các biện pháp bảo hộ đầu tư theo luật đầu tư nước ngoài tại việt nam - Pdf 14

LỜI NÓI ĐẦU
Trong các thập kỷ qua, nền kinh tế thế giới đã biến đổi rất căn bản, sự
khác biệt về địa lý và văn hoá đã bị thu hẹp đáng kể khi khoa học kỹ thuật
(KHKT) phát triển. Đồng thời, nền kinh tế thế giới theo xu hướng toàn cầu hoá
đã kéo theo một loạt các biến đổi lớn trong cơ cấu nhất là sự chuyển dịch vốn và
kỹ thuật giữa các nước với nhau nhằm mục đích phát sinh lợi nhuận. Đây chính
là đầu tư nước ngoài (ĐTNN).
Trong chiến lược phát triển kinh tế các nước, đặc biệt là các nước đang
phát triển, ĐTNN chiếm một vai trò quan trọng để có thể tận dụng một cách
hiệu quả vốn và KHKT do ĐTNN mang lại. Do đó chính sách ĐTNN không chỉ
là đưa ra những biện pháp khuyến khích, ưu đãi mà cần phải có những biện pháp
bảo đảm ĐTNN trong đó có bảo đảm về pháp lý được xem như một trong những
yếu tố bảo đảm quan trọng vừa thu hút được sự đầu tư vừa làm tăng sức cạnh
tranh cho các thành phần kinh tế trong nước.
Nhà nước Việt Nam trong công cuộc xây dựng và đổi mới nền kinh tế đã
đưa ra chiến lược, chính sách ĐTNN nhằm thu hút các nguồn vốn ngoại tệ trong
và ngoài nước, tiếp thu KHKT và công nghệ mới của nước ngoài, học hỏi kinh
nghiệm quản lý tiên tiến. Bên cạnh đó, khai thác những tiềm năng, lợi thế của
kinh tế đất nước đảm bảo một môi trường đầu tư lành mạnh, thuận lợi thúc đẩy
sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Điều 25/HP 1992 nêu rõ: " Nhà nước khuyến
khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam, phù
hợp với pháp luật Việt nam và thông lệ quốc tế, đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp
đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Doanh nghiệp có vốn ĐTNN không bị quốc hữu hoá". Hay điều 1 luật ĐTNN tại
Việt nam cũng quy định: " Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo
hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác của nhà
ĐTNN. Doanh nghiệp có vốn ĐTNN không bị quốc hữu hoá".
Chính sách ĐTNN của Việt nam trong thời gian qua đã gặt hái được một
số kết quả nhất định. Góp phần vào những thành công này không thể không đề
1
cập đến các biện pháp bảo hộ đầu tư do nhà nước đề ra, đặc biệt các biện pháp

tài nguyên, nhiên liệu, nhân công rẻ mạt phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
cho chính quốc. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều quốc gia đứng lên đấu
tranh giành độc lập cho hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới tan rã, làn sóng
quốc hữu hoá dâng lên mạnh mẽ ở các nướ thuộc địa, nhiều nước Châu Âu bị
tàn phá trong chiến tranh rất cần vốn đầu tư để phục hồi nền kinh tế. Trên cơ sở
đó, các nước phát triển đầu tư lẫn nhau và thực hiện sự liên minh kinh tế trong
từng khu vực nhằm củng cố tiền lực và vị trí kinh tế của mình trên trường quốc
tế. Nhưng sự gia tăng đầu tư vào các nước công nghiệp phát triển chững lại vào
đầu những năm 90 do suy thoái kinh tế rộng khắp thế giới tư bản và dòng vốn
ĐTNN vào khu vực này giảm mạnh trong những năm đầu thập kỷ. Do đó, dòng
vốn ĐTNN chuyển hướng sang các nước đang phát triển tăng lên - khu vực có
nền kinh tế phát triển năng động cộng vơi những lợi thế về giá nhân công và
tiềm năng về nguồn nhân lực - để giảm chi phí cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh.
3
Khu vực Châu Á, Đông Nam Á cũng rất nhạy cảm đối với vấn đề trên.
Vào những năm 50 - 60 Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Triều Tiên với nền
kinh tế lạc hậu, phát triển thiếu cân đối, tài nguyên nghèo nàn họ đã nhanh
chóng đưa đất nước phát triển thành những con rồng Châu Á qua việc thực hiện
công nghiệp hoá, áp dụng chính sách mở cửa, thu hút ĐTNN từ các nước phát
triển. Malayxia, Philipin, Indonexia đã ban hành luật ĐTNN từ lâu và ngày
càng có những bổ sung sửa đổi, hoàn thiện hơn nhằm thu hút vốn ĐTNN. Ở
Chuâu Á, lượng vốn ĐTNN ngày càng tăng. Chẳng hạn năm 1984, bốn nước
Malaysia, Indonexia, Philipine, Thái Lan thu hút 16% tổng lượng ĐTNN, năm
1990 là 24%. Còn ở các nước ASEAN thì ĐTNN tăng mạnh vào những năm
1985 đến 1991, Indonexia tăng 8,5% lần, Philipine tăng 3,5 lần, Malaysia tăng
14 lần, Singapore tăng 1,8 lần. Những thành tựu to lớn do hoạt động ĐTNN
mang lại cho các nước trên đã trở nên hấp dẫn và lôi cuốn các nước lân cận
trong khu vực.
Trong khi đó, so với các nước trong khu vực Việt nam là một nước kém

nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong phương thức hoạt động kinh tế của mình,
Việt nam có thêm một phương thức hoạt động hiệu quả. Luật ĐTNN tại Việt
nam ra đời bước đầu đã tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt
động ĐTNN tại Việt nam. Đây là văn bản pháp lý có đủ hiệu lực tạo sự an tâm
tin tưởng cho các nhà ĐTNN, bảo đảm khả năng thực hiện trong thực tế. Trên
cơ sở quy định của luật ĐTNN này chúng ta có điều kiện để mở rộng hợp tác
kinh tế với nước ngoài, phát triển kinh tế quốc dân, đẩy mạnh các hoạt động
thương mại, đầu tư Việt nam hơn nữa.
II. VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ ĐTNN TẠI
VIỆT NAM
Có thể nói về cơ bản Việt nam đã có những đạo luật và văn bản cần thiết
tạo thành một khung pháp luật phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Riêng
ĐTNN năm 1987 đã được nghiên cứu, bổ sung và sửa đổi nhiều lần vào những
năm 1990, 1992 và tháng 11/1996 Quốc hội đã thông qua luật ĐTNN sửa đổi để
kịp với yêu cầu của tình hình, có cân nhắc đến ý kiến của các nhà đầu tư trong
5
nước và ngoài nước làm cho Luật ngày càng phù hợp với tập quán kinh tế vẫn
có được tính hấp dẫn riêng của nó.
Ngay từ lời mở đầu, Luật ĐTNN đã chỉ rõ: " Để mở rộng hợp tác kinh tế
với nước ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh
tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất
nước". Và theo từng thời kỳ nhất định, Luật ĐTNN đã có những sửa đổi bổ sung
cho phù hợp với điều kiện nền kinh tế trong nước, tạo đà phát triển cho các
doanh nghiệp.
Khái quát về quá trình hoàn thiện chế độ pháp lý về ĐTNN tại Việt nam
để tạo sự nhận thức về sự thay đổi tất yếu khách quan về hệ thống, dần tạo được
nề nếp trong thực hiện, chấp hành luật:
1. Điều lệ về đầu tư nước ngoài ngày 10/08/1977
Căn cứ vào nghị quyết của Hội Đồng Chính phủ tại phiên họp hội nghị
thường vụ ngày 16/3/1977, Hội Đồng Chính phủ đã ra nghị định 115/CP ngày

tập chung vào một mối, hoạt động chậm chạp điều lệ còn mang tính hành
chính, thủ tục, mệnh lệnh Ngoài ra, trong thời gian này Việt nam còn bị Mỹ
cấm vận, sự kiện Camphuchia, biên giới phía Bắc nên thực tế kết quả thu
được do hoạt động ĐTNN thời kỳ này hầu như chẳng được gì.
Ngày 17/7/1984, bộ chính trị ra Nghị quyết số 19 về quan hệ kinh tế giữa
nước ta với nước ngoài: " Cần bổ sung và hoàn thiện điều lệ đầu tư đã ban hành
để có tính hấp dẫn hơn ". Và trong phương hướng nhiệm vụ kế hoạch kinh tế,
xã hội năm 1985 cũng nêu " Nghiên cứu ban hành luật đầu tư mới để mở rộng
hợp tác, tranh thủ tín dụng của các nước xã hội chủ nghĩa và các nước khác cũng
như các tổ chức quốc tế, có chính sách rộng hơn để thu hút nguồn vốn từ bên
ngoài vào".
2. Luật đầu tư nước ngoài năm 1987
Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 và một loạt các văn bản khác được ban
hành sau đó nhằm cụ thể hoá việc thực hiện luật đầu tư nước ngoài, đặc biệt là
nghị định 139/HĐBT ngày 5/9/1988 đã thực sự mang lại màu sắc mới cho hoạt
động ĐTNN tại Việt nam. So với điều lệ năm 1977 thì nó là một bước phát triển
lớn của chế độ pháp lý về ĐTNN cả hình thức lẫn nội dung.
7
Về hình thức đầu tư, trên cơ sở các hình thức hợp tác được ghi nhận ở
điều lệ năm 1977, luật đầu tư nước ngoài đã quy định lại các hình thức đầu tư
hoàn thiện hơn (hợp tác kinh tế trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, Xí
nghiệp hoặc Công ty liên doanh, Xí nghiệp 10% vốn nước ngoài ).
Về nội dung, tiếp thu được những điểm tích cực, tiến bộ cũng như khắc
phục, hạn chế được những điểm nhược điểm, thiếu sót của luật ĐTNN trong
việc khuyến khích được các tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt nam
qua đó nhà nước ta đã tạo điều kiện dễ dàng cho các nhà đầu tư nước ngoài có
khả năng định hướng được chiến lược đầu tư của mình từ đó có kế hoạch, chính
sách ổn định. Vì thế nó có ý nghĩa quan trọng đối với chủ đầu tư và nước tiếp
nhận đầu tư là chúng ta.
Điểm nổi bật của luật ĐTNN năm 1987 là đã ghi nhận các biện pháp bảo

được vốn ĐTNN.
3. Luật sửa đổi bổ sung một số điều năm 1990
Sau hơn hai năm thực hiện luật ĐTNN đã mang lại nhiều kết quả khá
quan trọng, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Điển hhình là
tổng số vốn đầu tư nước ngoài năm 1991 bằng cả 3năm trước đó. Sang năm
1992, kết quả thu được còn khả quan hơn nhiều: gấp 1.7 lần năm 1991. Quy mô
đầu tư của dự án cũng vì thế mà tăng lên từ 3,5 triệu USD/ dự án năm 1990 lên
7.5 triệu USD năm 1991, 7.6 triệu USD năm 1992.
Tuy nhiên trong tình hình mới, sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ
kinh tế, một số điều hạn chế và bất hợp lý của luật ĐTNN 1987 lại đặt Đảng và
nhà nước ta trước một yêu cầu mới, cần bổ sung, sửa đổi sao cho phù hợp.
Nhiều khái niệm và quan điểm ở đây cần xem xét lại và đánh giá một cách khoa
học. Chẳng hạn như các vấn đề đối tượng điều chỉnh, cơ chế trong liên doanh,
tài chính, có như thế ta mới có điều kiện cạnh tranh với các nước trong khu vực
nhằm tạo sự hấp dẫn hơn đối với nhà ĐTNN. Chính vì vậy Nghị định 28/HĐBT
ngày 6/2/1991 cũng mang một nội dung mới như: quy định về tỷ lệ vốn, kế
hoạch góp vốn pháp định Xí nghiệp liên doanh
Cùng với việc sửa đổi một số nội dung còn có những sửa đổi mang tính
văn phòng, kỹ thuật pháp lý đòi hỏi các Bộ, các ngành có liên quan cần xem
9
xét, rà soát lại, sửa đổi bổ sung hàng loạt các thông tư hướng dẫn có liên quan
nhằm làm cho chế độ pháp lý về ĐTNN ngày càng hoàn thiện hơn, dần dần đi
vào cuộc sống và phù hợp với thực tiễn.
Tuy nhiên, một số dự án lẫn số vốn đầu tư giữa các tỉnh, thành phố trong
cả nước phân bổ không đồng đều, 75% dự án tập trung ở phía Nam, phía Bắc chỉ
đạt 25% tổng số dự án, còn miền núi, vùng sâu số dự án chỉ đếm được trên đầu
ngón tay.
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học công nghệ, sự gia tăng mạnh mẽ
của xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá đã cuốn hút nền kinh tế quốc gia vào
quá trình hợp tác hoá và phân công lao động quốc tế. Những nhu cầu mới lại

phải tạo ra sự thông thoáng hơn nữa về môi trường đầu tư, hệ thống pháp luật
phải thống nhất và đồng bộ. Vì lẽ đó, để hoàn thiện hơn, lần sửa đổi tiếp theo
của Luật ĐTNN vào ngày 12/1/1996.
III. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC LUẬT ĐTNN TẠI VIỆT NAM 1996
Luật ĐTNN tại Việt nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá IX kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 12/11/1996 bao gồn 6
chương, 68 điều được bố cục như sau:
Chương I: Những quy định cung
Chương II: Hình thức đầu tư
Chương III: Biện pháp đảm bảo đầu tư
Chương IV: Quyền lợi và nghĩa vụ của các nhà ĐTNN và doanh nghiệp
có vốn ĐTNN.
Chương V: Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư Việt nam
Chương VI: Điều khoản thi hành.
Với mục đích chiến lược được nêu rõ trong lời mở đầu " để mở rộng hợp
tác kinh tế với đất nước, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của đất nước".
Tiếp liền sau đó là nghị định 12/CP ngày 18/02/1997 do Chính phủ ban
hành nhằm quy định chi tiết thi hành luật ĐTNN 1996. Nghị định 12/CP gồn 15
chương, 104 Điều.
11
Ngoài ra còn rất nhiều văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước khác như:
cơ quan nhà nước về hợp tác đầu tư của các Bộ, Cơ quan Ngang bộ để quy định
cụ thể việc thi hành luật ĐTNN năm 1996. Phạm vi điều chỉnh của luật ĐTNN
là các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo Nghị định 12/CP ngày 18/2/1997 của chính phủ, đối tượng điều
chỉnh của Luật ĐTNN tại Việt Nam bao gồm:
1. Doanh nghiệp Việt nam: gồm các thành phầm kinh tế
- Doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo luật doanh nghiệp nhà nước

đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
- Sử dụng nhiều lao động, chế biến nguyên liệu và sử dụng có hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên ở Việt nam.
Địa bàn gồm:
* Miền núi, vùng sâu, vùng xa.
* Những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Và nhà nước Việt nam sản xuất không cấp giấy phép ĐTNN vào các lĩnh
vực gây thiệt hại đến quốc phòn, an ninh quốc gia, di tích lịch sử, văn hoá, thuần
phong mỹ tục và môi trường sinh thái.
Về hình thức đầu tư thì luật ĐTNN quy địnhcác hình thức như sau:
* Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Hai bên hoặc nhiều bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác
kinh doanh như hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm.
Đặc điểm của hình thức này:
Các bên trong nước và nước ngoài hợp tác thực hiện một hoạt động sản
xuất kinh doanh nào đó trong một thời gian, không gian nhất định theo hợp đồng
quy định. Sự hợp tác này không tạo nên một pháp nhân tư pháp. Trước pháp luật
các bên tự chịu trách nhiệm về phần việc của mình.
Bên nước ngoài thực hiện nghĩa vụ về thuế theo luật ĐTNN tại Việt nam.
Bên Việt nam thực hiện nghĩa vụ đóng thuế theo các quy định áp dụng đối với
các doanh nghiệp trong nước.
* Doanh nghiệp liên doanh.
13
Hai bên hoặc nhiều bên hợp tác với nhau để thành lập doanh nghiệp liên
doanh tại Việt nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh
được hợp tác với nhà ĐTNN hoặc với doanh nghiệp Việt nam để thành doanh
nghiệp liên doanh mới tại Việt nam. Doanh nghiệp này được thành lập theo hình
thức Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) có tư cách pháp nhân theo pháp luật
Việt nam. Một hoặc nhiều bên nước ngoài tham gia là liên doanh góp vốn pháp
định ít nhất phải là 30% tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp.

Luật nay sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ĐTNN tại Việt nam được
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12 tháng
11 năm 1996.
Luật sửa đổi bổ sung này có một số điểm mới như sau:
Theo điều 19a " doanh nghiệp có vốn ĐTNN các bên tham gia hợp đồng
hợp tác kinh doanh trong quá trình hoạt động được phép chuyển đổi hình thức
đầu tư, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục chuyển đổi hình thức đầu tư chia,
sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp".
Ngoài ra, luật ĐTNN còn sửa đổi bổ sung một số điều tạo điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN về thủ tục hành chính, chính sách thuế
Bên cạnh đó một số quy định khuyến khích đầu tư ngoài nước từ người Việt
nam ở nước ngoài, nhằm thu hút nguồn vốn ĐTNN khá phong phú mà lâu nay
chưa khai thác đúng mức. Điều 44 sửa đổi như sau:
" Người Việt nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo quy định của
luật này được giảm 20% thuế thu nhập doanh nghiệp so với các dự án cùng loại,
trừ trường hợp áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10%; được
áp dụng mức thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là 3% số lợi nhuận
chuyển ra nước ngoài".
15
PHẦN II
CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I. KHÁI NIỆM
Bảo hộ ĐTNN là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc thu hút vốn
ĐTNN. Thật vậy, để phát triển ĐTNN, huy động được một nguồn vốn lớn từ các
nước đầu tư sang nước nhận đầu tư, thì một trong những yếu tố hết sức quan
trọng là nước nhận đầu tư phải tạo nên một môi trường pháp lý thuận lợi nhằm
bảo hộ và tăng cường vốn đầu tư.
Trên thực tế, vấn đề bảo hộ ĐTNN là một phạm trù rất rộng bao gồm

thuận lợi là tổng thể những vấn đề có liên quan đến địa lý, tình hình chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, tất cả phải ổn định thì mới tạo điều kiện cho nhà đầu tư
nước ngoài phát huy hiệu quả cao nhất. Môi trường pháp lý không có tính đồng
bộ, thống nhất, ổn định thì đương nhiên lợi ích của nhà đầu tư không được đảm
bảo.
Bảo hộ đầu tư là việc thừa nhận về mặt pháp luật quyền của nhà ĐTNN
đối với các khoản lợi nhuận sinh ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng
như việc chuyển lợi nhuận và tài sản của họ ra nước ngoài một cách dễ dàng.
Ngoài ra bảo hộ đầu tư còn bao gồm cả việc nhà nước phải tạo ra một cơ
chế công bằng, thuận lợi, thoả đáng cho các nhà ĐTNN khi có chanh chấp xảy
ra.
Tóm lại bảo hộ đầu tư là một biện pháp khuyến khích đầu tư mang tính
chất chính trị - pháp lý, được ghi nhận trong hầu hết các đạo luật về đầu tư của
các nước. Hay nói đúng hơn bảo hộ ĐTNN là chế độ pháp lý bao gồm tổng hợp
các quy phạm pháp luật do nước nhận đầu tư ban hành, nhằm bảo đảm các
quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào nước sở tại. Nó
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vai trò của biện pháp bảo đảm này được khẳng
định dựa trên các đặc tính của pháp luật.
17
Trong thực tế, tuỳ thuộc vào chính sách ĐTNN cũng như tình hình kinh
tế - xã hội cụ thể của từng quốc gia mà nội dung của các biện pháp bảo hộ
ĐTNN nhưng đều tập trung vào các vấn đề sau:
* Quyền sở hữu của chủ đầu tư nước ngoài
* Chế độ pháp luật mà nước nhận đầu tư đối với bên nhận đầu tư ( chế độ
đãi ngộ như công dân, chế độ có đi có lại, chế độ báo phục quốc).
* Sự ổn định và thống nhất của hệ thống pháp luật
* Vấn đề giải quyết tranh chấp
* Do đó mà Chính phủ các nước và nhà đầu tư nước ngoài đều mong
muốn nâng cao giá trị pháp lý của các biện pháp bảo hộ đầu tư, không chỉ gói
gọn trong luật quốc hội mà còn được ghi nhận trong các hiệp định bảo hộ đầu tư

quan đến ĐTNN, nhà nước cũng xây dựng các nguyên tắc bảo đảm trên khi kêu
gọi ĐTNN. Chẳng hạn Điều 2, Luật Dầu khí 19/7/1993 quy định: " nhà nước
Việt nam bảo đảm quyền sở hữu về vốn đầu tư, tài sản và các quyền lợi hợp
pháp của các tổ chức cá nhân nước ngoài và Việt nam tiến hành các hoạt động
dầu khí ở Việt nam" hay tại khoản 8, Điều 5, Luật Khoáng Sản 20/03/1996 cũng
ghi nhận: " Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn và tài sản, các quyền, lợi
ích hợp pháp khác của các tổ chức cá nhân, tập thể trong hoạt động khoáng sản
theo quy định của Luật khoáng sản và các quy định khác của pháp luật". Để xây
dựng đất nước, Việt nam sẵn sáng hợp tác kinh tế với nước ngoài, làm bạn với
tất cả các quốc gia: " Chính phủ Việt nam bảo đảm đối xử công bằng và thoả
đáng đối với các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt nam " (Điều 20, Luật
Đầu tư nước ngoài năm 96). Việc đối xử bảo đảm đúng với pháp luật Việt nam,
Phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hay tham gia và phù hợp
với các thông lệ quốc tế.
Những nguyên tắc và những quy định trên đã được pháp điển hoá và đạo
luật cơ bản của đất nước, cụ thể là điều 25, hiến pháp 1992. Đây là cơ sở pháp lý
cao nhất cho việc quy định các biện pháp pháp lý cụ thể đối với ĐTNN, khắc
phục các quan điểm không rõ ràng trong vấn đề quốc hữu hoá có thể xảy ra theo
các quy định của luật tư pháp quốc tế trong trường hợp vì lợi ích quốc gia hay "
Bảo lưu trật tự công cộng".
19
Như chúng ta đã biết, Việt nam là một nước đang phát triển, trình độ khoa
học kỹ thuật lạc hậu, thiếu vốn trầm trọng, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, thu nhập
bình quân đầu người ở mức 200 USD/năm thì việc thu hút vốn đầu tư là một vấn
đề vô cùng quan trọng đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy
nhiên, hiện nay do sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia kêu gọi đầu tư cung
- cầu vốn đầu tư trên thế giới lại có biến động lớn, số nước kêu gọi đầu tư ngày
càng tăng, nhu cầu vốn đầu tư nước ngoài khoảng 300 tỷ USD như nguồn vốn
chỉ có 200 tỷ USD đầu tư vào các nước phát triển, số còn lại đầu tư vào các
nước đang phát triển bao gồm cả Việt nam mà mục tiêu của nhà nước ta đề ra

ngẫu nhiên mà có, nó xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của
nước ta cũng như suất phát từ tình hình thực tiễn ĐTNN tại Việt nam đã nêu
trên.
III. NỘI DUNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ ĐẦU TƯ
Hiện nay nước ta đang ở trong khu vực có sự hợp tác về kinh tế lại vừa có
sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực thu hút vốn ĐTNN. Vì vậy, việc nhanh
chóng cải cách môi trường đầu tư ngày càng hấp dẫn hơn là điều vô cùng cần
thiết và quan trọng.
Như vậy có thể nói xu hướng và chính sách phát triển kinh tế của nhà
nước ta là nhằm tới việc bảo đảm một cách tốt nhất tài sản và vốn đầu tư của nhà
ĐTNN bằng những cơ sở pháp lý có giá trị nhất định. Chừng mực nào đó có thể
nói trong giai đoạn hiện nay, những bảo đảm và ưu đãi mà nhà nước ta đã giành
cho các nhà ĐTNN còn có phần cao hơn so với chủ đầu tư trong nước. Điều đó
cũng dễ hiểu và hợp lý, bởi vì lúc này chúng ta đang tranh thủ thu hút các nguồn
vốn ở nước ngoài nhằm trợ giúp sản xuất trong nước có điều kiện phát triển
mạnh mẽ hơn.
Những biện pháp đầu tư được ghi nhận trong việc ĐTNN Việt nam bao
gồm những vấn đề sau:
1. Vấn đề bảo đảm vốn đầu tư nước ngoài.
Vốn là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự thành bại của hoạt
động sản xuất kinh doanh. Do vậy mà vấn đề trước tiên là phải có biện pháp bảo
21
đảm cho sự an toàn của đồng vốn nhất là về mặt pháp lý thì từ đó mới có thể
phát sinh những lợi nhuận của nhà đầu tư.
Chính vì vậy mà tại Điều 21 Luật ĐTNN quy định: " Trong quá trình đầu
tư vào Việt nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài không
bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn
ĐTNN không bị quốc hữu hoá. Nhà nước CHXNCH Việt nam bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các nhà ĐTNN trong hoạt động
chuyển giao công nghệ tại Việt nam ".

có thể xảy ra một khi chính sách pháp luật Việt nam có sự thay đổi làm ảnh
hưởng đến lợi ích của họ. Đồng thời mục đích của quy định bảo đảm này cũng
nhằm duy trì và ổn định hoạt động kinh doanh, tránh sự sáo trộn không cần thiết.
Nhà nước Việt nam lúc nào cũng muốn tạo điều kiện tốt nhất cho nhà
ĐTNN yên tâm tin tưởng đầu tư vào Việt nam. Nhà đầu tư luôn nhận được sự
đối xử thoả đáng từ phía nhà nước ta. Chính sách nhất quán này đã được Luật
ĐTNN 96 ghi nhận: " nhà nước CHXNCH Việt nam bảo đảm đối xử công bằng
và thoả đáng đố với các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt nam".
Vậy, với những quy định pháp luật nha nhau trong cùng một điều kiện,
những quyền lợi và nghĩa vụ của các nhà đầu tư cũng như nhau, tất cả đều bình
đẳng trong một môi trường đảm bảo chung.
Nhà nước Việt nam hoàn toàn ủng hộ, khuyến khích những dự định tốt
đẹp của các nhà ĐTNN, thể hiện ở việc nhà nước ta đã giành sự ưu đãi của mình
đối với vốn của bên chủ đầu tư như: đa dạng hoá vốn góp, không quy định thời
hạn bắt buộc cho việc góp vốn và người đầu tư có quyền quyết định sử dụng vốn
trong khuôn khổ pháp luật Việt nam.
Điều 7 Nghị định 12/CP nêu rõ: " Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn
bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên quy định trách nhiệm và phân chia kết
quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt nam mà
không thành lập pháp nhân" hay tại điều 26 ghị định 12/CP "doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu ủa nhà ĐTNN do nhà
ĐTNN thành lập tại Việt nam, tự quản và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh". Điều 46 ghị định 12/CP cũng nghi nhận: "doanh nghiệp có vốn ĐTNN,
23
các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh có quyền tự chủ kinh doanh theo
mục tiêu quy định trong giấy phép đầu tư, được nhập khẩu thiết bị, máy móc,
vật tư, phương tiện vận tải, trực tiếp hoặc uỷ quyền xuất khẩu về tiêu thụ sản
phẩm của mình để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của pháp luật".
Tâm lý chung của các nhà ĐTNN khi đầu tư vào Việt nam họ rất lo sợ
Chính phủ Việt nam bằng các biện pháp hành chính thực hiện quyền lực của

trưng thu trừ trường hợp vì mục đích công cộng hay lợi ích quốc gia. Trong
trường hợp này, nhà ĐTNN sẽ được nhận các khoản bồi thường thoả đáng bằng
ngoại tệ mà họ đã sử dụng để đầu tư. Pháp luật Trung Quốc, Hàn Quốc đều quy
định bảo đảm tài sản nhà ĐTNN không bị trưng thu.
Như vậy hầu hết các nước trong khu vực như: Việt nam, Đài Loan,
Malaysia, Philipines, Hàn Quốc, Indonesia đều ghi nhận việc không quốc hữu
hoá hay không trưng thu doanh nghiệp có vốn ĐTNN của nhà đầu tư khi đầu tư
vào nước mình, đồng thời nêu rõ nếu có sự thay đổi của pháp luật nước chủ nhà
gây thiệt hại hay trưng thu thì các nhà ĐTNN sẽ nhận sự bồi thường thoả đáng
tuỳ theo điều kiện của mỗi nước mà việc bồi thường được xác định khác nhau,
nhưng nó chung là đều giải quyết công bằng thoả đáng quyền lợi nhà ĐTNN.
Riêng Đài Loan thì việc quy định bảo hộ đầu tư cỉ được áp dụng có điều
kiện trong một số trường hợp nhất định mà thôi. Đó là ĐTNN được đảm bảo
không bị trưng thu vòng 20 năm từ khi bắt đầu dự án nếu như phần vốn góp
nước ngoài trong dự án đó tối thiểu là 45%. Nếu phần vốn góp nước ngoài ít
hơn 45% thì nhà đầu tư không được hưởng sự đảm bảo trên, nhưng trong trường
hợp bị trưng thu vì mục đích quốc phòng thì sẽ được đền bù thoả đáng bằng
ngoại tệ mà nhà ĐTNN sử dụng để đầu tư.
Qua những quy định về bảo hộ đầu tư của các nước đã cho ta thấy quy chế
bảo hộ đầu tư của Việt nam đố với vốn và tài sản của nhà ĐTNN được mở rộng
và triệt để hơn so với các nước trong khu vực hay nói cách khác môi trường bảo
hộ đầu tư của Việt nam hấp dẫn hơn.
Sở dĩ luật Việt nam quy định như vậy vì ngoài việc thu hút mạnh nguồn
vốn ĐTNN như đã trình bày ở các phần trên, nó còn xuất phát từ nhận thức rằng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status