nghiên cứu tách chiết và ứng dụng dịch chiết vỏ quả cam, quýt làm chất ức chế ăn mòn kim loại - Pdf 14

Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 1



Tên đề tài:



   : Ngô  Miên
   khoa : PGS.TS. Lê  .
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 2

1. 
Hằng năm, trên thế giới phải chi phí hàng tỉ đô la cho việc thay thế bảo
dưỡng các thiết bị máy móc công nghiệp, các công trình bằng kim loại bị ăn mòn.
Vì vậy, việc chống ăn mòn kim loại là vấn đề cấp bách về mặt kinh tế lẫn công
nghệ. Có nhiều phương pháp để chống ăn mòn kim loại, trong đó phương pháp sử
dụng chất ức chế “xanh” thân thiện với môi trường đang được các nhà khoa học
quan tâm . Vấn đề đặt ra là chọn nguồn nguyên liệu thiên nhiên dễ tìm, giá thành
sản phẩm thấp để nghiên cứu dễ đi vào thực tiễn.
Như chúng ta đã biết, mỗi năm nước ta sản xuất và tiêu thụ hàng triệu tấn
quả cây họ Cam như: cam, quýt, chanh, thanh yên, bưởi… Chỉ tính riêng sản lượng
cam sản xuất tại các vùng trong cả nước đã đạt trên 600.000 tấn/năm. Hiện nay, ở
nước ta chỉ một lượng nhỏ vỏ chanh được sử dụng để tách chiết tinh dầu chanh còn
phần lớn vỏ của các loại quả cây họ này bị bỏ đi trở thành phế thải. Trong khi đó,
vỏ quả của chúng có chứa một lượng lớn limonene với nhiều ứng dụng như: làm
hương liệu trong thực phẩm, mỹ phẩm; làm thuốc kích thích tiêu hóa; là chất ức
chế sự phát triển khối u của ung thư vú và đặc biệt có triển vọng làm chất ức chế
ăn mòn kim loại thân thiện với môi trường. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài

- Nâng cao giá trị sử dụng của vỏ quả cam, quýt phế thải trong đời sống.

Chương 1: Tổng quan lý thuyết
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận

Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 4
: 

Citrus
Giới: Plantae
Bộ: Sapindales
Họ: Rutaceae
Chi: Citrus
Chi Cam chanh (Citrus) là một chi thực vật có hoa trong họ Cửu lý hương
(Rutaceae), có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở đông nam châu Á.
Các loại cây trong chi này là các cây bụi lớn hay cây thân gỗ nhỏ, cao tới 5-15 m
tùy loại, với thân cây có gai và các lá thường xanh mọc so le có mép nhẵn.Quả là
loại quả có múi, một dạng quả mọng đặc biệt, hình cầu hay cầu thuôn dài, chiều dài
4-30 cm và đường kính 4-20 cm, bên trong quả khi bóc lớp vỏ và cùi sẽ thấy lớp vỏ
mỏng, dai, màu trắng bao quanh các múi bên trong chứa nhiều tép mọng nước.Vỏ
quả gồm ba phần là vỏ ngoài, vỏ giữa và vỏ trong.
- Vỏ ngoài: gồm có biểu bì với lớp cutin dày. Bên dưới lớp biểu bì là lớp tế bào nhu
mô vách mỏng, giàu lục lạp nên có thể quang hợp được khi quả còn xanh.Các túi
tinh dầu nằm trong các mô, được giữ lại dưới sức trương của tế bào xung quanh
[6],[10].

đậm. Cây có khả năng cho trái sau 3 năm trồng (cây
ghép), nhất là ghép trên gốc chanh volkameriana.
Mùa vụ thu hoạch rải rác trong năm, thường tập
trung từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau. Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch khoảng 8-
9 tháng. Năng suất trung bình (80kg/cây/năm, cây khoảng từ 10 năm tuổi) và khá ổn
định [7],[10].
Quả dạng hình cầu, có trọng lượng trung bình 130 gam/quả. Vỏ quả màu
xanh đến xanh vàng khi chín, dễ lột và lớp vỏ giữa rất mỏng. Tép màu vàng cam,
nhiều nước, vị ngọt không chua (độ brix 9,5- 10,5 %), mùi thơm và có hạt trung
bình (8-10 hạt/quả).
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 6
1.1.2. 
Quả cam vị ngọt, chua, tính mát, chứa một lượng lớn vitamin C cho nên có
tác dụng giải khát, mát phổi, thanh nhiệt, tiêu đờm và lợi tiểu. Dịch quả có tác dụng
giải nhiệt, trị sốt, cảm cúm, ho.
Lá cam: nước hãm lá cam để bổ dạ dày (kiện vị), chữa sốt, khó tiêu, nôn.
Dịch lá non chữa tai chảy nước vàng hoặc chảy ra máu, mủ.
Hoa: nước hãm uống để dịu thần kinh, nước cất từ hoa bão hoà tinh dầu gọi
là nước cất hoa cam dùng để pha chế thuốc theo đơn.
Theo đông y, vỏ quả cam, quýt có vị cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng
tiêu đờm, giúp tiêu hoá, hạ khí đầy, điều hoà tỳ vị. Nước hãm vỏ quả cam, quýt
kích thích ăn ngon miệng, làm dịu cơn đau dạ dày, đầy bụng, ợ chua và chống táo
bón.Tinh dầu vỏ quả cam có tác dụng kháng khuẩn mạnh.Trong đó tinh dầu hoa có
tác dụng bằng hoặc kém hơn tinh dầu vỏ quả; có tác dụng vừa trên Klebsiella,
candida albicans, Mycobacterium tuberculosis và tác dụng yếu trên B.
pyocyaneus.Tinh dầu cam và dịch chiết cồn vỏ cam tươi độc với côn trùng.
1.1.3. , quýt
Trong vỏ xanh quả cam có chứa các chất như 1-stachhydrin, hesperidin,
aurantin, acid aurantinic, tinh dầu cam…

Độ tan trong nước: 13,8 mg/l (25
o
C).
Tính chất hóa học cơ bản của limonene là dễ tham gia phản ứng cộng và dễ
dàng bị oxi hóa. Ví dụ, nó tham gia phản ứng cộng nước trong môi trường axit tạo
terpineol, phản ứng oxy hóa trong không khí ẩm tạo limonene oxit, carveol,
carvone …[16].

Limonene được sử dụng trong thực phẩm và một số loại thuốc để che dấu
mùi vị cay đắng của một số alkaloid. Ngày nay nó càng được sử dụng như là một
dung môi cho các mục đích làm sạch như loại bỏ dầu mỡ từ các bộ phận máy. Đặc
biệt được sử dụng làm dung môi sơn công nghiệp, làm sạch trong nền công nghiệp
điện tử với lợi thế không độc hại và dễ phân hủy sinh học để tạo thành C, CO
2

H
2
O [24].
1.1.4. 
Đến nay, đã có một số nghiên cứu sử dụng vỏ cam, quýt làm nguyên liệu để
sản xuất thuốc và nhiên liệu.
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 8
Ở Việt Nam nhóm nghiên cứu tại trung tâm hóa dược, Viện Hóa học Công



Ăn mòn kim loại là quá trình phá hủy kim loại dần từ ngoài vào trong khi
kim loại tiếp xúc với môi trường xung quanh. Lúc đó kim loại bị oxi hóa thành ion
của nó.
Phân loại theo cơ chế của quá trình: gồm 3 loại
- Ăn mòn sinh học: là sự ăn mòn kim loại gây ra do tác động của một số vi sinh vật
có trong môi trường xâm thực (đất, nước, …).
- Ăn mòn hóa học: là quá trình phá huỷ kim loại do tác dụng của nó với môi trường
xung quanh như khí khô hoặc chất lỏng không phải là chất điện giải. Ăn mòn khí
khô ở nhiệt độ thường ít gặp, quá trình ăn mòn khí phổ biến là khi kim loại tiếp xúc
với khí ở nhiệt độ cao: xMe
(r)
+
2
y
O
2


Ct
0
Me
x
O
y
.
- Ăn mòn điện hóa: ăn mòn điện hoá kim loại là sự phá hủy kim loại do tác dụng
điện hóa của môi trường chất điện giải và xảy ra ở hai vùng khác nhau trên bề mặt
kim loại và làm xuất hiện dòng điện. Ăn mòn điện hoá của kim loại gồm ba quá Hình 1.2: Giản đồ thế - pH của các điện cực hidro và oxi.

Trên giản đồ ta thấy:
Đường (1) biểu diễn thế cân bằng của điện cực hidro ở áp suất 1atm:
2H
+
+ 2e H
2

Nếu thế điện cực nào đó nằm thấp hơn đường (1) thì trên điện cực đó xuất hiện
phản ứng khử: 2H
+
+ 2e → H
2

Ở các thế cao hơn đường (1) xảy ra phản ứng: H
2
→ 2H
+
+ 2e.
O
2
+ 2H
2
O + 4e 4OH
-

+
gọi là sự ăn mòn có hiện tượng khử
phân cực hidro.
Đường (2) mô tả thế cân bằng của điện cực oxi ở áp suất 1atm:
O
2
+ 4e + 2H
2
O 4OH
-

Nếu thế của một điện cực nào đó nằm thấp hơn đường (2) thì trên điện cực đó xảy
ra phản ứng: O
2
+ 4e + 2H
2
O → 4OH
-

Ở các thế cao hơn đường (2) thì xảy ra phản ứng:
4OH
-
→ O
2
+ 2H
2
O + 4e
Như vậy, khi



Khảo sát quá trình xảy ra khi ngâm Fe trong dung dịch axit có pH < 2. Các
phản ứng điện cực xảy ra như sau:
Fe Fe
2+
+ 2e (1.1)
H
2
2H
+
+ 2e (1.2)
O
2
+ 4H
+
+ 4e 2H
2
O (1.3)
Giả thiết rằng O
2
được đuổi sạch. Khi đó ta chỉ xét các cân bằng (1.1) và (1.2) và
phương trình của dòng ăn mòn là:
 
21
1
.
0



Hình 1.3: Đường cong phân cực.
- Tốc độ ăn mòn:
Quá trình ăn mòn điện hoá là do kết quả của quá trình xảy ra ở vùng catot
và anot. Đồng thời với các quá trình đó là sự chuyển dịch điện tử từ anot sang catot.
Vậy, tốc độ ăn mòn kim loại được tính bằng khối lượng kim loại bị ăn mòn trên
một đơn vị diện tích bề mặt trong một đơn vị thời gian:

Am
i
nF
A
tSFn
tIA
tS
m
tS
mm
K 




21

tn
K
K
K
K 


(1.6)
ρ : trọng lượng riêng của kim loại (g/cm
2
)
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 13
Ngoài ra, theo (1.5) tốc độ ăn mòn có thể đo bằng mật độ dòng điện ăn mòn
hoặc thể tích khí H
2
thoát ra và nó phụ thuộc vào dạng đường cong phân cực catot
và anot. Do vậy, không những tính chất nhiệt động (thế cân bằng) mà ngay cả tính
chất động học của phản ứng cũng rất quan trọng [13].
1.2.3
Oxi (trong không khí) và nước (không khí ẩm) là những tác nhân không thể
thiếu gây nên sự ăn mòn kim loại.
- Các tạp chất trong kim loại như cacbon, các kim loại kém hoạt động, các
oxit, các muối sunfua… làm tăng sự ăn mòn.
- Sự có mặt của các chất điện li, môi trường có các khí SO
2
, NO
2

- Sự gia công kim loại, vì người ta đã biết rằng trong thanh kim loại, nơi nào

MgBr
2

0,2
CaSO
4

3,6 Độ dẫn điện của nước biển rất cao, hàm lượng Cl
-
khá lớn. Vì vậy, quá trình
ăn mòn xảy ra trong nước biển rất mãnh liệt.
1.2.4

Thép CT3 thuộc nhóm thép chất lượng thường, C là cacbon, T là thép, con số
tiếp theo chỉ giới hạn bền chịu kéo tối thiểu (kg/mm
2
).
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 14
Bảng 1.2: Thành phần (%) các nguyên tố của thép CT3.
Thành phần
Fe
C
Mn
Si
P
S

hai hay nhiều phản ứng xảy ra trên bề mặt các kim loại. Trong đó có một phản ứng anot
(oxi hóa kim loại thành ion của nó dưới dạng oxit hay hiđroxit) và một hoặc nhiều phản
ứng catot (khử các cấu tử oxi hoá có mặt trong dung dịch).
Các phản ứng xảy ra như sau:
Phản ứng catot:
2H
2
O + O
2
+ 4e 4OH
-
(1.7)

 
4
0
2/2/
2
22
lg
4
059,0



OH
P
O
OHO
cb

22
1
lg
2
059,0



OHP
H
HH
cb
HH


Với pH = 7,
2
H
P
=1atm, T = 298K, ta có:
cb
HH
2
/2


= 0,413V
Phản ứng anot: Fe Fe
2+
+ 2e

Ví dụ: 2CO
2
+ 2H
2
O + 2e H
2
+ 2HCO
3
-
(1.12)
Thực tế trong tự nhiên, nước sông và nước biển có tốc độ ăn mòn phụ thuộc
phần lớn vào lượng oxi hoà tan, hàm lượng Cl
-
, Br
-
… trong nước.
- Phản ứng ăn mòn đồng trong nước:
Kim loại đồng thường không bị ăn mòn trong không khí hoặc môi trường
axit (H
+
) nhưng khi trong nước có axit và oxi hòa tan hoặc trong môi trường nước
biển thì đồng có thể bị ăn mòn.
Trong môi trường nước biển có ion Cl
-
có thể tạo phức với ion Cu
2+
làm
cho
cb
CuCu /

Ví dụ: với [Cl
-
] = 1M, [CuCl
2
] = 10
-6
M thì
cb
CuCuCl /
2

= -0,16V. Như vậy, đồng sẽ bị
ăn mòn tại pH xác định.
Trong môi trường axit có chứa oxi hòa tan thì phản ứng xảy ra như sau:
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 16
Cu Cu
2+
+ 2e
Cu
Cu
/
0
2

= 0,34V (1.14 )
O
2
+ 4H
+

Thực chất của phương pháp bảo vệ điện hoá là làm cho thế kim loại cần
được bảo vệ thay đổi theo hướng đưa kim loại vào vùng được bảo vệ (phương pháp
bảo vệ catot) hoặc vào vùng thụ động (phương pháp bảo vệ anot).
Dựa vào hình 1.4 thì trong điều kiện nào đó ta có thể chuyển thế điện cực về
phía dương hơn hay âm hơn so với thế ăn mòn thì dòng ăn mòn sẽ giảm. Như vậy,
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 17
bảo vệ điện hóa là phân cực thế điện cực. Có 2 phương pháp bảo vệ kim loại chống
ăn mòn: bảo vệ catot và bảo vệ anot.
b. Phương pháp bảo vệ catot
* Bảo vệ bằng dòng điện ngoài: nhờ dòng điện một chiều bên ngoài, người ta giảm
thế điện cực xuống trong vùng không bị ăn mòn, hay trong giản đồ Evans ta giảm
thế catot đến giá trị thế cân bằng; do đó dòng ăn mòn hướng về số 0
* Bảo vệ bằng anot hi sinh (bảo vệ bằng protectơ):
Để giảm thế điện cực đến thế bảo vệ (bằng kim loại không bị ăn mòn hay thụ động
hoàn toàn), ta có thể cho Fe tiếp xúc với kim loại có thế thấp hơn thế của Fe và có
tác dụng như là một anot hi sinh (anot hi sinh thường dùng là Zn, Al, hợp kim Al -
Zn).
c. Phương pháp bảo vệ anot
Trong phương pháp này kim loại cần được bảo vệ được phân cực bằng dòng
điện anot, khi đó thế của kim loại sẽ rơi vào trạng thái thụ động. Đường cong phân
cực trong sự thụ động hóa được thể hiện ở hình vẽ. Hình 1.6: Đường cong phân cực trong phương pháp bảo vệ anot.
Kim loại cũng có thể chuyển vào trạng thái thụ động khi được xử lí bằng
dung dịch có chứa các chất oxi hóa như H

K
1
: tốc độ ăn mòn của kim loại khi có chất ức chế (g/m
2
.h)
- Hiệu quả bảo vệ (kí hiệu: γ): . (1.17)
Z càng gần 100% thì càng tốt và γ càng lớn càng tốt [18] [19].
 Chất ức chế hữu cơ
Tác dụng của chất ức chế hữu cơ là hấp phụ lên bề mặt kim loại và làm giảm
hoặc ngăn chặn phản ứng của kim loại với môi trường bên ngoài.
Sự hấp phụ hợp chất hữu cơ lên bề mặt kim loại được thực hiện bằng cách
thay các phân tử nước trên bề mặt kim loại và tạo thành một lớp màng rào cản. Sự
có mặt của electron chưa liên kết và electron pi trong phân tử chất ức chế tạo điều
kiện thuận lợi cho sự chuyển điện tử từ chất ức chế đến kim loại và liên kết được
hình thành. Lực liên kết phụ thuộc vào mật độ điện tử trên nguyên tử cho. Sự liên
kết này làm cho mật độ điện tử trên kim loại tại các điểm “hút electron” thay đổi
dẫn đến làm chậm phản ứng ăn mòn điện anot.
Cũng có ý kiến cho rằng chất hữu cơ hấp phụ lên bề mặt kim loại, đầu tiên là
hấp phụ vật lý do lực tĩnh điện và lực Vander Waals, sau là hấp phụ hóa học: các
nguyên tử N, O, S hoặc các liên kết đôi có trong thành phần của chất ức chế sẽ
tương tác với các electron d hoặc obitan d trống của kim loại tạo thành lớp màng
trên bề mặt kim loại [17],[18],[19].
Như vậy, những hợp chất hữu cơ có khả năng ức chế ăn mòn kim loại khi
trong phân tử của chúng có các cặp electron tự do của các dị tố như N, S, O hoặc là
hợp chất có chứa liên kết pi hoặc chúng là các hợp chất dị vòng.
%100
0
10



định. Trường hợp mô thực vật có chứa sáp, nhựa, acid béo thì khi chưng cất phải
được thực hiện trong một thời gian dài vì những hợp chất này làm giảm áp suất hơi
chung của hệ thống và làm cho sự khuếch tán trở nên khó khăn.
Những hợp chất hữu cơ không tan hoặc rất ít tan trong nước, mặc dù có nhiệt
độ sôi cao nhưng khi trộn với nước sẽ tạo ra hỗn hợp sôi ở nhiệt độ xấp xỉ 100
0
C (ở
áp suất thường). Khi đó ở pha hơi số mol chất hữu cơ (n
chc
) và số mol nước (n
n
) sẽ tỉ
lệ thuận với áp suất riêng phần của chúng ở nhiệt độ sôi của hỗn hợp (n
chc
: n
n
=
P
chc
: P
n
).
Làm lạnh pha hơi sẽ thu được pha hữu cơ (lỏng hoặc rắn) cùng với nước
lỏng. Sau khi chiết hoặc lọc sẽ thu được pha hữu cơ [9].
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 20
Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước là sự khuếch tán, sự
thủy giải và nhiệt độ.
- Sự khuếch tán: ngay khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô
chứa tinh dầu bị vỡ và cho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn đi.

chất cần tách .
1.3.3
Sắc ký là một kỹ thuật tách trong đó các cấu tử cần tách trong một hỗn hợp
mẫu được vận chuyển bởi pha động đi qua pha tĩnh. Mẫu đi vào tướng động được
mang theo dọc hệ thống sắc kí có chứa pha tĩnh phân bố đều khắp [15].
Quá trình sắc ký xảy ra trong cột chính là quá trình tương tác giữa chất phân
tích với pha tĩnh trong cột. Quá trình tương tác đó có thể xảy ra theo các tính chất
hóa lý nhất định: đó là sự hấp phụ, trao đổi ion, phân bố, rây phân tử.

1.4.1. 
Phương pháp sắc kí khí là kỹ thuật tách và phân tích các chất trong hỗn hợp
chất hữu cơ dễ bay hơi và khi bay hơi không bị phân hủy.Với một chất phân tích sẽ
có một thời gian lưu xác định đặc trưng cho chất đó nên dung để phân tích định
tính. Độ lớn của pic được đặc trưng bằng diện tích hay chiều cao của pic đó; hai đại
lượng này tỉ lệ với nồng độ của chất phân tích trong một khoảng xác định nào đó.
Do vậy, phương pháp sắc kí khí được sử dụng để phân tích định lượng các chất dễ
bay hơi bằng phương pháp lập đường chuẩn hay so sánh với chất chuẩn đã biết
chính xác hàm lượng [15].


Nguyên tắc của phương pháp khối phổ là dựa vào chất nghiên cứu được ion
hóa trong pha khí hoặc pha ngưng tụ dưới chân không cao bằng những phương
pháp thích hợp thành những ion (ion phân tử, ion mảnh, ) có số khối khác nhau.
Sau đó, những ion này được phân tích thành những dãy ion theo cùng tỉ số số khối
trên điện tích ion m/e và xác suất có mặt của mỗi dãy ion có cùng tỉ số m/e được ghi
lại trên đồ thị có trục tung là xác suất có mặt (hay cường độ vạch), và trục hoành là
tỉ số m/e gọi là khối phổ đồ [8].Phổ khối lượng cho phép xác định chính xác phân tử
khối và cấu trúc phân tử.
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 22

- Thuyết minh quy trình:
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 23
Nguyên liệu sau khi xử lí, tiến hành chưng cất tinh dầu trong thời gian 60
phút. Để nguội, lắng, phân ly tách lấy phần tinh dầu thô.
Sau đó làm khan tinh dầu thô bằng Na
2
SO
4
khan. Dùng natrisunfat khan
với hàm lượng 2,5 - 5,5% tùy theo hàm lượng nước có trong tinh dầu. Sau đó lọc
natrisunfat thu được tinh dầu. Cân để xác định lượng tinh dầu ly trích được. Ghi
nhận kết quả [9],[11].
- Giải thích quy trình:
Nguyên tắc của quá trình chưng cất lôi cuốn hơi nước là sự thẩm thấu,
khuếch tán và hòa tan. Ban đầu nước từ bên ngoài thẩm thấu vào trong tế bào, sau
đó xảy ra sự khuếch tán, hòa tan. Dưới tác dụng của nhiệt, hơi nước lôi cuốn tinh
dầu bốc hơi, tiếp theo là sự ngưng tụ ở bình hứng. Khi xay nhỏ nguyên liệu, các tế
bào chứa tinh dầu bị vỡ, sự thẩm thấu và khuếch tán xảy ra nhanh hơn nên thời gian
chưng cất ngắn hơn.
Lượng muối ăn thêm vào đóng vai trò là làm tăng tỉ trọng của nước, phá vỡ
hệ nhũ tương tinh dầu-nước, làm cho tinh dầu dễ tách lớp trong quá trình chưng cất.
Do đó nó rút ngắn thời gian chưng cất.
Xử lý tinh dầu thô sau khi chưng cất vì tinh dầu ra khỏi thiết bị phân ly là
tinh dầu thô, còn chứa nhiều tạp chất như: nước, một số các hợp chất hữu cơ như
chất màu, nhựa, sáp hòa tan. Để nâng cao chất lượng tinh dầu và tạo điều kiện thuận
lợi trong quá trình bảo quản, nghiên cứu tinh dầu phải lắng, gạn, làm khan [7],[9].

Tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của ba yếu tố sau:
- Thời gian chưng cất.

(5) Lưu trữ thông tin
CE: Điện cực đối
RE: Điện cực so sánh
WE: Điện cực làm việc
Chế độ đo: - Tốc độ quét thế là 30Mv/s
- Khoảng quét thế:
(1)

WE
RE
CE

I
PotentioStat
(2)
ADC
DAC
(3)
PC
(4)

Lưu
trữ
(5)
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thị Miên Trang 25
+ Từ -1.2V đến -0.5V đối với điện cực thép
+ Từ -1.5V đến 0.5 V đối với điện cực đồng




Để tẩy gỉ cho bề mặt điện cực làm việc chúng tôi dùng axit H
2
SO
4
với nồng
độ 18% - 20%, nhiệt độ tiến hành ở 25
0
C để làm giảm sự hoà tan kim loại và khí H
2

thoát ra.

Dùng dung dịch Na
2
CO
3
có nồng độ 30mg/l để tẩy mỡ bề mặt điện cực làm
việc trước khi tiến hành nghiên cứu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status