Các biện pháp khuyến khích & bảo hộ đầu tư nước ngoài tại Việt nam - Pdf 12

lời mở đầu
Hiện nay, việc thu hút đầu t nớc ngoài đang trở thành bộ phận chủ yếu của
quan hệ kinh tế thế giới. Nó là nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nớc nhằm
hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia phát triển và là đòi hỏi khách quan của
quá trình phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nớc. Đối với các nớc đang phát triển, đầu
t nớc ngoài là một trong những nhân tố chủ yếu cho sự tăng trởng kinh tế, là một
trong những chỉ số căn bản đánh giá khả năng phát triển. Mở rộng hoạt động kinh
tế đối ngoại, phát triển ngoại thơng, thực hiện tốt chơng trình hàng xuất khẩu thu
hút đầu t nớc ngoài vào Việt Nam là những nhiệm vụ có tầm chiến lợc quan trọng
trớc mắt, là lâu dài của Đảng và Nhà nớc ta.
Trong điều kiện hiện nay, khi mà nguồn vốn đầu t ngày càng khan hiếm,
cuộc cạnh tranh để thu hút vốn ngày càng trở nên gay gắt, các nớc đều nhận thức
đợc vai trò của đầu t trực tiếp nớc ngoài và luôn có những quyết sách thích hợp để
cải thiện môi trờng đầu t. Các biện pháp khuyến khích đầu t ngày càng mở rộng
phong phú hơn, cùng với nền tảng bảo hộ pháp chế chắc chắn tạo nên môi trờng
đầu t thông thoáng, hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu t.
Việt Nam, sau hơn 10 năm ban hành Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
(1987), đã có những đổi mới căn bản trong nhận thức và đờng lối, chính sách
khuyến khích đầu t nớc ngoài đã đạt đợc thành tựu đáng khích lệ, nguồn vốn, công
nghệ, kinh nghiệm quản lý đã bớc đầu đợc thu hút, tốc độ tăng trởng kinh tế đợc
thúc đẩy theo hớng tích cực. Tuy nhiên, trong một số năm gần đây đồng vốn đầu t
trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam có xu hớng chững lại, mục tiêu chiến lợc đặt ra
đến năm 2005 gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để đẩy mạnh hơn nữa việc thu hút đầu
t nớc ngoài vào Việt Nam cần có những biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu t
nớc ngoài vào Việt Nam sao cho thoáng hơn nữa nhằm tạo ra môi trờng đầu t hấp
dẫn để có thể cạnh tranh với các nhà đầu t trên thế giới. Đặc biệt, đó là điều hết
sức cần thiết và có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc.
Trong bài viết này của em nghiên cứu. Các biện pháp khuyến khích và bảo
hộ đầu t nớc ngoài tại Việt Nam. Bố cục bài viết gồm:
- Chơng I: Tình hình đầu t tại Việt Nam
- Chơng II: Các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu t nớc ngoài tại

lợi khác của các tổ chức cá nhân nớc ngoài tạo điều kiện thuận lợi khác của các tổ
chức, các cá nhân nớc ngoài tạo điều kiện thuận lợi và qui định các thủ tục dễ
dàng cho các tổ chức, cá nhân đó đầu t vào Việt Nam. Việc Nhà nớc làm là đảm
bảo vệ mặt pháp lý chắc chắn cho hoạt động ĐTNN tại Việt Nam.
3
Qua thực tiễn áp dụng, để phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, Nhà nớc
ta đã tiến hành sửa đổi bổ sung luật ĐTNN hai lần: Luật ĐTNN sửa đổi bổ sung
30/6/1990; Luật ĐTNN sửa đổi bổ sung 23/12/1992. Đồng thời các văn bản pháp
qui có liên quan cũng đợc từng bớc ban hành, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Hệ
thống văn bản này đến cuối 1995 bao gồm hơn 100 văn bản pháp luật cụ thể hoá
và hớng dẫn thi hành Luật ĐTNN. Tổng cộng đã có hơn 30 văn bản dới luật đã đ-
ợc ban hành sau Luật ĐTNN 1996. Đến nay, Luật ĐTNN sửa đổi bổ sung ngày
1/7/2000 đã đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ
họp thức 7 thông qua.
Luật ĐTNN tại Việt Nam liên tục đợc sửa đổi và hoàn thiện trong suốt quá
trình xây dựng đất nớc phần nào làm cho một số nhà đầu t e ngại, họ cho rằng
pháp luật Việt Nam cha ổn định và cảm thấy không yên tâm khi đầu t. Nhng trong
thực tế, việc hoàn thiện liên tục này không làm ảnh hởng và không gây ra những
tác động tiêu cực đối với hoạt động đầu t của các nhà đầu t mà nó chỉ từng bớc
hoàn thiện hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn và cơ cấu hợp lý hơn, nó chứa đựng
những qui phạm thực chất qui định cụ thể biện pháp khuyến khích, u đãi và bảo
đảm quyền lợi nhà ĐTNN. Việc sửa đổi bổ sung Luật ĐTNN tại Việt Nam luôn
nhất quán với nguyên tắc mà Hiến pháp 92 đã nêu rõ: Nhà nớc khuyến khích các
tổ chức cá nhân nớc ngoài đầu t vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp
luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế, bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối
với tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nớc ngoài. Doanh
nghiệp có vốn ĐTNN không bị quốc hữu hoá.
2. Một số sửa đổi quan trọng để khuyến khích và bảo hộ đầu t của Luật
ĐTNN tại Việt Nam.
- Về các hình thức đầu t: Trớc đây, Luật ĐTNN 1987 và Luật sửa đổi 1990

trong trờng hợp thay đổi qui định của pháp luật Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích
của nhà đầu t nh qui định mới u đãi hơn ban hành sau khi đợc cấp phép đầu t sẽ đ-
ợc áp dụng cho doanh nghiệp ĐTNN đã đợc cấp giấy phép đã và đang hoạt động.
- Nhóm 2: Những điều khoản nhằm giảm hoặc xoá bỏ sự áp đặt hay can thiệp
trái với thông lệ quốc tế vào việc tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ Các nhà đầu t đợc chủ động chuyển nhợng vốn, lập các quĩ, tổ chức, sắp
xếp lại doanh nghiệp.
5
+ ND của nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị doanh nghiệp liên
doanh thu hẹp hơn so với trớc.
- Nhóm 3: Những điều khoản mới u đãi làm cho môi trờng đầu t hấp dẫn hơn
nh:
+ Giảm thuế chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài.
+ Miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị và phơng tiện nhập khẩu để
tạo dựng tài sản cố định của doanh nghiệp, phía Việt Nam có trách nhiệm trong
việc đền bù và giải phóng mặt bằng.
+ Cho phép nhà đầu t chọn áp dụng luật nớc ngoài đối với vấn đề cha đợc
quy định trong pháp luật Việt Nam.
+ Tinh giản hơn nữa thủ tục hành chính trong thẩm định, cấp giấy phép và
quản lý dự án ĐTNN.
Nh vậy, những sửa đổi của luật ĐTNN ngày càng tạo ra một môi trờng đầu t
thông thoáng và hấp dẫn hơn.
II. Đầu t trực tiếp và đầu t gián tiếp.
1. Đầu t trực tiếp:
Là hình thức đầu t quốc tế chủ yếu mà chủ ĐTNN đầu t toàn bộ hay phần đủ
lớn vốn đầu t của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành
các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thơng mại.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài có đặc điểm sau:
Thứ nhất, đây là hình thức đầu t bằng vốn của t nhân do các chủ đầu t quyết

Là hình thức đầu t quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu t nớc ngoài đầu t bằng
hình thức mua cổ phần của công ty nớc sở tại (có mức khống chế nhất định) để thu lợi
nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tợng mà họ bỏ vốn đầu t.
Đầu t gián tiếp nớc ngoài có những điểm sau:
Thứ nhất, phạm vi đầu t có giới hạn vì chủ đầu t chỉ có thể quyết định mua cổ
phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triển trong t-
ơng lai.
Thứ hai, số lợng cổ phần của các công ty nớc ngoài đợc mua bị khống chế
trong mức độ nhất định tuỳ theo từng nớc để không có cổ phần nào chi phối doanh
nghiệp. Thông thờng là phải dới 10-25% vốn pháp định.
7
Thứ ba, chủ ĐTNN không tham gia điều hành doanh nghiệp, do đó bên tiếp nhận
đầu t có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh. Chủ đầu t nớc ngoài thu đợc lợi
nhuận qua lãi suất cổ phiếu không cố định tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh.
Thứ t , tuy doanh nghiệp đầu t không có khả năng tiếp thu công nghệ kỹ thuật
hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhng thay vào đó doanh nghiệp có khả năng phân tán rủi
ro kinh doanh trong những ngời mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp.
Qua sự phân tích trên, đã phần nào thể hiện đợc u thế của hình thức ĐTNN so
với đầu t gián tiếp và các hình thức đầu t quốc tế khác. Trong điều kiện của nớc ta
hiện nay, hình thức ĐTNN là phù hợp và có hiệu quả nhất.
8
Ch ơng II
các biện pháp khuyến khích
và bảo hộ đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
I. Các biện pháp khuyến khích đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam.
Biện pháp khuyến khích đầu t là các biện pháp của Chính phủ đợc đặt ra để
tác động tới qui mô, địa điểm hay ngành nghề đầu t thông qua việc tác động tới
chi phí tơng đối hay lợi nhuận tiềm năng hoặc bằng cách thay đổi rủi ro đi kèm với
các dự án đó. Các biện pháp khuyến khích đầu t có thể dành cho công ty nớc ngoài

* Khu vực:
- Khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
- Khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Các dự án đầu t vào khu vực khuyến khích đầu t và các dự án đặc biệt khuyến
khích đầu t đợc dành một số u đãi về thuế. Có thể nói, dựa vào mục tiêu phát triển
đất nớc theo hớng CNH, HĐH dựa vào nguồn nhân lực vốn có của đất nớc và định
hớng thị trờng mà Chính phủ đã xác định rõ các lĩnh vực cần thu hút FDI và có các
biện pháp để khuyến khích ĐTNN. Nhà ĐTNN khi đầu t vào các lĩnh vực và địa
bàn khuyến khích đầu t sẽ đợc hởng thêm các u đãi đặc biệt, các qui định của pháp
luật dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và đảm bảo cho hoạt động đầu t có
hiệu quả.
2. Các hình thức thu hút FDI.
Hiện nay, FDI vào Việt Nam đợc thực hiện theo các hình thức sau:
- Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do 2 bên hoặc nhiều bên hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc ký Hiệp định giữa nớc
cộng hoà XHCN Việt Nam với Chính phủ nớc ngoài hoặc là doanh nghiệp do
doanh nghiệp có vốn ĐTNN hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh
nghiệp liên doanh hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở Hợp đồng liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài là doanh nghiệp do nhà ĐTNN đầu t
100% vốn tại Việt Nam.
10
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hợp đồng hợp
tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa 2 bên hoặc nhiều bên để tiến hành hoạt động
đầu t mà không thành lập doanh nghiệp.
Hợp đồng BOT, BTO, BT
- Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao là văn bản ký kết giữa cơ quan
Nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà ĐTNN để xây dựng, kinh doanh
công trình kết cấu hạ tầng trong 1 thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà ĐTNN
chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nớc Việt Nam.
- Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh là văn bản ký kết giữa cơ quan

chúng ta không đủ khả năng về vốn cũng nh công nghệ để tham gia liên doanh.
Đến cuối 1999 hình thức này chiếm 7,1% số dự án và 10% vốn đầu t. Thời gian
qua chúng ta mới chỉ thu đợc 4 dự án BOT, cha có dự án BTO, BT. Các qui định
của luật và văn bản dới luật về hình thức đầu t này nhìn chung còn sơ sài, lỏng lẻo,
gây khó khăn trong việc giải thích hớng dẫn và vận dụng. Trong thực tế lại khá
phức tạp vì nó liên quan đến nhiều vấn đề nh thủ tục, vốn góp, tổ chức khai thác
phân chia lợi nhuận, giải quyết tranh chấp. Ưu thế của hình thức này ở chỗ nó là
hình thức đầu t đơn giản, các bên tham gia không phải ràng buộc với nhau trong
một pháp nhân chung, vì vậy trong khi tiến hành khai thác các bên vẫn duy trì đợc
tính độc lập của mình. Luật ĐTNN hiện nay không cho hình thức Hợp đồng hợp
tác kinh doanh đợc hởng u đãi của chế độ miễn giảm thuế nh đối với doanh nghiệp
có vốn ĐTNN. Đây cũng là vấn đề làm nhà ĐTNN tính toán có nên đầu t hay
không. Ví dụ nh theo các nhà đầu t của Mỹ, hình thức đầu t theo Hợp đồng hợp tác
kinh doanh là có lợi cho họ về thuế theo luật của Mỹ nhng nếu đầu t vào Việt Nam
họ lại không đợc hởng u đãi nh các doanh nghiệp có vốn ĐTNN.
So với các quốc gia khác, hình thức thu hút FDI của Việt Nam còn đơn điệu
và ít có cơ hội cho nhà ĐTNN lựa chọn. Đây là một thực tế khách quan phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh nớc ta, giúp cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quản lý,
giám sát đợc hoạt động ĐTNN nhng lại là điều khiến nhà ĐTNN ngần ngại khi bỏ
vốn vào vì họ không có nhiều hình thức đầu t để lựa chọn. Lấy kinh nghiệm các n-
ớc nh Trung Quốc, nhà ĐTNN có thể lựa chọn một trong nhiều hình thức sau:
thành lập liên doanh hợp tác, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp toàn bộ sở
hữu nớc ngoài, tham gia cổ phần tại các công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn
Trung Quốc, thành lập chi nhánh công ty nớc ngoài tại Trung Quốc, thành lập
công ty Holding company (Công ty quản lý vốn, đa mục tiêu, đa dự án), thành lập
văn phòng đại diện, tiến hành các hoạt động gia công và lắp ráp tại Trung Quốc,
tham gia công ty cổ phần có vốn ĐTNN.
ở Inđônêxia, nhà ĐTNN có thể chọn các hình thức sau: liên doanh với một
công ty Inđônêxia để thành lập một công ty liên doanh trách nhiệm hữu hạn, thành
12

khu liên doanh với nớc ngoài xây dựng, 1 khu do Đài Loan bỏ 100% vốn xây
dựng, số còn lại do Việt Nam tự bỏ vốn xây dựng. Trong số 58 KCN nói trên, tính
13
đến cuối 1999 mới có hơn 20 KCN đã thu hút đợc vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Dẫn đầu là KCN Biên Hoà 2, KCX Tân Thuận, KCN Sài Đồng B. Còn nhìn chung
các KCN khác số dự án vào còn rất ít nhiều lô đất trong KCN còn bị bỏ trống, có
khi chỉ sử dụng 35% diện tích. Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân khác nhau:
do kết cấu hạ tầng bên ngoài KCN xây dựng rất chậm và thiếu đồng bộ, do chi phí
điện nớc, dịch vụ kỹ thuật của KCN còn quá cao, có quá nhiều loại phí và lệ phí
đào tạo nên tâm lý không muốn đầu t vào các KCN.
Tóm lại, thu hút các dự án FDI vào các KCN là một chủ trơng hoàn toàn
đúng đắn nhằm phát triển nhanh nền công nghiệp nớc ta, phục vụ đắc lực sự
nghiệp CNH, HĐH đất nớc nhng một thực tế là việc phát triển các KCN của ta cha
đủ sức thu hút các dự án FDI, làm giảm nhịp độ vốn đầu t FDI vào Việt Nam trong
những năm tới, chúng ta cần cải tiến cơ chế hoạt động của các KCN, KCX.
3. Những u đãi về tài chính:
Đối với các doanh nghiệp cũng nh đối với các nhà ĐTNN, đầu t vào Việt
Nam thì vấn đề lợi nhuận là yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình kinh doanh
mà trong đó thuế là yếu tố quan trọng nhất để so sánh sự u đãi về đầu t, các doanh
nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hiện đang áp dụng hệ thống
thuế bao gồm hơn 10 loại thuế và một số loại phí nh: thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế VAT, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế
XNK, thuế môn bài, lệ phí chớc bạ, lệ phí chứng th. Tuy nhiên theo quy định của
luật ĐTNN có sự khác biệt đáng kể giữa đầu t trong nớc và ĐTNN về một số loại
thuế, thể hiện sự u đãi và khuyến khích của Nhà nớc đối với nhà ĐTNN.
3.1. Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đợc qui định tại điều 45, 46, 47, 48, Nghị định 24CP ngày 31/7/2000.
* Mức thuế suất phổ thông: Doanh nghiệp có vốn ĐTNN và bên hợp doanh
nớc ngoài nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất là 25% lợi nhuận thu đợc.
* Mức thuế suất u đãi:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status