BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---- K ---
ĐỖ THẾ MÃI
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI
NHÁNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN NGỌC ẢNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TẠI VIỆT NAM ....................................................................................................1
1.1. Những lý luận chung về tín dụng Ngân hàng...................................................1
1.1.1.Khái niệm tín dụng............................................................................................1
1.1.1.1.Khái niệm........................................................................................................1
1.1.1.2. Phân tích vận động của một khoản tín dụng..............................................1
1.1.2. Chức năng của tín dụng..................................................................................2
1.1.2.1. Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ.........................................................2
2.1.2. Giới thiệu về Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam - chi nhánh Bình
Dương.........................................................................................................................27
2.2. Thực trạng về hoạt động tín dụng DNNVV tại Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam - chi nhánh Bình Dương..............................................................28
2.2.1. Phân tích tình hình dư nợ cho vay .................................................................28
2.2.1.1. Dư nợ cho vay phân theo thành phần kinh tế ............................................30
2.2.1.2. Dư nợ cho vay phân theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh....................31
2.2.1.3. Dư nợ cho vay phân theo loại tiền cho vay ................................................32
2.2.2. Phân tích tình hình dư nợ cho vay DNNVV ...................................................33
2.2.2.1. Dư nợ cho vay phân theo thành phần kinh tế ............................................34
2.2.2.2. Dư nợ cho vay phân theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh....................35
2.2.2.3. Dư nợ cho vay phân theo loại tiền cho vay ................................................36
2.3. Đánh giá hoạt động tín dụng DNNVV tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam - chi nhánh Bình Dương ...........................................................................37
2.3.1. Thuận lợi...........................................................................................................37
2.3.2. Khó khăn, tồn tại và hạn chế ..........................................................................39
2.3.2.1. Về phía bản thân các doanh nghiệp ............................................................39
2.3.2.2. Về phía bản thân ngân hàng ........................................................................43
2.3.2.3. Về môi trường vĩ mô.....................................................................................49
Kết luận chương 02 ...................................................................................................53
Chương 3:
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH
BÌNH DƯƠNG .............................................................................................................55
3.1. Giải pháp đối với bản thân các doanh nghiệp .................................................55
3.1.1. Phải xác định mục tiêu của doanh nghiệp, có phương án kinh doanh khả
thi để thuyết phục ngân hàng ...................................................................................55
3.1.2. Tạo lập được khả năng vay không có bảo đảm bằng tài sản ......................55
3.3.8. Một số góp ý về sửa đổi một số điều luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
các TCTD mở rộng cho vay DNNVV .........................................................................75
3.3.8.2. Đề nghị sửa đổi nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch
bảo đảm ......................................................................................................................76
3.3.8.3. Đề nghị sửa đổi khoản 2 điều 111 Luật đất đai năm 2003.........................76
Kết luận chương 03 ...................................................................................................77
KẾT LUẬN...................................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................................79
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATM:
Thẻ rút tiền tự động
DNVVN:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NHNN:
Ngân hàng nhà nước
QBLTD:
Qũy bảo hành tín dụng
TCTD:
Tổ chức tín dụng
Bảng 2.4b: Số liệu tín dụng DNVVN
Bảng 2.5a: Dư nợ DNVVN phân theo thành phần kinh tế
Bảng 2.5b: Tỷ lệ dư nợ DNVVN phân theo thành phần kinh tế
Bảng 2.6a.Dư nợ DNVVN phân theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
Bảng 2.6b: Tỷ lệ dư nợ DNVVN phân theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
Bảng 2.7: Dư nợ DNVVN phân theo loại tiền cho vay
LỜI MỞ ĐẦU
I.Tính cấp thiết của đề tài
Tín dụng ngân hàng luồn là một kênh huy động vốn quan trọng và đắc lực
đối với nhiều thành phần kinh tế. Ngày càng có nhiều tổ chức kinh tế, thể nhân
được tiếp cận nguồn vốn vay từ các TCTD, qua đó tăng cường được nguồn lực tài
chính, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, hiện đại hóa kỹ thuật, công nghệ,
gáp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống
người dân.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể vay vốn ngân hàng,
đặc biệt là các DNVVN, vốn là những doanh nghiệp thường có nguồn vốn tự có
thấp, khả năng tài chính không mạnh, tài sản đảm bảo ít hoặc không đáp ứng được
các điều kiện vay vốn của TCTD. Đây là một thực tế đã tồn tại trong nhiều năm
qua và nó càng phổ biến tại những TCTD lớn vốn có thương hiệu và có nhiều sự
lựa chọn khi ra quyết định cho vay đối với khách hàng
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương,
trong suốt những năm qua, dư nợ tín dụng đối với DNVVN luôn chiếm một tỷ
trọng rất thấp trong tổng dư nợ (chiếm dưới 20% tổng dư nợ). Chỉ các DNVVN có
tình hình tài chính thật tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, đồng thời giá
trị tài sản đảm bảo lớn hơn rất nhiệu so với giá trị khoản vay, tính thanh khoản của
tài sản đảm bảo cao,… thì ngân hàng mới xem xét cho vay. Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến tình trạng trên như ngân hàng tích cho vay những khách hàng lớn, tình
trạng thiếu nguồn nhân lực, bản thân DNVVN chưa đáp ứng đủ điều kiện cho
nhằm mở rộng tín dụng DNVVN TẠI Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
– Chi nhánh Bình Dương.
IV.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, đồng thời vận dụng một số phương pahps như phương pháp phân
tích, phương pháp so sánh, thống kê…
V. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo kết cấu như
sau:
Chương 1: Tổng quan về DNVVN tại Việt Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng DNVVN tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương
Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng DNVVN tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương.
Để minh họa cho luận văn đã sử dụng số liệu của Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương, các báo tạp chí, các số liệu trên các
trang Web, các báo cáo có liên quan đến tình hình kinh tế tỉnh Bình Dương.
1
1
Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TẠI VIỆT NAM
1.1. Những lý luận chung về tín dụng Ngân hàng
1.1.1. Khái niệm tín dụng
1.1.1.1. Khái niệm:
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La Tinh là credo, có nghĩa là tin tưởng, là tín
Hoàn trả giá trị tín dụng + lãi (2)
1.1.2. Chức năng của tín dụng :
1.1.2.1. Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ:
Đây là chức năng cơ bản nhất. Bằng phương pháp tín dụng hay sử dụng đòn
bẩy tín dụng để tập trung các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội rồi phân phối lại
dưới hình thức cho vay để đáp ứng các nhu cầu về vốn cho các hoạt động sản xuất,
kinh doanh và đời sống.
Chức năng tập trung và phân phối lại vốn là chức năng cơ bản và có ý nghĩa to
lớn của tín dụng đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Nhờ chức năng tập trung
và phân phối lại tiền tệ của tín dụng mà phần lớn nguồn tiền trong xã hội từ chỗ là tiền
“nhàn rỗi” một cách tương đối đã được huy động và sử dụng cho các nhu cầu của sản
xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội tăng
1.1.2.2. Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội:
Hoạt động tín dụng mà cơ bản và trước hết là tín dụng ngân hàng thì sẽ gây ra
một hiệu ứng như sau:
Thu hút nhiều đơn vị và nhiều cá nhân mở tài khoản tiền gửi. Số lượng tài
khoản sẽ ngày càng gia tăng và tiền mặt trong nền kinh tế xã hội sẽ giảm đi một cách
tương ứng. Nhờ đó sẽ tiết kiệm chi phí in ấn, bảo quản tiền mặt, tạo ra văn minh tiền
tệ, có lợi cho xã hội. Khi nhiều đơn vị, nhiều tổ chức cá nhân mở tài khoản ở ngân
hàng thì hầu hết các khoản giao dịch, thanh toán sẽ được thực hiện dưới hình thức
chuyển khoản. Nó đảm bảo an toàn, chính xác, mang lại nhiều lợi ích lớn cho xã hội,
tạo điều kiện cho nền kinh tế - xã hội phát triển.
1.1.2.3. Phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế:
Đây là chức năng phát sinh từ hai chức năng nói trên, tín dụng phát triển được
là dựa trên cơ sở của sự tín nhiệm. Sự tín nhiệm đó phải có nền tảng, phải có cơ sở là
3
-
Cho vay nhiều hơn (hạn mức tín dụng cao hơn), tỷ lệ cho vay cao hơn
4
-
Quan hệ với nhiều khách hàng hơn
-
Mở rộng tín dụng về mặt đối tượng khách hàng và phạm vi vị trí địa lý
-
Cung ứng đa dạng hơn các sản phẩm tín dụng: cho vay, bảo lãnh, bao thanh
toán, chiết khấu,…
Qua đó các DNNVV dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các sản phẩm tín dụng
của TCTD.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV:
-
Cung ứng vốn lưu động để đảm bảo cho DNNVV họat động sản xuất kinh
doanh liên tục; cung ứng vốn cố định cho DNNVV đầu tư mở rộng sản xuất,
phát triển doanh nghiệp, qua đó làm giảm tình trạng tín dụng ngầm
-
5
- Cho vay cá nhân là cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm
các vật dụng, các khoản cho vay để bù đắp các chi phí đời sống thông qua phát hành
thẻ tín dụng.
Căn cứ thời hạn cho vay, tín dụng được chia làm ba loại như sau:
- Cho vay ngắn hạn: thời gian cho vay tối đa là 12 tháng.
- Cho vay trung hạn: thời gian cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
- Cho vay dài hạn: thời gian cho vay trên 60 tháng.
Căn cứ mức độ tín nhiệm đối với khách hàng cho vay được chia làm hai loại:
- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách
hàng.
- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thức ba.
1.2. Đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam và sự cần thiết phát triển DNNVV
1.2.1. Khái niệm về DNNVV
Thực ra không có một sự phân loại chung nào được thống nhất trên bình diện
quốc tế về những gì cấu thành nên một doanh nghiệp “ nhỏ” và “vừa ”. Các khái niệm
và việc phân loại thay đổi từ nước này qua nước khác. Quy mô của một doanh nghiệp
thường được xác định bởi nhiều chỉ tiêu khác nhau, bao gồm: tài sản, số người lao
động, cơ cấu vốn của chủ sở hữu, nguồn, loại hình tài trợ và lĩnh vực doanh nghiệp
hoạt động. Tại Việt Nam theo Nghị Định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 thì
DNNVV được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã
đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ,
vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác
định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm
(tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
xuống
III. Thương mại 10 người trở
và dịch vụ
xuống
Khu vực
Doanh nghiệp vừa
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
20 tỷ đồng
trở xuống
- Luật doanh nghiệp Nhà Nước.
- Luật hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị Định số 02/2000/NĐ-CP ngày
02/02/2000 của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh.
Qua đó ta thấy các DNNVV hoạt động rất đa dạng trên mọi lĩnh vực hoạt động
và đa dạng hóa các ngành nghề.
Ở Việt Nam hiện nay khi nói đến DNNVV người ta chỉ chú ý đến quy mô
nguồn vốn đăng ký kinh doanh và quy mô lao động chứ không chú ý đến thành phần
kinh tế. Tuy nhiên theo định nghĩa của thông lệ quốc tế thì “các DNNVV” là từ chỉ
dùng để dành riêng cho các xí nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân.
1.2.2. Đặc điểm của các DNNVV
Từ định nghĩa trên ta thấy các DNNVV có một số đặc điểm sau:
- Các DNNVV được phân bổ rộng khắp trên địa bàn cả nước, nó không tập
trung vào một số khu vực cũng như lĩnh vực sản xuất nhất định. Nó đa dạng hoá về
loại hình hoạt động và hình thức tổ chức, không phân biệt thành phần kinh tế.
7
- Có bộ máy quản lý gọn nhẹ, công tác điều hành thường mang tính trực tiếp, ở
một số doanh nghiệp người quản lý ngoài chức năng quản lý doanh nghiệp còn kiêm
luôn một số vị trí khác vì vậy làm cho mối quan hệ giữa người lao động và quản lý rất
chặt chẽ.
- Quy mô sản xuất nhỏ, có tính năng động, linh hoạt, nhạy cảm với những thay
đổi của thị trường.
- Hoạt động chủ yếu ở các ngành thủ công mỹ nghệ, gia công may mặc, sản
xuất các thiết bị linh kiện điện tử; thường kinh doanh các ngành hàng nhỏ, mới, có giá
trị thấp mà các doanh nghiệp lớn thường không chú ý như: thực phẩm (giò chả, ruốc,
bánh đa…), các ngành chế biến nông sản, gia công may mặc,…
- Dễ thành lập doanh nghiệp do đòi hỏi vốn ít, diện tích mặt bằng không nhiều,
dụng của các DNNVV)
+ Các DNNVV góp phần cung cấp một khối lượng lớn các sản phẩm vừa đa
dạng vừa phong phú, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường… đã tạo nên động
lực thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế.
+ Với sự đa dạng của các thành phần kinh tế, các DNNVV đã tạo ra một môi
trường kinh doanh hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài, góp
phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước
+ Các DNNVV không chỉ có các doanh nghiệp nhà nước mà còn có các doanh
nghiệp tư nhân, công ty TNHH, hộ kinh doanh cá thể. Vì vậy các DNNVV có điều
kiện được tiếp xúc trực tiếp với nguồn vốn tự có trong dân, gây được niềm tin để có
thể huy động được vốn vì họ có thể là bạn bè, anh em, hay thậm chí là những người
cùng chung chí hướng làm ăn. Hoặc cũng có thể họ tự bỏ vốn ra tự mình kinh doanh.
+ Ngoài ra các DNNVV còn có vai trò là nơi để các doanh nghiệp trẻ có thể
phát huy được tính sáng tạo, tự chủ trong kinh doanh của mình góp phần giúp nền
kinh tế đào tạo, chọn lọc thử thách các nhà kinh doanh trên mặt trận sản xuất kinh
doanh.
- Thứ hai là vai trò đối với xã hội:
+ Với chính sách đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước của Chính
Phủ, các doanh nghiệp Nhà nước nào làm ăn không có hiệu quả nhiều năm liền thì sẽ
cho ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc chuyển đổi sang các thành phần kinh
tế khác. Chính điều này đã làm cho xã hội dôi thừa ra một số lượng lao động đáng kể.
Trong hoàn cảnh này các DNNVV ngoài quốc doanh trở thành nơi giải quyết nhu cầu
9
về việc làm cho số lao động được tinh giảm trong các doanh nghiệp và hệ thống hành
chánh Nhà nước.
+ Ngoài ra các DNNVV còn là nơi tạo việc làm cho số lớn những người mới
tham gia vào lực lượng lao động hàng năm. Nhìn chung các DNNVV Việt Nam là
- Tiết kiệm được ngoại hối: đa số các DNNVV không đủ vốn để nhập các thiết
bị công nghệ sản xuất ở nước ngoài nên chủ yếu là sử dụng nhiều công nghệ trong
nước. Vì vậy DNNVV đòi hỏi ít ngoại tệ hơn cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị,
nhưng lại có khuynh hướng sử dụng nhiều nguyên liệu. Và sự đóng góp của các
DNNVV đối với khối lượng hàng xuất khẩu là không đáng kể, nhưng sản phẩm và
dịch vụ xuất khẩu của họ có ý nghĩa rõ rệt đối với xã hội đó là việc làm và sử dụng
nguyên liệu trong nước.
- Thúc đẩy các mối liên kết trong nền kinh tế và tăng hợp đồng phụ giữa các
DNNVV với các doanh nghiệp lớn tạo điều kiện giúp đỡ cùng nhau phát triển.
- Có lợi thế tận dụng và làm tăng tiền tiết kiệm trong nước vì đa số các chủ
doanh nghiệp khi mới thành lập đi vào hoạt động, họ sử dụng các khoản tiết kiệm của
mình và gia đình đã dành dụm được bấy lâu nay.
1.2.5. Sự cần thiết phải phát triển các DNNVV
Qua phân tích về đặc điểm của các DNNVV, vai trò và những lợi thế của các
DNNVV ta thấy môi trường kinh tế nước ta hiện nay rất thích hợp cho sự phát triển
các DNNVV. Các DNNVV đem lại nhiều lợi ích cho sự phát triển của nền kinh tế của
đất nước, đồng thời có những đặc điểm hấp dẫn có thể trợ giúp Chính Phủ trong việc
thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng một xã hội công bằng hơn. Chính
Phủ các nước cũng như Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của
khu vực DNNVV đối với nền kinh tế trong điều kiện các DNNVV đã trải qua sự điều
chỉnh và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Vì vậy sự quan tâm đến việc thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp này ngày
càng tăng. Ngoài việc ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP (đã được thay thế bằng
Nghị định 56/2009/NĐ-CP) về trợ giúp phát triển DNNVV thì dựa trên cơ sở đó Hội
đồng khuyến khích phát triển DNNVV và Cục phát triển DNNVV đã ra đời theo
quyết định số 12/2003/QĐ-TTg và quyết định số 562/QĐ-KH để tạo điều kiện thuận
lợi nhất thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV.
Nền kinh tế nước ta đi lên nền kinh tế thị trường từ nền sản xuất nông nghiệp
lạc hậu. Đến nay, hơn 70% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông
nghệ đang sử dụng lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 3 – 4 thế hệ.
c/ Khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các DNNVV còn thấp,
thị trường tiêu thụ còn nhiều bất cập:
12
Khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các DNNVV còn thấp vì
những lý do sau đây:
- Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao.
- Quy mô vốn và năng lực tài chính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn
vốn) của nhiều DN còn rất nhỏ bé, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững.
- Nhận thức và sự chấp hành luật pháp còn hạn chế. Một số khá lớn DNNVV
còn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định
về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sở hữu công
nghiệp.
- Sự yếu kém về thương hiệu đã góp phần làm yếu khả năng cạnh tranh. Hầu
hết các DNNVV ở Việt Nam chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh, chưa khẳng
định được uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.
Thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế như thị trường chưa đa
dạng, nhiều doanh nghiệp còn quá phụ thuộc vào một vài nhà bao tiêu; thị trường tiêu
thụ chưa ổn định và chưa có tính bền vững, nhiều doanh nghiệp còn làm ăn theo kiểu
“chụp giật”, “ăn xổi”, chưa coi trọng chữ tín trong kinh doanh.
Đặc biệt hiện nay, khi kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng, lạm phát cao và
kéo dài,… thì những yếu kém trên càng bộc lộ rõ. Rất nhiều doanh nghiệp đã phải phá
sản hoặc ngừng hoạt động, giá các mặt hàng nguyên liệu, nhiên liệu như xăng dầu,
sắt, thép, nhựa… tăng nhanh khiến giá cả sản phẩm hàng hoá, dịch vụ theo đó cũng
tăng lên. Tình hình lãi suất, tỷ giá biến động hết sức phức tạp, nằm ngoài khả năng dự
báo đối với tất cả các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại. Khả năng tiếp cận
nguồn vốn vay ngân hàng giai đoạn nửa cuối năm 2008 đối với các doanh nghiệp là
hợp lý, chi phí cao, thời gian kéo dài, nhất là trong các ngành nghề kinh doanh có điều
kiện. Không ít các cơ quan chức năng, cán bộ, công chức còn tuỳ tiện đặt thêm nhiều
thủ tục hành chính phiền hà, làm lỡ thời cơ gây tốn kém cho doanh nghiệp.
b/ Sự bất hợp lý về chính sách thuế và môi trường đầu tư:
Hiện nay tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam đang có dấu hiệu
giảm đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Đó là do cơ sở hạ tầng kém phát triển; do thủ
tục hành chính; do tính minh bạch thông tin; sự bảo hộ của nhà nước ta đối với các
công ty độc quyền nhà nước, các ngành nghề then chốt như điện, nước,… Đứng trước
sự bảo hộ này, các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ, các DNNVV không có
nhiều đối thủ cạnh tranh trong việc giành lấy thị trường. Các DNNVV cũng không đủ
điều kiện theo qui định của pháp luật để đầu tư vào các ngành này.
14
Chính sách thuế cũng còn nhiều bất cập. Thuế thu nhập doanh nghiệp dù đã
giảm nhưng vẫn còn cao. Các thủ tục liên quan đến thuế còn quá rườm rà, phức tạp,
gây khó khăn trở ngại cho doanh nghiệp trong vấn đề kê khai và nộp thuế. Đơn cử,
cách tính thuế thu nhập doanh nghiệp đã gây khó khăn cho các nhà đầu tư đó là việc
khống chế chi phí tiếp thị quảng cáo chỉ ở mức 10%. Thực tế nhiều doanh nghiệp phải
nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lên đến 40%, thậm chí 43%. Như vậy thuế suất thuế
thu nhập doanh nghiệp quá cao, ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập ròng của các doanh
nghiệp. Vì vậy nhiều DNNVV khi mới xâm nhập thị trường thì phải chi rất nhiều chi
phí cho quảng cáo nhưng chỉ được khấu trừ 10% vào chi phí, trong khi thực tế chi phí
này lại lớn hơn rất nhiều mà không được khấu trừ. Điều này tạo ra một gánh nặng
chịu thuế bất hợp lý, làm cho các nhà đầu tư nản lòng, và mức độ đầu tư vào các
DNNVV càng giảm dần.
c/ Bất cập trong việc thu thập và tìm hiểu thông tin:
Hiện nay việc tìm kiếm những thông tin chính xác về DNNVV đang tồn tại và
hoạt động tại Việt Nam là rất khó khăn. Một nhà đầu tư khi có ý định muốn đầu tư
Nguồn vốn của các dự án về phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ
tầng nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở hạ tầng làng nghề nông thôn được vay từ nguồn tín
dụng đầu tư của Nhà nước và được bố trí trong kế hoạch hàng năm với lãi suất 0%
cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Việc hỗ trợ từ ngân sách địa phương,
vay vốn và việc hoàn trả vốn vay đối với các dự án nói trên được thực hiện theo quyết
Định số 132/2001/QĐ-TTG ngày 7/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
Nhà nước cũng cho phép các loại kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân hoạt động
theo luật doanh nghiệp có quyền tham gia hợp tác, liên doanh với các công ty nước
ngoài tại Việt Nam. Đồng thời cũng cho những người Việt Nam cư trú ở nước ngoài,
người nước ngoài thướng trú ở Việt Nam được góp vốn, mua cổ phần của doanh
nghiệp Việt Nam với mức không quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Nhà nước quy định thủ tục đăng ký kinh doanh đơn giản hơn trước cho các
doanh nghiệp mới thành lập, bãi bỏ khoảng 160 giấy phép kinh doanh các loại, nhiều
ngành nghề không còn quy định mức vốn pháp định.
Nhà nước có những giải pháp tháo gỡ từng bước các khó khăn, thủ tục đầu tư
khi vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, có chính sách phát triển ngành nghề nông
thôn, khuyến khích và bảo hộ kinh tế trang trại, phát triển giống thuỷ sản. Hệ thống
ngân hàng cho vay không phải bảo đảm bằng tài sản đối với chủ trang trại ở nông thôn
16
ở mức dưới 20.000.000 VNĐ, chủ trang trại sản xuất giống thuỷ sản ở mức dưới
50.000.000 VNĐ.
Nhà nước thực hiện góp vốn vào các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành
phần kinh tế thơng qua các DNNVV hoặc các TCTD nhà nước. Nếu dự án của doanh
nghiệp có tính khả thi, các quỹ tài trợ tài chính như quỹ hỗ trợ phát triển, qũy bảo
lãnh tài chính sẽ cho doanh nghiệp vay vốn lãi suất ưu đãi.
1.2.7.2. Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV.
Trong những năm qua, việc DNNVV khơng có tài sản thế chấp, cầm cố là một
trong thnh lp QBLTD ca mỡnh, tng cng h tr hn na cho cỏc DNNVV.
Nhng trờn thc t cho n nay cng ch mi khong 10 trờn 61 tnh, thnh ph cú
QBLTD, s cũn li vỡ nhiu lý do thiu ngun vn nờn vn cha thnh lp (trong ú
cng ch cú 3 qu chớnh thc i vo hot ng ti cỏc tnh l Tõy Ninh, ng Thỏp,
Tr Vinh). Trong khi ú ngun vn gúp quan trng t cỏc TCTD li khụng d dt,
bn thõn ngun vn t vn iu l v cỏc qu d tr ca cỏc TCTD trờn a bn cng
khụng nhiu. Do ú, trc mt vic cho phộp s dng vn huy dng di hn gúp
nh mt khon u t ca cỏc TCTD s giỳp gii quyt nhng khú khn trờn, nhng
trong thi hn ti a 10 nm, cỏc TCTD phi cú k hoch thay th ngun vn huy
ng di hn bng ngun vn iu l v qu d tr.
Tuy nhiờn m bo ỳng ý ngha ca mt qu tớn dng ng ra bo lónh vi
ngõn hng cho cỏc DNNVV vay vn, NHNN cng phi khng ch mc gúp vn ca
cỏc TCTD. Trong ú c th: ngõn hng ch c gúp vn bng 6% vn iu l ca
qu, cũn i vi cỏc cụng ty ti chớnh, t l ti a l 10%. Tng mc gúp vn, mua c
phn ca mt TCTD trong tt c cỏc doanh nghip, QBLTD so vi vn iu l v qu
d tr ca TCTD ú ti a l 30% ( i vi ngõn hng) v 40% i vi cụng ty ti
chớnh.
ỏn t chc v quy ch hot ng ca QBLTD DNNVV trỡnh Th tng
Chớnh ph quyt nh. Cỏc TCTD c s dng ngun vn huy ng gúp vn
thnh lp QBLTD cho DNNVV. Cỏc tnh, thnh ph trc thuc trung ng phi b trớ
vn t ngõn sỏch gúp vn iu l ca qu theo ỳng quyt nh s 193/2001/QTTg ngy 20/12/2001 ca Th tng Chớnh ph.
1.2.7.3. Maởt baống saỷn xuaỏt
Trờn c s quy nh phỏt trin kinh t - xó hi v quy hoch, k hoch s dng
t trờn a bn tnh, thnh ph ó c Th tng Chớnh ph phờ duyt, Ch tch
18
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tạo điều kiện cho các DNNVV có mặt
bằng phù hợp, chỉ đạo dành quỹ đất và thực hiện các chính sách khuyến khích để xây