Những bài văn chọn lọc lớp 10 ban nâng cao - Pdf 14

Lu Đức Hạnh (Chủ biên)
Lu Tuyết Hiên - Nguyễn Mai Hơng - Lê Văn Khải
Trịnh Trọng Nam - Trịnh Duy Tuân - Nguyễn Anh Thơ
Những bài văn chọn lọc
lớp 10 chơng trình phân ban
Nhà xuất bản
Lời nói đầu
Từ năm học 2006 - 2007, tất cả các trờng Trung học phổ thông bắt đầu
thực hiện đại trà Chơng trình phân ban.
Việc dạy và học môn Ngữ Văn có những điểm thay đổi cơ bản sau đây :
Thứ nhất, các loại văn bản đợc học theo cách "đọc hiểu". Ngoài việc rèn
luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết còn tập trung rèn luyện hai năng lực phân
tích và cảm thụ. Nhất là cảm thụ văn bản văn học.
Thứ hai, phần viết bài văn (xây dựng văn bản), chơng trình lớp 10 học
sinh phải tạo đợc các kiểu :
+ Cảm nghĩ về đời sống, về văn học
+ Kể chuyện có yếu tố miêu tả và biểu cảm
+ Tóm tắt văn bản tự sự
+ Kể chuyện có yếu tố h cấu
1
+ Thuyết minh (giới thiệu) về đời sống và văn học từ chính xác đến hấp
dẫn.
Cuốn sách này đợc biên soạn bám sát chơng trình Ngữ Văn 10 nhằm giúp
học sinh nâng cao năng lực phân tích , cảm thụ văn học và tạo lập các văn bản
theo kiểu loại mà chơng trình yêu cầu.
Rất mong các em sử dụng sách có hiệu quả.
Các tác giả

Đề số 1
Đức tính trung thực
Bài làm

Tính trung thực cần đợc chú trọng giáo dục, rèn luyện ngay từ những ngày còn
cắp sách tới trờng mà điểm đầu rèn luyện là thành thực với chính bản thân mình. Bởi
vì, Phải thành thật với mình, có thể mới không dối trá với ngời khác (Uy-li-am Sếch-
xpia).
Trung thực là cốt lõi, xoay quanh nó còn nhiều đức tính khác mà quan trọng nhất
là thái độ thẳng thắn, tinh thần, hành động dũng cảm. Không có đức tính này, trung
thực chỉ nh của quý bị dấu kín. Thảng thắn, dũng cảm lại phải chân thành, khéo léo.
Nêu không trung thực - thẳng thắn - dũng cảm sẽ không có tác dụng hoặc bị hạn chế
tác dụng. Ta nên rút ra một điều : rèn luyện tu dỡng các tính tốt là rất cần nhng thể
hiện nó trong xử thế còn quan trọng hơn.
Chẳng hạn, không nhất thiết ta phải thể hiện rõ, đôi lúc ta cũng phải có ứng xử
khéo léo để tránh cho ngời khác nỗi đau đớn về một sự thật phũ phàng nào đó. Nói nh
vậy có nghĩa là ta không cần phải cứng nhắc, rập khuôn mà phải biết c xử sao cho hợp
lí, hợp tình.
Đức tính trung thực là điều mà con ngời, nhất là con ngời trong xã hội hiện đại
cần phải có, cần phải đợc rèn luyện. Vậy sao ta không rèn luyện nó ngay từ khi còn
ngồi trên ghế nhà trờng để khi ra đời ta sẽ xem nó là một trong những điều cần thiết
nhất để bớc vào cuộc sống hiện đại ngày nay.
Đề số 2
Lòng biết ơn thầy cô giáo
Bài làm
Không thầy đố mày làm nên, một triết lí dân gian đã đợc lu truyền từ bao đời
nay. Điều này cho chúng ta thấy ngời thầy có vai trò to lớn đối với con đờng học vấn
của mỗi học trò. Dẫu là học trò bán tự, nhất tự (có câu "nhất tự vi s, bán tự vi s" - một
chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy), huống hồ chi, chúng ta, trong đời ai chẳng là học
trò hơn một lần "nhất tự" hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm này. Nhng điều tôi muốn
nói đến ở đây là một mặt khác nữa của câu tục ngữ - Đó cũng là lời nhắn nhủ, khuyên
răn chúng ta phải nhớ ơn thầy cô.
Mỗi ngời có đợc công danh, sự nghiệp thành đạt đều nhờ công ơn dạy dỗ của
thầy cô. Những ngời chiến sĩ trong cuộc chiến sinh tử với giặc ngoại xâm, trong hành

đâu Đó còn là cách luyện mắt cho tinh, luyện tay cho dẻo". Các thầy cô giáo là ngời
"mài sắt nên kim", công lao biết bao ! Thật đúng nh nhà thơ Bùi Đăng Sinh, hiện nay
đã là nhà giáo kì cựu, lúc còn ngồi trên ghế nhà trờng đã viết :
Đồi cao thắm sắc ti gôn
Trồng hoa thầy đã trồng luôn cả ngời
Các thầy, các cô đang làm một nghề cao quý nhất, nghề dạy học, nghề mà dân
tộc ta vốn rất coi trọng, quan tâm và biết ơn. Ông cha ta thờng nói :
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy
Vì học sinh thân yêu, các thầy giáo, cô giáo đã luôn luôn quan tâm đến sự tiến
bộ, vui sớng trớc sự trởng thành của chúng ta, trăn trở trớc thiếu sót mà chúng ta mắc
phải. Từ cái nôi là nhà trờng, tình cảm gắn bó giữa chúng ta và các thầy cô là một tình
cảm đặc biệt, sâu sắc. Tình cảm đó sẽ cùng đi suốt cuộc đời, động viên, nâng đỡ chúng
ta trởng thành. Mọi ngời chúng ta phải khắc ghi và biết ơn. Phải ghi nhớ trong lòng,
đạo thầy trò là một trong những đạo lớn, giữ cho xã hội lành mạnh, vững chắc. Lại xin
kể với các bạn một câu chuyện mà nhân vật học trò hiện vẫn đang sống và là một nhà
thơ nổi tiếng của chúng ta. Chuyện của nhà thơ Hoàng Cầm, thi sĩ yêu thơng của miền
Kinh Bắc, cái nôi của văn hóa Việt Nam. Nhà thơ đã làm cho con sông Đuống thành
dòng sông trữ tình, dòng sông thi ca. Năm học 1935 - 1936, Hoàng Cầm học với thầy
Hoàng Ngọc Phách, cũng là một nhà văn (tác giả Tố Tâm, thiên tiểu thuyết lãng mạn
vào loại mở đầu văn chơng lãng mạn). Ai ngờ sau đó ít lâu, lại lấy chị gái họ thầy giáo
mình. Một ngày tết ở thị xã Bắc Ninh, khi hai vợ chồng thi sĩ đi chúc tết họ hàng, vào
nhà thầy, theo tôn ti trật tự, thầy cứ một điều "tha bác", hai điều "tha bác". Vợ nhà thơ
cũng thản nhiên "cậu câu, tôi tôi" mặc dù kém đến trên 20 tuổi. Song Hoàng Cầm thì
không dám. Ông lễ phép xng "con", gọi "thầy". Về nhà, bà vợ phàn nàn :
- Sao mình lại xng "con" với cậu ấy ? Cậu ấy là em mình chứ !
Hoàng Cầm đã quả quyết trả lời :
- Anh phải tôn trọng cái điều có trớc. Trớc khi anh là chồng em, anh đã là học trò
của ông Phách từ lâu rồi. Ngời thầy giáo ấy đã có công lớn đào tạo đợc ra anh hôm nay
đấy em ạ !

nhng tranh thủ, mẹ vẫn thờng ghé vào chỗ tôi học. Có những hôm tôi học về khuya,
mẹ lo không ngủ đợc, ngồi ở ghế chờ tới khi tôi về nhà mới im lặng ngả lng. Nhng con
ngời tôi quá vô tâm, về nhà một cái, chào mẹ là chạy tót lên tầng, tôi cũng chẳng để ý
tâm trạng mẹ nh thế nào. Cứ thế ! Lại có lần mẹ nói gì đó, khi tôi đang làm bài tập khó
quá, hình nh mẹ hỏi chìa khoá để ở đâu. Tôi gắt lên với mẹ "mẹ tìm đi sao cứ hỏi con
nhiều thế !". Mẹ không nói gì, thui thủi một mình đi xuống nhà. Thực ra tôi cũng biết
làm mọi việc, chỉ không cẩn thận đợc nh mẹ thôi. Cái chính là có mẹ làm hết nên tôi ỷ
lại, đâm ra lời.
Còn nhớ, tháng trớc, hôm sinh nhật cái Hảo, bạn thân của tôi, Tôi xin đi, mẹ
đồng ý, trớc khi đi mẹ dặn tôi nào là về sớm, nào là đi đờng cẩn thận, không đợc la cà.
Tiệc sinh nhật thật vui, nhng nhớ lời mẹ dặn, tôi đã xin phép ra về . Ai ngờ, giữa đờng
xe bị thủng xăm, dắt bộ một quãng mới có hiệu sửa xe. Về đến nhà đã khoảng 10
h
15,
mồ hôi nhễ nhại, tôi vào nhà, không thấy mẹ chờ tôi nh mọi khi. Chắc mẹ giận, tôi mở
cửa rồi lẳng lặng lên phòng nh mọi khi, cũng sợ mẹ mắng. Nhng rồi mẹ gọi xuống,
dặn ngày mai giúp mẹ làm bữa sáng cho cả nhà vì mẹ cảm thấy khó chịu trong ngời.
Mặt tôi xị ngay ra. Mẹ liền bảo "nếu con cảm thấy không làm đợc thì thôi. Tôi không
nói một lời nào. Đêm ấy tôi chẳng ngủ đợc, sao mẹ không trách, chắc mẹ không thơng
mình nữa vì mình không về đúng giờ, không chăm sóc mẹ lúc ốm đau. Tôi nhớ có hôm
bác Hiền gần nhà sang chơi kể chuyện bác ốm chị An chăm sóc rất chu đáo mẹ nghe,
nét mặt buồn buồn. Nhng mẹ không nói ra chắc mẹ giữ thể diện cho tôi. Nghĩ thế, tôi
thấy hối hận. Tôi quyết định dậy sớm làm bữa sáng để chuộc lỗi với mẹ. Đêm nay đối
với tôi dài dằng dặc nh một năm đã trôi qua. Sáng tôi cố dậy thật sớm để giúp mẹ, tôi
sững sờ cả ngời thấy mẹ đã làm xong, tôi trách mẹ sao mẹ không để cho con làm. Mẹ
lại bảo, vẫn nh những lần trớc : Con thì biết làm gì.
Nhng tôi muốn chứng minh cho mẹ thấy tôi có thể làm đợc. Ngay buổi sáng hôm
đó, đi học về sớm, tôi đã nấu bữa tra với một sự cố gắng cật lực. Khi mẹ về cơm nớc
nấu xong, có điều cái bếp thành một bãi chiến trờng. Không ngờ, mẹ ôm tôi và khóc :
con gái mẹ đã lớn thật rồi. Thế rồi, hai mẹ con tôi vừa dọn dẹp vừa nói chuyện. Tôi hỏi

Phò giá về kinh của Trần Quang Khải là một trong những bài nh thế.
Cuối năm 1284 đầu năm 1285, quân Nguyên- Mông ào ạt tấn công nớc ta lần
thứ hai. Tình thế đất nớc hiểm nghèo, các vua Trần phải dời kinh đô tìm phơng kế
chống đỡ. Nhng chỉ qua mùa xuân năm 1285, quân ta đã chuyển thế tấn công. Tháng t,
trong trận đánh tại Hàm Tử, một địa điểm trên sông Hồng tại huyện Khoái Châu (tỉnh
Hng Yên ngày nay) tớng Trần Nhật Duật đã phá tan đạo quân Thát Đát, bắt sống giặc
Ô Mã Nhi. (Trong Đại cáo bình Ngô sau này Nguyễn Trãi nhầm sự việc nên viết Cửa
Hàm Tử bắt sống Toa Đô, sông Bạch Đằng giết tơi Ô Mã). Tháng 6, Trần Quang Khải
thắng tiếp trận Chơng Dơng, đuổi đạo quân chủ lực của Thoát Hoan chạy dài lên phía
bắc, giải phóng Thăng Long, rớc vua Trần trở lại kinh thành. Trong không khí ấy, ông
ngẫu hứng cao độ làm nên Tụng giá hoàn kinh s (Phò xa giá nhà vua về lại kinh đô)
danh bất h truyền. Cùng khoảng thời gian này, vua Trần khi đến tế ở nhà Thái miếu
cũng ứng khẩu hai câu : "Xã tắc lỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu".
Nghĩa là "Đất nớc hai phen bon ngựa đá /Non sông nghìn thủa vững âu vàng", cùng
một mạch cảm hứng yêu nớc, tự hào dân tộc.
6
Bài thơ chỉ bốn câu, theo lối năm chữ mạch lạc, gọn gàng. Hai câu đầu kể lại
hai chiến công hiển hách vừa mới đó, đang còn tơi nguyên không khí chiến thắng. Có
nét đặc biệt là trình tự các chiến công không đợc nêu theo diễn biến thời gian trớc sau.
Chiến thắng Chơng Dơng trớc, Hàm Tử sau. Cách trình bày nh thế là theo cái lô-gíc
của cảm hứng. Trận sau mới hơn và cũng vang dội hơn. Chính nhờ chiến thắng Chơng
Dơng mà Thoát Hoan phải bỏ chạy, Thăng Long đợc giải phóng. Chính nhờ chiến
tháng Chơng Dơng mà có cái không khí rạo rực phấn chấn trong ngày về lại thủ đô
này. Lời thơ rất cô đúc, vẻn vẹn mời chữ, nêu hai sự việc là cớp giáo giặc và bắt
quân thù. Song qua hai hình ảnh này ngời đọc cảm nhận đợc niềm phấn chấn, hân
hoan. Đúng là câu thơ đăng đối bên ngoài đanh chắc, bên trong chứa chan xúc cảm.
Cảm xúc theo kiểu cô lại. Sự cô đúc này tạo ra một thế năng, khả năng khơi gợi ngời
đọc suy ngẫm. Một trong những đặc trng thẩm mĩ của thi pháp cổ là gợi, ít chú trọng
kể, tả.
Hai câu thơ sau là lời động viên, quyết tâm xây dựng,bảo vệ nền thái bình của giang

Mỗi một nhà văn đều có cảm hứng sáng tác riêng của mình. Nam Cao cũng vậy,
ông là một nhà văn chuyên viết truyện ngắn lấy cảm hứng sáng tác từ những ngời nông
dân trong xã hội cũ, ca ngợi vẻ đẹp nội tâm tiềm tàng của họ. Truyện ngắn Lão Hạc là
một tiêu biểu trong số đó.
Vẻ đẹp của những ngời nông dân nghèo khổ đợc nhà văn thể hiện một cách
khách qua, sâu sắc và truyền cảm qua bức chân dung của Lão Hạc. Trớc hết vẻ đẹp ấy
bộc lộ ở lối sống tình nghĩa. Lão rất thơng cậu vàng - tên thân mật lão đặt cho con
chó vàng. Đó là kỉ niệm về đứa con trai. Một trận ốm đã khiến cho cuộc sống của lão
càng túng bấn, cơm lão ăn mỗi bữa cũng chẳng đủ no nói gì tới việc nuôi thêm con
vàng. Cuối cùng lão phải quyết định bán, mặc dù con vàng đã gắn bó với lão trong
những ngày lão cô đơn nhất. Có điều lão đã băn khoăn day dứt nhiều lần. Khi sang nhà
ông giáo kể về việc bán chó, lão cố tỏ rõ sự vui vẻ, nhng lão "cời mà nh mếu, đôi mắt
ầng ậng nớc, mặt lão đột nhiên co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nớc
mắt chảy ra, cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu nh con
nít, lão hu hu khóc". Lão tự trách mình bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con
chó.
Cách một con ngời, nhất là ngời nghèo khổ đối xử với một con vật là sự thể hiện
nhân cách rõ ràng nhất, bản chất nhất. Chỉ ai sống bằng tình nghĩa, mới biết gắn bó, tri
ân dẫu là với một con vật. Chỉ ai cao thợng mới biết xấu hổ, ân hận trớc hành vi mà
mình coi là phản trắc trớc một con vật.
Vẻ đẹp có sức mạnh nhất trong con ngời là tình thơng yêu, đức hi sinh cao cả.
Bao trùm tính cách lão Hạc chính là tấm lòng, đứ tính này. Thơng con, lão cố gắng
dành dụm tiền cho con cới vợ, cố giữ lấy mảnh vờn cho con, dù cuộc sống có khó
khăn, khổ sở thế nào. Lão cố gắng thu vén sao cho không phiền đến ngời khác. Lão
gửi ông giáo ba mơi đồng bạc phòng khi lão chết có tiền làm ma. Lòng tự trọng đã
không cho phép lão nhận sự giúp đỡ giấu giếm của ông giáo. Đó là phẩm chất kiên c-
ờng của ngời nông dân nghèo khổ.
Nhng đau đớn thay, chính những phẩm chất lớn lao này đã dẫn lão đến với cái
chết. Lão Hạc chủ động chọn cái chết, nghĩa là lão đã hành động quyết liệt nhất, xả
thân để bảo vệ vẻ đẹp con ngời, vẻ đẹp làm ngời.

Nớc bao vây cách biển nửa ngày sông
- Quê hơng tôi có con sông xanh biếc
Nớc gơng trong soi tóc những hàng tre
Thế đấy, quê hơng trong thơ Tế Hanh hiện lên đẹp và mát dịu nh vậy. Còn ngời
dân quê thì mạnh mẽ, tinh tế, sống động :
Dân chài lới làn da ngăm dám nắng
Có thân hình nồng thở vị xa xăm
Chỉ có ai là con ngời của sông nớc, vạn chài mới có thể tạo đợc hình ảnh ngời
dân chài giữa đất trời lồng lộng gió với đủ hình khối, màu sắc và hơng vị. Chất muối
mặn nồng ngấm vào thân hình ngời dân quê hơng cũng nh ngấm sâu vào làn da, thớ
thịt vào tận tâm hồn thơ Tế Hanh. Bằng giọng thơ giãi bày, phơi trải, ông đã kể về kỉ
niệm tuổi thơ tơi đẹp :
Khi mặt nớc chập chờn con cá nhảy
Bạn bè tôi tụm năm tụm bẩy
Tôi đa tay ôm nớc vào lòng
Sông mở nớc ôm tôi vào dạ
Cao hơn, trong xa cách, nhng với sức mạnh của tình quê, không chỉ có hình ảnh
đặc trng của quê hơng "Màu nớc xanh, cá bạc cánh buồm vôi / Thoảng con thuyền rẽ
sóng chạy ra khơi" hiện ra mà nhà thơ còn cảm nhận đợc cả mùi vị quê :
Nay xa cách lòng tôi luôn tởng nhớ
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá
Quê hơng Tế Hanh là một làng chài nghèo, ngời dân sống cần cù, khó nhọc, thế
nhng khi nhớ về quê, ông lại chỉ thấy vẻ đẹp tơi sáng. Phải chăng đó là nhờ làng quê
ấy có con sông êm đềm, tuơi tắn, lại gần biển tự do, phóng khoáng và nhất là nhờ trái
tim tuổi trẻ khoẻ khoắn ? Mặt khác, cùng tình cảm đằm thắm, kỉ niệm sâu lắng, đẹp
đẽ, lời kể theo lối giãi bày, thủ thỉ chân thật và khả năng miêu tả những cảm giác bên
trong chân thành, mộc mạc, nên ở thơ Tế Hanh, con sông trở thành một hình tợng
thẩm mĩ, gợi cảm, đầy chất trữ tình.
Đối với Tế Hanh, quê hơng luôn là bông hoa đẹp nhất trong vờn hoa. Ca dao, dân
ca dờng nh cũng đã ngấm sâu vào hồn thơ Tế Hanh. Dù ở phơng trời nào lòng ông vẫn

Trở về, gặp lại, tuổi cũng đã cao, quê hơng thì đổi thay nh thế, nên sau này, dẫu quê
nhà vẫn mến yêu, thổn thức trong trái tim nhà thơ, nhng thơ về quê hơng của Tế Hanh
thì đã khác. Không còn cái sức hấp dẫn của vẻ đẹp trai tráng. Cho nên, có thể nói, ng-
ời ta chỉ còn nhớ đến những bài thơ về quê hơng, con sông quê của ông mấy mơi năm
về trớc. Dù sao thế cũng là quá đủ với một đời thơ.
Có thể nói những bài thơ về quê hơng trớc và hai mơi năm sau Cách mạng
Tháng Tám của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ mộng về con
sông hiền hòa đã tắm cả đời tôi, về cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ ông.
Mỗi chúng ta một lần nữa vui mừng khi đợc giao tiếp với một hồn thơ khoẻ mạnh,
trong sáng song lại rất đỗi bình dị mà sâu sắc. Nó không hề làm nặng đầu ta với những
bóng dáng siêu hình hay những vô thức u minh, nó chấp cánh mộng mơ, bồi đắp cho
mỗi chúng ta tình yêu quê hơng thắm thiết, là điểm trở về bình yên của ta trong cuộc
đời nhiều bơn trải, cũng là sự thôi thúc ta vơn lên.
Đề số 7
Hình ảnh Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mơ Tao, Mơ Xây
Bài làm
Đoạn trích "Chiến thắng Mtao-Mxây" không khép lại bằng cái chết mà là sự tng
bừng của chiến thắng, sự lớn mạnh của một cộng đồng và uy danh vang dội của ngời
anh hùng Đăm Săn. Ngời anh hùng sử thi là trọng tâm miêu tả của bức tranh hoành
tráng. Tầm vóc lẫn chiến công của chàng trùm lên toàn bộ chiến công, toàn bộ thiên
nhiên và xã hội Ê- đê.
Trong quan niệm của ngời dân tộc Ê-đê, cuộc chiến từng đóng vai trò là bà đỡ
lịch sử khiến cho cộng đồng ngày càng phát triển, ngày càng có cuộc sống ấm no,
thịnh vợng. Trong sự phát triển ấy, ngời anh hùng có vị trí hết sức lớn lao tầm cỡ. Sau
10
mỗi chiến công của ngời anh hùng là một lễ ăn mừng hoành tráng của cộng đồng để
suy tôn, ca ngợi cũng nh thể hiện niềm vui về sự no đủ, đông đúc mỗi ngày.
Sau chiến thắng oanh liệt trớc tù trởng Mtao-Mxây, Đăm Săn đã trở thành ngời
anh hùng giàu có, hùng mạnh nhất. Tôi tớ theo về đặc nh bầy cà tong, của cải đa về
nhiều nh ong đi chuyển nớc. Tràn ngập trong niềm vui, Đăm Săn đã cho toàn bộ tộc

linh đã giúp cho chàng chiến thắng, đã giúp bộ tộc của chàng ngày một vững mạnh
11
giàu có. "ơ các con, ơ các con, hãy đi lấy rợu bắt trâu, rợu năm ché, trâu bảy con để
dâng thần, rợu bảy ché, lợn thiến bảy con cầu cho ta đợc bình yên vô sự, nạn khỏi tai
qua, lớn lên nh sông nớc, cao lên nh cây rừng, không còn ai bì kịp. Cách Đăm Săn sai
tôi tớ sắm đồ lễ cúng tế chứng tỏ lòng thành kính sâu sắc với thần linh, tổ tiên của
chàng. Nó cũng chính là tiếng nói tín ngỡng của cả cộng đồng dân tộc Ê đê.
Sau khi làm lễ tạ khấn thần linh, tổ tiên Đăm Săn đã mời tất cả anh em, bạn bè,
tôi tớ ăn uống : hỡi anh em trong nhà, hỡi bà con trong làng, xin mời tất cả đến với
ta, chúng ta sẽ mở tiệc ăn mừng năm mới. Tiếng mời chào sang sảng nh chính tấm
lòng hào hiệp của chàng Đăm Săn. Chàng đã thiết đãi bạn bè, dân làng bằng những vật
chất đầy đủ sang trọng, bằng niềm vui thân ái, khiến cho cả một vùng nhão ra nh n-
ớc vui tới mức lơn trong hang, giun trong bùn, rắn hổ, rắn mai đều chui lên nằm
trên cao sởi nắng, ếch nhái dới gầm nhà, kì nhông ngoài bãi thì kêu inh ỏi suốt ngày
đêm. Bạn bè của chàng đông đúc : Các cô gái đi lại vú đụng vú, các chàng trai đi lại
ngực đụng ngực. Không khí ăn mừng nh thế này bây giờ mới có. Bởi bây giờ ngời Ê
đê mới có ngời thủ lĩnh anh hùng dũng cảm, hào hiệp đến thế. Đó chính là niềm tự hào
sâu sắc của ngời dân Ê đê về vị tù trởng Đăm Săn.
Cách xây dựng hình tợng đẹp đẽ lớn lao của ngời anh hùng trong không khí
đông vui nhộn nhịp, lớn mạnh của cộng đồng là một đặc điểm nổi bật của sử thi Tây
Nguyên. Ngời anh hùng sử thi đợc toàn thể cộng đồng suy tôn tuyệt đối. Qua ngời anh
hùng ta thấy đợc sự phát triển, ý chí thống nhất của toàn thể cộng đồng Ê đê - một biểu
hiện quan trọng của ý thức dân tộc.
Đề số 8
Từ bi kịch mất nớc đến bi kịch tình yêu qua truyền thuyết An Dơng Vơng
và Mị Châu Trọng Thuỷ
Bài làm
Tôi kể ngày xa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc

ngồi sau ngơi chính là giặc, Vua tuốt kiếm chém chết Mị Châu và Rùa vàng rẽ nớc
dẫn vua xuống biển.
Vì sao một con ngời tài trí nh vậy lại có thể đánh mất cơ nghiệp lớn lao trong
phút chốc ? Phải chăng nhà vua đã quá chủ quan khi trong tay có đợc nỏ thần ? Đúng
nh vậy. Nỏ thần là một vũ khí lợi hại, chính nhờ nó mà An Dơng Vơng đã đánh thắng
quân giặc nhng cũng chính vì nó mà vua đã trở nên chủ quan khinh địch, mất cảnh
giác trớc những mu kế bẩn thỉu của bọn xâm lăng. Vua cũng đã rất cả tin khi nhận lời
cầu hôn của Triệu Đà.
Nớc mất nhà tan còn do nhà vua không nắm vững nội bộ của mình. Ngài không
hiểu hết đợc tính cách của con gái yêu Mị Châu là nàng công chúa hết sức thật thà, nhẹ
dạ cả tin, không hề mảy may nghi ngờ chồng cho dù là một giây một phút. Nàng đã
13
thực sự yêu Trọng Thuỷ, cũng vì quá tin tởng vào hắn mà Mị Châu đã vô tình trao cho
hắn bí mật quốc gia.
Nỗi đau mất nớc ấy quả thật là quá lớn. Nhng ta lại càng đau xót trớc tình yêu
chân thành của nàng công chúa phơng Nam.
Mị Châu có tất cả phẩm chất tốt đẹp của ngời phụ nữ truyền thống, nhng cũng từ
những phẩm chất ấy, do mù quáng, nàng đã hại cha, hại dân, hại nớc. Trớc sau nàng
chỉ nghĩ đến Trọng Thuỷ và hạnh phúc của nàng. Nàng một lòng tin tởng và yêu thơng
chồng. Nàng đã dành cho chồng một tình yêu vô cùng chân thành và tha thiết. ấy thế
mà Trọng Thuỷ - con ngời bội bạc kia đã nỡ tâm chà đạp lên tình yêu đó. Hắn cới nàng
làm vợ chỉ vì mục đích lợi dụng để xâm lợc Âu Lạc. Nhng vì sao Mị Châu quá mê
muội ? Sao nàng lại có thể bỏ qua những câu nói lạ lùng, ẩn chứa bao hàm ý của Trọng
Thuỷ trong lúc hai ngời chia tay : "Ta nay trở về thăm cha, nếu nh đến lúc hai nớc thất
hoà, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu ?. Câu hỏi ấy của Trọng Thuỷ
nh một gợi nhắc, cảnh báo trớc chuyện gì sẽ đến với đất nớc nàng, Nhng nàng lại thật
thà đáp lại : Thiếp thân phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đớn đau khôn xiết. Thiếp
có áo gấm lông ngỗng thờng mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đ-
ờng để làm dấu, nh vậy có thể cứu đợc nhau
Và chính cái dấu lông ngỗng của nàng đã đẩy hai cha con vào bớc đờng cùng.

ơng Vơng và Mị Châu Trọng Thuỷ
Bài làm
Truyện An Dơng Vơng và Mị Châu, Trọng Thuỷ kết thúc với sự thất bại của Âu
Lạc, An Dơng Vơng đi vào lòng biển, Mị Châu, Trọng Thuỷ phải chết. Tuy kết thúc có
phần đau đớn song câu chuyện không vì thế mà quá bi thơng bởi trong sâu thẳm vẫn
sáng lên niềm tin, chất nhân văn sâu sắc qua hình ảnh ngọc trai - giếng nớc.
Chúng ta có thể thấy rằng ngọc trai - giếng nớc vừa là hình ảnh có giá trị
thẩm mĩ cao, vừa là một tình tiết đắt xét về phơng diện tổ chức cốt truyện. Nó là sự kết
thúc duy nhất hợp lí cho số phận của đôi trai gái Mị Châu, Trọng Thủy, cùng với sự thể
hiện t tởng, tình cảm, cách đánh giá của nhân dân đối với bi kịch tình yêu này nói
chung, nhân vật Mị Châu nói riêng.
Nàng Mị Châu bởi nhẹ dạ, cả tin làm nên nổi cơ đồ đắm biển sâu. Nàng đã
phải nhận lấy cái chết cho danh nghĩa một kẻ bất hiếu, phản nghịch Nhng sâu xa, tác
giả dân gian đã thấu hiểu nỗi lòng một ngời con gái ngây thơ, trong trắng vì tình yêu
đã vô tình gây nên tội mà đã cho nàng đợc hoá thành những viên ngọc trai. Những viên
ngọc trai lấp lánh nh đáp lại lời cầu nguyện của nàng trớc khi vua cha chém đầu. Nàng
không phải là ngời có lòng phản nghịch muốn hại cha, nàng là ngời có lòng trung hiếu
nhng vô tình bị ngời ta lừa dối. Những viên ngọc ấy ẩn sâu trong lớp vỏ trai dới làn nớc
đầy bụi bẩn vẫn thanh lọc để sáng lên nh chính tâm hồn ngây thơ trong trắng của Mị
Châu. ánh sáng ngọc trai ám ảnh tâm trí ngời đọc, tìm sự chia xẻ, đồng cảm.
Tác giả dân gian đã có tấm lòng vô cùng độ lợng khi thấu hiểu và cảm thông
với nàng Mị Châu. Để nàng đợc toại nguyện biến thành ngọc trai. Sự hoá thân ấy mang
theo một ớc mơ của nhân dân về những Mị Châu sáng suốt sau này, vừa say đắm yêu
thơng vừa luôn luôn cảnh giác.
15
Nói về Trọng Thuỷ. Hắn là một kẻ chiến thắng trên phơng diện chính trị nhng
lại là kẻ thất bại thảm hại về phơng diện tình cảm. Hắn đã mất đi ngời vợ yêu quí, mất
đi sự thanh thản trong tâm hồn và càng ám ảnh hơn chính hắn gây nên cái chết Mị
Châu trong trắng, ngây thơ hết lòng yêu thơng hắn. Giếng nớc ở Loa thành là tấm gơng
hội tụ và phản chiếu tất cả tội ác mà Trọng Thuỷ gây nên. Chính ở nơi này hắn nhìn

nhân dân trớc những thử thách của lịch sử.
16
Song không vì lòng căm phẫn mà khiến dân gian đánh mất đi truyền thống nhân
văn sâu sắc của dân tộc. Hình ảnh ngọc trai - giếng nớc chính là sự khoan hồng, ân
xá cho kẻ đã biết ân hận, khát khao đợc hoá giải tội lỗi nh Trọng Thuỷ.
Mỗi nhân vậtutrong truyền thuyết này đợc nhìn nhận, đánh giá, định đoạt số
phận một cách khác nhau. ở đối tợng này có hơi dễ dãi, (nh đối với An Dơng Vơng) ở
đối tợng kia có phần hơi nghiêm khắc (nh đối với Mị Châu). Song nhìn chung những
nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử ấy đã đợc cảm nhận ghi lại bằng tất cả lòng nhiệt
thành, tự tôn dân tộc. Và nhất là, cái sâu sắc nhất đọng lại sau mỗi số phận nhân vật là
tình ngời, chất nhân văn truyền thống.
Truyện An Dơng Vơng và Mị Châu - Trọng Thuỷ là một truyền thuyết đẹp, để lại
nhiều ấn tợng sâu sắc trong lòng ngời đọc. Câu chuyện là một cách giải thích nguyên
nhân việc mất nớc Âu Lạc. Qua đó nêu lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với
kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mỗi quan hệ giữa riêng với chung, giữa nhà với nớc, giữa
cá nhân với cộng đồng. Thể hiện chất trí tuệ sắc sảo, bản chất nhân đạo sâu sắc của
dân tộc Việt Nam ta.
Đề số 10
Suy nghĩ của anh (chị) về hai cuộc gặp mặt trong Uy-lít-xơ trở về và Ra-ma
buộc tội
Bài làm
Hai đoạn trích đều miêu tả cảnh tái hợp của hai cặp vợ chồng. Trong trích đoạn
Uy-lít-xơ trở về (trích khúc ca XXIII, sử thi Ô-đi-xê - Hi Lạp), sau hai mơi năm trời
chinh chiến trải qua rất nhiều thử thách, khó khăn Uy-lít-xơ mới trở về quê hơng. Hai
cha con Uy-lít-xơ lập mu giết chết 108 vị cầu hôn nhng vợ chàng, Pê-nê-lốp vẫn không
tin là chồng mình đã trở về. Nàng nghi ngờ là một sự lừa lọc chi đây. Cảnh gặp gỡ
trong Ra-ma buộc tội (trích khúc ca VI, sử thi ấn Độ Ra-ma-ya-na lại theo một diễn
biến khác hẳn, gần nh trái ngợc. Sau khi tấn công đảo Lan-ka, đánh thắng quỷ vơng
Ra-va-na cứu đợc nàng Xi-ta xinh đẹp, Ra-ma liền nổi cơn ghen dữ dội vì nghi ngờ sự
thủy chung của vợ. Cuộc gặp gỡ của họ nh một phiên toà. Cảnh gặp gỡ thứ nhất, Pê-

cao quý có thể nào lại lấy về một ngời vợ đã từng sống trong nhà kẻ khác Vậy làm
sao ta có thể nhận nàng về nhà ta khi ta nghĩ tới gia đình cao quý đã sinh ra ta.
Các nhân vật sử thi đặc biệt coi trọng danh dự và quy ớc của cộng đồng. Đạo đức
của họ cũng chính là khuôn vàng thớc ngọc là chuẩn mực của cả cộng đồng. Nhng hơn
hết các nhân vật sử thi chính là khát vọng về hạnh phúc và hớng tới cái đẹp toàn bích,
bảo vệ sự toàn bích của cái đẹp. Chính điều đó đã giúp họ vợt qua tất cả mọi gian khó
và thử thách để đến đợc với bến bờ hạnh phúc. Trong việc diễn tả cảnh gặp gỡ, tác giả
đã kể lại một cách rất trang trọng và chậm rãi. Những chi tiết, lời thoại, hành vi, lối lập
luận khôn khéo và kiên quyết cùng tình huống mang đậm kịch tính đều vang động âm
hởng và phong cách sử thi. Đặc biệt là những hình thức so sánh liên tởng mang sức hấp
dẫn đặc biệt kì lạ. Qua cuộc gặp gỡ, các nhân vật toát lên vẻ đẹp tình đời, tình ngời,
khát vọng hạnh phúc vơn lên chiếm lĩnh những giá trị cao đẹp nhất của con ngời.
Nhng không chỉ những nét chung, tính cách hai cặp nhân vật sử thi của hai nền
văn hóa khác nhau này có rất nhiều nét riêng biệt. Pê-nê-lốp một ngời phụ nữ thuỷ
chung, thận trọng đến sắt đá. Uy-lít-xơ mu trí bình tĩnh và nhẫn nại. Đó là bức tợng
đài về tình yêu và niềm tin vào hạnh phúc bất di bất dịch. Nàng Xi-ta nhảy vào giàn
hoả thiêu bộc lộ tính cách kiên trinh. Ra - ma cũng cứng rắn không kém để bảo vệ
truyền thống anh hùng cao cả.
18
Quả thật, qua hai cảnh gặp gỡ vợ chồng ở hai bộ sử thi vĩ đại Ô-đi-xê của Hi Lạp
và Ra-ma-ya-na của ấn Độ, ta càng thấy rõ hình mẫu lí tởng của con ngời cổ đại với
khát vọng tình yêu và chuẩn mực chung thuỷ. Khuôn thớc ấy đã hằn in sâu đậm trong
trái tim nhân loại hàng ngàn năn nay.
Đề số 11
Đọc Uy-lít-xơ trở về (trích sử thi Ô-đi-xê) và cho biết :
a) Hô-me-rơ kể chuyện gì ?
b) ở phần cuối đoạn trích, tác giả đã chọn một sự việc quan trọng đó là sự
việc gì, đợc kể bằng những chi tiết tiêu biểu nào ? Có thể coi đây là thành công
của Hô-me-rơ trong nghệ thuật kể chuyện không ? Vì sao ?
Bài làm

chuyện thêm hấp dẫn. Từ đó những tính cách và phẩm chất của hai ngời đều đợc bộc lộ
rõ nét và tô đậm bởi phong cách sử thi trang trọng và chậm rãi, ý nghĩa nhân bản càng
sâu sắc.
Đề số 12
Vẻ đẹp của nhân vật Pê-nê-lốp trong Uy-lít-xơ trở về
Bài làm
Hạnh phúc chỉ thực sự bền vững khi trải qua thử thách. Nàng Pê-nê-lốp trong sử
thi Ô-đi-xê nổi tiếng của Hi Lạp cũng vậy. Sau hai mơi năm đằng đẵng chờ chồng, chịu
sự nhòm ngó, ép buộc thờng trực của 108 kẻ quyền quý cầu hôn, nàng đã tìm thấy
hạnh phúc của ngay xum họp.
Hình ảnh Pê-nê-lốp chính là biểu tợng của vẻ đẹp phụ nữ Hi Lạp - kiên trinh,
thánh thiện, trí tuệ.
Hai mơi năm không gặp, hai mơi năm xa cách chờ chồng. Thời gian là liều thuốc
nhiệm màu thử thách lòng chung thuỷ của đàn bà ; v thời gian cũng là nền tảng cho cái
đẹp hiện hình. Ngời phụ nữ Pê-nê-lốp qua thời gian đã làm cho hàng triệu trái tim ngời
đọc mến phục và trân trọng.
Trớc hết, vẻ đẹp của Pê-nê-lốp hiện lên qua thái độ trân trọng trong cách ứng xử
khi trớc mặt là ngời tự nhận là ngời chồng yêu dấu trong bộ dạng một kẻ hành khất.
Ngòi hằng đợc nàng cho phép ở lại lâu đài để kể cho nàng nghe về hai mơi năm chinh
chiến và trôi dạt lênh đênh của chồng. Nàng phải kìm nén tình cảm riêng t cho lí trí
vạch đờng chỉ lối. Có những lúc tâm trạng nàng nhiều sự phân vân chọn lựa đầy mâu
thuẫn. Khi nghe nhũ mẫu Ơ-ri-clê lên gác báo tin chồng đã trở về nàng mừng rỡ
cuống cuồng nhảy ra khỏi giờng ôm chầm lấy bà lão nớc mắt chan hoà. Đấy là biểu
thị của lòng chung thuỷ, niềm hạnh phúc tột độ đợc đền bù xứng đáng. Biết bao ngày
nàng ngồi dệt tấm thảm để đêm đêm lại tháo ra nhằm trì hoãn sự thúc bách của bọn
cầu hôn ? Biết bao nhớ mong và yêu thơng dành hết cho chồng ? Giờ đây nghe nhũ
mẫu báo tin Uy-lit-xơ đã trở về nàng không mừng sao đợc ? Nhng rồi Pê-nê-lốp có
một thái độ hoàn toàn khác - thận trọng. Tại sao lại có sự thay đổi đột ngột nh vậy ?
Chúng ta không nên trách cứ nàng đa nghi vì nàng đã hứng chịu biết bao cay đắng khi
xa chồng, trong lúc 108 kẻ quấy nhiễu cầu hôn bắt nàng phải tái giá. Nàng đã cơng

chắn sẽ lộ diện. Uy-lít-xơ giật mình chột dạ, vì chiếc giờng không thể xê dịch đợc.
Chàng liền cất tiếng và miêu tả chi tiết, tỉ mỉ chiếc giờng. Đó là chiếc giờng làm ra từ
một gốc cây ô liu. Qua cách miêu tả tỉ mỉ, Uy-lit-xơ cũng muốn nhắc lại tình yêu, tình
vợ chồng son sắc cách đây hai mơi năm. Miêu tả cái giờng bí mật ấy, chàng đã giải mã
giấu hiệu riêng do Pê-nê-lốp cài đặt.
Khi đã gạt bỏ đợc mọi nghi ngờ, nhận ra chồng, Pê-nê-lốp mới thể hiện tình cảm
bằng những hành động yêu thơng, thể hiện nỗi khát vọng mong chờ. Nàng bủn rủn cả
chân tay bên chạy lại nớc mắt chan hoà, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng. Pê-
nê-lốp dùng sự khôn khéo để xác minh sự thật, Uy-lit-xơ bằng trí tuệ nhạy bén đáp
ứng đợc điều thử thách. Đây là sự gặp gỡ của hai tâm hồn, hai trí tuệ.
Đoạn trích Uy-lit-xơ trở về không cốt miêu tả khung cảnh xum họp, đoàn tụ
thông thờng. Cơ bản, nó muốn tạc hình ảnh ngời phụ nữ Hi Lạp cổ đại chung thuỷ kiên
trinh, yêu đơng nồng cháy nhng thông minh trí tuệ, tinh tế, đầy bản lĩnh. Mặt khác
21
cũng thể hiện khát vọng bình yên trong một gia đình hạnh phúc. ở đó, mặc cho thời
gian đằng dặc cách chia vẫn có đợi chờ, hiểu biết lẫn nhau.
Đề số13
Diễn biến tâm trạng của Uy-lit-xơ trong buổi đoàn viên sau 20 năm xa
cách
Bài làm
Sartre đã từng nói: Mỗi con ngời chúng ta vào đời để rồi tô vẽ nên bộ mặt của
mình và ngoài bộ mặt ấy ra không còn cái gi khác nữa. Cũng nh một tác phẩm để
sống mãi với thời gian phải xây dựng một nhân vật sống động mang đầy đủ tính chất
Ngời; để rồi khi bớc vào đời họ làm nên những giá trị mĩ học cao cả. Chính nhân vật
Uy-lit-xơ trong sử thi Ô-đi-xê đã làm nên bộ mặt đẹp nhất đại diện cho con ngời Hi
Lạp nh một nhà văn nhận định : Hô-me-rơ đã xây dựng Uy-lít-xơ thành nhân vật đã
kết tinh đợc phẩm chất cao đẹp nhất mà ngời Hi Lạp đang khao khát vơn tới.
Tại sao chúng ta lại khẳng định chàng Uy-lít-xơ là một hình tợng đẹp nhất ? Để
hiểu rõ xin lấy đoạn trích Uy-lit-xơ trở về để minh chứng . Qua đoạn trích, ta sẽ thấy
chân dung một ngời anh hùng, một con ngời thông minh tài giỏi, cơng nghị.

chấp nhận, tin tởng. Chàng nhẫn nại nghe mọi ngời đối thoại, thể hiện một phong thái
cao quí, rộng lợng. Vậy mà trái tim băng giá kia vẫn lặng thinh. Chàng liền giải thích
cho con trai hiểu rõ thái độ đó của mẹ, đồng thời cũng mở ra một cánh cửa mới cho
ngôi nhà hạnh phúc. Đó là lời giải thích khôn ngoan : Mẹ con muốn thử thách cha ở
tại nhà này. Thế nào rồi mẹ con cũng nhận ra cha, chắc chắn nh vậy.
Cũng có lúc chàng giận dỗi, lo âu. Uy-lít-xơ giận sự giá băng, không nhận ra
chồng của Pê-nê-lốp là do vẻ ngoài rách mớp bẩn thỉu. Sau khi tắm rửa xong, thay bộ
quần áo mới trông Uy-lit-xơ đẹp nh một vị thần. Khi nghe vợ sai nhũ mẫu mang
chiếc giờng kiên cố lại, chàng đã giật mình chột dạ . Chàng đã giải thích tờng tận
cho vợ về chiếc giờng bí mật ấy, đó là một chiếc giờng đặc biệt làm ra từ một gốc cây
ô liu, không ai có thể nhấc ra, ngoài những vị thần. Phép thử về chiếc giờng bí mật mà
Pê-nê-lốp đa ra Uy-lit-xơ đã giải đáp ngờ vực. Đoạn trích miêu tả cách ứng xử với tình
yêu, tình vợ chồng, hạnh phúc gia đình bền vững cần một sự thông minh, tỉnh táo, kiên
nhẫn, rộng lợng, hiểu biết, đồng cảm lẫn nhau.
Uy-lit-xơ không chỉ là một anh hùng chiến trận, chàng còn là ngời anh hùng
của trí tuệ trong hành trình tìm lại hạnh phúc riêng t. Chính câu trả lời của chàng là
chìa khoá vàng mở cánh cửa trái tim nàng Pê-nê-lốp xinh đẹp, nàng bủn rủn cả chân
tay, nàng bèn chạy lại nớc mắt chan hoà ôm lấy cổ chồng. Đây chính là những giọt n-
ớc mắt hạnh phúc của hai trái tim yêu đơng. Uy-lit-xơ cảm thông và trân trọng ngời vợ
đáng thơng của mình : Uy-lit-xơ càng thêm muốn khóc. Chàng ôm lấy ngời vợ xiết
bao yêu thơng, ngời bạn đời chung thuỷ của mình .
Đoạn trích Uy-lít-xơ trở về sau hai mơi năm xa cách bởi chiến tranh và lu lạc
khiến cả gia đình chàng vừa mừng vừa tủi. Đây là màn kịch có ý nghĩa tố cáo chiến
tranh sâu sắc, nguyên nhân của những cuộc chia li tan nát. Việc Pê-nê-lốp không nhận
ra chồng mình là một bản cáo trạng nghiêm khắc đối với cuộc chiến tranh nh cuộc
chiến thành Tơ-roa.
Chỉ qua một đoạn trích ngắn tâm trạng Uy-lit-xơ bộc lộ trên nhiều bình diện
khác nhau tạo thành những cung bậc khác nhau cho ta hiểu rõ hơn về một vị anh hùng
tài trí, dũng mãnh. Nhng cái mà chàn cần là quê hơng với một ngời vợ chung thuỷ, biết
bảo vệ hạnh phúc và một gia đình hiểu biết lẫn nhau.

những gì đang diễn ra trớc mắt vốn không phải là những gì nàng mong đợi. Đợc tin
chồng đã chiến thắng, giải thoát cho mình khỏi kẻ thù, nàng hạnh phúc vô ngần, chỉ
muốn mong chóng gặp lại chàng. Sự háo hức vội vã đến nỗi bỏ quên cả những lễ nghi,
phép tắc mà bất kì ngời phụ nữ cao quý nào cũng thờng trực. Trong đầu nàng chỉ còn
biết có Ra-ma với tình yêu, lòng biết ơn vô hạn. ấy vậy mà tất cả dờng nh đang sụp đổ
dới chân. Đau đớn, bàng hoàng và thất vọng. Nhng tất cả không dừng lại ở đó. Ngời
anh hùng khi bị ngọn lửa độc của con rắn ghen tuông che mờ mắt thì cũng tàn nhẫn
đâu kém nhng kẻ tầm thờng. Ra-ma nghi ngờ vợ mình vì thấy nàng yêu kiều xinh
24
đẹp, Ra-va-na đâu có chịu đựng đợc lâu khi ở trong vạt áo Ra-va-na đôi mắt tội lỗi
của hắn hau háu nhìn khắp ngời nàng . Tàn nhẫn hơn cả là sự ruồng rẫy ập đến : ta
không cần đến nàng nữa. Ngời chồng mà nàng rất mực thơng yêu lại có thể gợi ý, cất
tiếng mỉa mai, khuyên nàng có thể để ý tới những ngời khác. Nàng thấy đau đớn cho
số phận. Một ngời phụ nữ cao quý, hết mực thủy chung giờ đây lại bị đem ra bêu riếu
trớc đông đảo mọi ngời với những lời lẽ thô bạo nhất. Từ chỗ ngạc nhiên mở to đôi
mắt tròn đẫm lệ, dần tỉnh táo hiểu ra thái độ của ngời chồng, nàng đau đớn đến
nghẹt thờ. Nh một cây dây leo bị vòi voi quật nát. Tâm hồn nàng trong trắng và mong
manh đang tan ra, vỡ nát bởi những lời lẽ thô bạo và tàn nhẫn. Nàng xấu hổ cho số
kiếp . Nàng muốn tự chôn vùi cả hình hài và tinh thần. Những lời nói của Ra-ma
xuyên vào trái tim nàng nh một mũi tên. Nớc mắt nàng đổ ra nh suối. Nỗi đau cứ tăng
dần, tăng dần tới cực điểm. Choáng váng, nàng chỉ còn biết than cho sự bất hạnh của
mình. Dờng nh tất cả đang sụp đổ nàng không còn đủ sức lực để chống đỡ trớc những
lời lẽ sắc độc và cay nghiệt đó. Bị dồn vào thế cùng, bị lăng mạ, sỉ nhục, bị vu khống
danh dự và tiết hạnh, muốn chết muốn vùi dập bản thân cũng là điều dễ hiểu. Nhng Xi-
ta ngời con gái của nữ thần đất mẹ Pri-thi-vi sinh trởng trong hoàng tộc Gia-na-ki,
mang trong mình dòng máu cao quí, đâu thể nào kết thúc cuộc đời nh vậy. Yêu và hết
lòng tôn thờ ngời mình yêu song không thể cho phép bị sỉ nhục, bị bôi nhọ. Sau những
phút choáng váng ban đầu, Xi-ta dần lấy lại bình tĩnh để tự bào chữa, đòi lại danh dự
với một trí tuệ tuyệt vời mà cũng rất dịu dàng. Nghẹn ngào, nức nở, nàng lên án cách
xử sự của Ra-ma nh một kẻ thấp hèn chửi mắng con mụ thấp hèn. Nàng khẳng định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status