai trò và tầm quan trọng của ASXH ở Việt Nam.
1.4.1 Vai trò của an sinh xã hội:
Trang
10
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Hệ thống an sinh xã hội có vai trò là quản lý và đối phó với rủi ro, bao gồm
ba nấc:
Một là, phòng ngừa rủi ro thông qua hệ thống các chính sách bảo hiểm
xã hội. Bảo hiểm xã hội là bộ phận quan trọng nhất, có ý nghĩa vô cùng to lớn và
thiết thực đối với đời sống của người lao động trong hệ thống an sinh xã hội. Với
việc mở rộng đối tượng bảo hiểm xã hội đến mọi người dân dưới hai hình thức
tham gia bắt buộc và tự nguyện; với chế độ bảo hiểm xã hội bằng các khoản trợ

đối tượng chẳng may gặp rủi ro, hoạn nạn. Hệ thống an sinh xã hội phải có trách
nhiệm chủ đạo trong việc khắc phục các rủi ro đó nhằm giúp cho mọi thành viên
trong xã hội mau chóng ổn định cuộc sống.
1.4.2 Tầm quan trọng của ASXH:
Trang
11
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, với hơn 100 năm đô hộ của thực dân
đế quốc. Đến năm 2009, thu nhập trung bình của Việt nam là 1000 USD thuộc tốt
thu nhập trung bình thấp của Thế Giới. Vì vậy, phúc lợi xã hội là vô cùng cần thiết
khi đại bộ phận người là người nghèo khổ. Vậy, ASXH là vô cùng quan trọng cho
đời sống người dân.
Hệ thống bảo hiểm xã hội:
BHXH đảm bảo quyền lợi cho người lao động trên cơ sở đóng góp
của người sử dụng lao động và người lao động.
Bản chất của BHXH là bảo đãm bù đắp một phần hoặc thay thế thu
nhập của người lao động khi bị giảm hoặc mật thu nhập do ốm đau, thai sản, tai
nạn giao thông, bệnh nghề nghiệp…
Thực hiện BHXH,BHYT nhằm ổn định cuộc sống người dân, trợ
giúp người lao động khi họ gặp rủi ro đau ốm … đối với Doanh nghiệp thì nó giúp
cho doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh nghiệp
khi gặp sự cố để họ yên tâm sản xuất kinh doanh.
Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội,
giúp nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội trên phương diện vĩ mô.
Bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển nhưng vẫn giữ vững ổn định xã hội
trong từng thời kì cũng như trong xuốt quá trình.
Với quyền lợi mà người lao động được hưởng khi tham gia BHXH,
BHYT đã góp phần thu hút lực lượng lao động vào sản xuất. Việc được tham gia
bảo hiểm khi đang làm việc và được hưởng lương hưu khiến ngừoi lao đông hứng
khởi trong công việc, tâm lý ổn định hơn.

rủi ro. Đối tượng tham gia là Lao động theo quy định, các mức đóng góp tạo thành
quỹ chung. Các thành viên được nhận Bảo hiểm khi gặp sự cố. Mọi chi phí lấy từ
nguồn quỹ chung.
2/ Nhóm các chế độ trợ cấp xã hội: bao gồm các chế độ trợ cấp cho các
đối tượng gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do gặp phải rủi ro không may trong
cuộc sống. Nguồn chi trả lấy từ Ngân sách nhà nước.
3/ Nhóm các chương trình xã hội khác: Chương trình xóa đói giảm
nghèo, chương trình y tế, gồm các loại quỹ tiết kiệm và các loại bảo hiểm khác.
Sau đây là thực trạng của các vấn đề đó hiện nay:
1/ Nhóm các chế độ bảo hiểm xã hội:
Mặc dù được tạo điểu kiện nhưng thực tế cho thấy vẫn còn một bộ
phận người lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc, đặc biệt là khu vực ngoài nhà
nước. Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này là do công tác tổ chức
thực hiện các chế độ của BHXH còn nhiều bất cập dẫn đến việc thực thi các qui
định của Luật bảo hiểm còn nhiều hạn chế.
Trang
13
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành gồm 03 loại bảo hiểm, gồm BHXH bắt
buộc, BHXH tự nguyện, và bảo hiểm thất nghiệp đã tạo cơ hội cho người lao động
tham gia bảo hiểm.
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tăng nhanh cả về quy mô và tốc độ.
Từ 4,8 triệu người năm 2001 tăng lên 9,4 triệu người năm 2009, chiếm 18% tổng
số lực lượng lao động. Nguồn thu quỹ BHXH bắt buộc tăng nhanh từ 6348 tỷ đồng
vào năm 2001 lên 36,8 nghìn tỷ đồng năm 2009. Tổng chi BHXH bắt buộc cũng
tăng nhanh, từ 1856 tỷ đồng năm 2001 lên 54,9 nghìn tỷ đồng năm 2009 ( trong đó
chi từ ngân sách Nhà nước là 26,8 nghìn tỷ).
Sau một năm triển khai thực hiện BHXH tự nguyện, số người tham gia
đạt gần 50000 người. Nguồn thu quỹ BHXH tự nguyện ước tính đạt 69,5 tỷ đồng
và chi khoảng 10,9 tỷ đồng năm 2009.

tham nhũng của công, hoặc sử dụng sai mục đích.
Đặc biệt, nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 về sửa đổi bổ sung
một số điều của nghị định 67/2007NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp
các đối tượng bảo trợ xã hội đã mở rộng đến các đối tượng tàn tật nặng không có
khả năng lao động không chỉ ở các hộ nghèo.
Theo ước tính số đối tượng bảo trợ xã hội năm 2010 sẽ tăng lên 1,6
triệu. Cuộc sống các đối tượng được cải thiện do mức chuẩn tính trợ cấp tăng.
3/ Nhóm các chương trình xã hội khác:
Xóa đói giảm nghèo: Các chính sách, chương trình giảm nghèo trong
thời gian qua đã đóng góp vai trò quan trọng trong bảo đảm ASXH cho người
nghèo, hộ nghèo, địa bàn nghèo. Hệ thống chính sách giảm nghèo tương đối toàn
diện , tập trung vào các vùng đặc thù, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, miền núi.
Giảm nghèo được thực hiện đồng thời trên 3 phương diện: Tăng cường
tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề – Hỗ trợ chính sách phát triển thông
qua các chính sách tín dụng ưu đãi – Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho xã đặc
biệt khó khăn.
Kết quả tỉ lệ nghèo đã giảm nhanh, từ 29% năm 2002 giảm xuống còn
15,9% năm 2006, và 11,3 % vào cuối năm 2009. Hộ nghèo được tăng cường tiếp
cận chính sách. Trong 3 năm 2006-2008, gần 4,2 triệu hộ được vay vốn; gần 2,1
triệu lượt người nghèo được hướng dẫn làm ăn, chuyển đổi kỷ thuật. 60 nghìn
người nghèo được miễn giãm học phí nghề; mỗi năm hỗ trợ được 30nghìn người
học nghề; khoảng 7,8 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí và các
khoản đóng góp cho trường; 99,54% người nghèo được cấp BHYT năm 2008; 340
nghìn hộ nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm. Hệ thống cơ sở hạ tầng ở những địa bàn
khó khăn đã được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên, một số hộ nghèo vẫn không được hưởng các chính sách do bị
hạn chế điều kiện tham gia.Các chính sách thiên về hỗ trợ bằng tiền và hiện vật
hơn là tạo cơ hội việc làm cho người nghèo tự vương lên. Tuy đã có các chính sách
miễn giảm học phí, tặng sách tập cho con em hộ nghèo, nhưng nhìn chung chi phí
Trang

thức của người dân.
Xây dựng nhiều bệnh viện, trạm xá kể cả ở những vùng nông thôn, núi,…
Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, giảm khỏang cách
giàu, nghèo trong nước.
Hội chữ thập đỏ họat động khá mạnh, đi tới những vùng khó khăn hỗ trợ về
nhiều mặt.
Hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật, thành lập quỹ dành cho ngưởi tàn tật.
Trang
16
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Xây dựng những chương trình di dân, xóa đói giảm nghèo đã đáp ứng về
phân bố nguồn nhân lực, ổn định đởi sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và
bảo vệ an ninh quốc phòng
Tái thành lập Tổng cục dạy nghề để tạo điều kiện nâng cao chất lượng việc
làm của người lao động thông qua nâng cao chất lượng nguồn lao động.
Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia các hình thức BHXH và BHYT.
Hàng năm cứu trợ đồng bào miền trung gặp thiên tai ( bão tố, lũ lụt, )
Thành lập quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam, …
Đưa ra chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người
tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam, chính sách
ưu đãi đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công Cách mạng.
Chính sách đối với người cao tuổi, đối với bà mẹ và trẻ em.
Các chính sách trợ cấp đối với hộ nghèo, ngưởi thất nghiệp,…
2.3 Những việc chưa làm được của ASXH
Hệ thống ASXH phát triển chưa đầy đủ, toàn diện, thiếu sự liên kết và hỗ
trợ nhau.
Một số chính sách ASXH còn tồn tại những bất hợp lý.
Chưa có các chính sách ASXH đặc thù và phù hợp với dân cư nông thôn và
các vùng dân tộc, miền núi có điều kiện sống khó khăn.
Diện bao phủ của hệ thống còn chưa cao, tập trung vào các thành phố lớn

người trong xã hội mà nói, thì những rủi ro thường xuyên đối mặt là: Tai nạn, ốm
đau, thất nghiệp, hoặc đơn thuần là già yếu hết khả năng lao động Và điều mà họ
gặp phải khi các vấn đề trên phát sinh là hạn chế hoặc không có tiền chi phí cho
cuộc sống. Đây chính là mục tiêu chính của bảo hiểm xã hội, nhưng trong quá
trinh thực hiện thì còn nhiều vấn đề nan giải. Một số bệnh nhân đã không ngần
ngại lạm dụng khám chữa bệnh để lấy thuốc bằng cách khám nhiều lần, khám
nhiều chuyên khoa, khám bất cứ khi nào rảnh. Những bệnh nhân tham lam đó
không phải chỉ là những người bệnh nghèo khổ muốn kiếm thêm chút tiền mà
chính là những y bác sĩ nhà nước tại cơ quan y tế tham gia bảo hiểm y tế (BHYT).
Nhiều hình thức lạm dụng và gian lận đã xảy ra như kê nhiều chỉ định cận lâm
sàng, kỹ thuật cao để mau thu hồi vốn đầu tư thiết bị cận lâm sàng hoặc để kiếm
lời nhiều hơn khi hợp tác với đơn vị thứ ba. Có không ít đơn vị y tế kê khống số
lượng, giả mạo chữ ký bệnh nhân để nhận nhiều tiến chi trả BHYT. Có nơi báo
cáo quyết toán chỉ căn cứ vào chỉ định của bác sĩ chứ không kiểm tra chỉ định đó
có được thực hiện hay không. Việc kiểm tra đối chiếu quyết toán hoàn toàn dựa
vào báo cáo của bệnh viện đưa lên chứ không căn cứ vào thực tế. Điều đó tạo kẻ
hở cho một số bác sĩ lợi dụng nhiệm vụ tham gia khám BHYT để giả mạo hồ sơ
bệnh nhân BHYT rút tiền hàng chục tỷ đồng.
Trang
18
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Hay như việc chậm chi trả bảo hiểm cho bệnh nhân, hoặc người khám bảo
hiểm thì phải chờ lâu hơn người khám không bảo hiểm. Không nói đâu xa, những
người già ốm đau, sinh viên, học sinh mặc dù đến trước nhưng vẫn phải ngồi chờ
hàng giờ để được khám bệnh. Như, Tất cả sinh viên các trường Đại Học, Cao
Đẳng đều mua BHYT và BHTN đây là các bảo hiểm bắt buộc theo qui định mới
của chính phủ. Tuy nhiên, nhìn chung không phải chỉ có riêng bản thân tôi chán
nản với BHYT.Chúng tôi tin tưởng vào chính sách của nhà nước.Nhưng chúng tôi
lại rất ít khi dùng đến nó, không phải chúng tôi không bị bệnh mà là chúng tôi
chấp nhận khám không cần Bảo hiểm. Vì sao? Một câu hỏi mà ai cũng rõ. Vì hiện

được đồng nào. Một số xã như Hương Bình, Hòa Hải, Phú Gia (Hương Khê) thì
Trang
19
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
mỗi hộ nghèo chỉ được cấp từ 100.000 đồng - 110.000 đồng/khẩu; số tiền còn lại
trưởng xóm tự quyết chia đều cho những hộ khác từ 47.000 - 50.000 đồng/khẩu, kể
cả hộ giàu. Tại xã Thanh Khê (Thanh Chương, Nghệ An) nhiều hộ dân cho biết,
sau khi có thông báo nhận tiền của Chính phủ hỗ trợ người nghèo ăn tết nhưng khi
nhận bị cán bộ xóm trừ vào tiền đóng góp quỹ khuyến học của địa phương.
Nói về tiền trợ cấp, cũng có nhiều điều cần bàn.
“Chuyện lạ ở xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai:
Không ít người chết đã 2 - 3 năm, nhưng hàng tháng, họ vẫn đều đặn có tên trong
danh sách nhận tiền trợ cấp thường xuyên. Thậm chí, những người đã chết này còn
ký tên, hoặc điểm chỉ vân tay trên danh sách nhận tiền.
Như bà Lại Thị Vui cũng đã chết, nhưng tiền trợ cấp vẫn còn đến quý
III/2006.
Qua điều tra, một nguồn tin khác cho chúng tôi biết, ông Phạm Tiến Hưng -
cán bộ phụ trách chi trả tiền xã hội, thuộc UBND xã Gia Tân 1 - cũng xà xẻo, bớt
xén tiền trợ cấp của 20 người đang còn sống. Thí dụ: Quý III năm 2006, thay vì bà
Phạm Thị Liễu được hưởng 590.000 đồng, thì ông Hưng chỉ đưa bà Liễu 500.000
đồng.
Tỉnh Hà Tĩnh sai phạm liên quan đến vụ việc sử dụng tiền cứu trợ lũ quét
năm 2002 tại huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Bà Nguyễn Thị Xuân đã chết,
nhưng danh sách nhận tiền trợ
cấp vẫn còn đến quý III/2006
Trang
20
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
Tháng 9/2002, huyện Hương Sơn xảy ra trận lũ quét lịch sử, gây thiệt hại

theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta càng quan tâm thực hiện các
Trang
21
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
chính sách cứu trợ, bảo trợ xã hội đối với những người nghèo khó, tàn tật . Cụ
thể :
• Chính sách cứu trợ đối với trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa: bao
gồm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất;
• Chính sách đối với người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các
dân tộc thiểu số: Thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, Thành lập tổ chức
trợ giúp pháp lý cho người nghèo, quan tâm đến người lao động nghèo trong quá
trình chuyển đổi DNNN thành công ti cổ phần, Thành lập Ban chủ nhiệm
chương trình mục tiêu XĐGN, Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình
phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng
xa;
• Chính sách đối với người tàn tật: Ban hành pháp lệnh người tàn tật,
Khuyến khích thành lập và hỗ trợ Hội bảo trợ người tàn tật (Hội người mù,…);
• Chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam: Thành lập quỹ bảo trợ nạn
nhân chất độc da cam, …
• Chính sách cứu trợ xã hội đối với công chức nhà nuớc, người hưởng
lương trong lực lượng vũ trang qua hình thức trợ cấp khó khăn đột xuất và
thường xuyên.
Ngoài ra nhà nước đã mở rộng cơ chế để tạo sự trợ giúp từ cộng đồng ban
hành qui chế tổ chức và hoạt động của quiõ xã hội, quiõ từ thiện, phát động
phong trào tình nguyện . Đặc biệt trong thời gian gần đây, nguồn nhân tài vật lực
đóng góp cho cứu trợ xã hội không chỉ được đóng góp từ trong nước mà còn đến
từ kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và cả kiều bào nước ngoài.
3.1.2 Chăm sóc y tế .
Ở nước ta, việc chăm sóc y tế được thực hiện theo cách khác nhau qua ba giai
đoạn:

hỗ trợ của nhà nước. Mặc dù cơ quan bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng
việc chăm sóc y tế vẫn theo mô hình gián tiếp qua việc ký hợp đồng khám chữa
bệnh giữa Bảo hiểm y tế và cơ sở y tế.
Giai đoạn hiện nay: Bắt đầu thực hiện chủ trương chuyển Bảo hiểm y tế
sang quản lý chung với BHXH vì các lý do sau:
Đối tượng quản lý của BHXH và Bảo hiểm y tế là tương đồng (loại áp dụng
chế độ bắt buộc), việc sát nhập làm cho việc quản lý thuận lợi hơn, vừa tiết kiệm,
vừa đảm bảo phục vụ tốt hơn cho người được bảo hiểm;
Dù trước đây, Bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng việc chăm sóc y tế
vẫn là theo mô hình gián tiếp. Về lâu dài, dù muốn chắc chắn nước ta cũng chưa
có thể áp dụng mô hình trực tiếp chăm sóc y tế, nên việc chuyển về BHXH một
mặt, vẫn giữ nguyên mô hình gián tiếp; mặt khác, vai trò, trách nhiệm một người
quản lý quiõ tiền sẽ dễ phát huy hơn trong việc tổ chức thu – chi, giám sát việc
cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế của cơ sở y tế, đầu tư và phát triển quiõ, …
Trang
23
Bài tiểu luận: Tài Chính Công
3.1.3 Ưu đãi xã hội :
Cơ chế ưu đãi xã hội là nét riêng có trong hệ thống ASXH Việt Nam. Cơ
chế này nhằm đảm bảo cho 2 nhóm người chủ yếu như sau:
Nhóm những người đã có công sức đóng góp cho vận mệnh của đất nước,
công cuộc cách mạng của dân tộc bao gồm: những người đã gắn bó cả cuộc đời
của mình với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của cộng đồng; những người gặp
rủi ro trong quá trình hoạt động cho sư nghiệp chung của cộng đồng. Phần lớn
những người thuộc nhóm này thường bị suy giảm, mất khả năng lao động, khả
năng cầu tiến trong điều kiện cạnh tranh của thị trường trong khi sự đóng góp
của họ là vô giá (tính mạng, thân thể, gia sản, …). Việc ưu đãi đặc biệt những
người này so với những người lao động bình thường kể cả những người lao động
bất hạnh khác là phù hợp với truyền thống lâu đời của dân tộc: uống nước nhớ
nguồn. Các chính sách đãi ngộ nhóm người này gồm có:

dịch vụ y tế để đảm bảo cho rủi ro ốm đau lên hàng đầu.
Ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước đến nay, nhà nước ta đã có nhiều
quan tâm đến nhiều nội dung dịch vụ xã hội: tổ chức mạng lưới y tế đến thôn xã,
đào tạo cán bộ y tế, thực hiện y tế dự phòng phòng chống bệnh bướu cổ, AIDS,
các dịch bệnh truyền nhiễm, thực hiện một thời gian dài cung cấp dịch vụ khám
chữa bệnh miễn phí, thực hiện hệ thống trường dạy nghề để tái thích ứng nghề cho
người lao động nói chung, người lao động thương tật nói riêng. Hiện nay, từ khi
đổi mới kinh tế, nhà nước ta có chính sách khuyến khích phát triển hệ thống dịch
vụ xã hội bằng các nguồn lực đa dạng của xã hội, điều này, một mặt làm cho cơ sở
vật chất dịch vụ xã hội ngày càng tốt hơn, mặt khác, nhà nước có thể tập trung
nguồn lực của mình để chăm sóc tốt hơn cho các đối tượng ưu đãi xã hội và
BHXH.
3.1.5 Các khoản đảm bảo khác được cung cấp bởi người sử dụng lao động
a. Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc
Trợ cấp thôi việc là khoản tiền của người sử dụng lao động trả cho người
lao động thuộc quyền quản lý khi người lao động thôi việc theo các truờng hợp
đã có qui định của pháp luật như: mãn hạn hợp đồng, người lao động đơn
phương chấm dứt hợp đồng một các hợp pháp, người sử dụng lao động đơn
phương chấm dứt hợp đồng không phải vì lý do nguời lao động phạm lỗi nặng bị
sa thải. Trợ cấp mất việc là trợ cấp cho người lao động bị thôi việc do doanh
nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ khiến cho người lao động chưa đến hạn
hoặc chưa đến lúc chấm dứt hợp đồng đã bị mất việc một cách bị động. Trợ cấp
mất việc vừa bao hàm ý nghĩa là trợ cấp thôi việc vừa có ý nghĩa là một khoản
bồi thường, bù đắp thiệt thòi cho người lao động do người sử dụng lao động dơn
phương đình chỉ hợp đồng.
b. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với người lao động
tàn tật
Đây có thể xem là một loại chế độ cứu trợ xã hội đối với người lao động tàn
tật, chỉ có điều là nhà nước không trực tiếp thực hiện mà qui định buộc người sử
Trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status