Đề cương lịch sử văn minh thế giới
Khái niệm văn hóa,văn minh, điểm giống và khác nhau của lịch sử văn minh thế giới?
Văn hóa là 1 hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo tích lũy trong lịch sử thông qua quá trình
thực tiễn của con người, các giá trị này được cộng đồng chấp nhận vận hành trong xã hội và k ngừng
truyền lại cho thế hệ sau, thể hiện trình độ phát triển và đặc tính của mỗi dân tộc.
Văn minh là khái niệm dùng để chỉ trạng thái triển của xã hội,khi đã đạt đến trình độ có sự phân chia đẳng
cấp, đã hình thành tổ chức nhà nước ,đã có bước nhảy vọt về chế tác công cụ và phục vụ sản xuất và các
nhu cầu đời sống, đã có chữ viết và sự phát triển theo hướng tinh thần trong hướng nhân bản hóa.
Giống : Giá trị vật chất và tinh thần của con người sáng tạo ra.
Khác : về văn minh : từ khi có sự ra đời của đẳng cấp. văn hóa là 1 đường xuyên suốt của đẳng cấp
Câu 1 : Trình bày những thành tựu của văn minh Ai Cập cổ đại và phân tích ý nghĩa của
những thành tựu đó với sự phát triển của văn minh nhân loại đó.
Những thành tựu văn minh Ai Cập:
• Kiến trúc và điêu khắc :
• Về kiến trúc thì Kim tự tháp Ai Cập là 1 trong 7 kì quan thế giới . Trong khoảng thời gian
từ năm 3000 Tr.CN đến năm 1500 Tr.CN, ở Ai Cập đã xác lập được mô hình nhà nước
trung ương tập quyền hùng mạnh do các pharaong đứng đầu. Kim tự tháp đầu tiên cao
khoảng 60m, có bậc thang từ thấp lên cao, mỗi cạnh đáy là 120mx106m, các kim tự tháp
ở các triều đại tiếp theo như kim tự tháp Kê ốp có hình dáng một khối đá hình chóp nhọn
cân : đáy là hình vuông, mỗi cạnh dài 232m, cao 146,5m ; kim tự tháp Kê phren có kích
thước nhỏ hơn và chỉ cao 137m…. kim tự tháp không chỉ là kỳ quan của thế giới cổ đại
mà còn là đỉnh cao của văn minh nhân loại.
• Về điêu khắc tiêu biểu trong đó là tượng Nhân sư Ai Cập, trong hàng nghìn tượng nhân
sư thì tượng Nhân sư kim tư tháp Kê phren ở Ghi đê là đặc biệt nhất. Pho tượng này được
tạo tác từ một khối đá hoa cương nguyên gốc có độ dài 57m, cao 20m mô tả con sư tử
trong tư thế nằm nghỉ ngơi thoải mái, các cơ bắp hoàn toàn buông lỏng nhưng vẫn toát
lên một sức mạnh siêu phàm đáng kinh kinh ngạc. Đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Ai
Cập là tượng bán thân Hoàng hậu Nêphecti –vợ của vua Amen Khô tep IV (1424-1388
Tr.CN)
*Ý nghĩa : Để xây dựng những kim tự tháp đồ sộ như vậy, nhà nước phải có nền kinh tế vững
mạnh, dồi dào, đồng thời đòi hỏi một lực lượng lao động đông đảo tới hàng trăm ngàn người,
*Ý nghĩa : nhà nước ra đời là một kết quả của một quá trình phát triển của lực lượng sản xuất dẫn
đến sự phân hóa giai cấp trong xã hội, đòi hỏi phải có một thiết chế xã hội chặt chẽ.
• Chữ viết và văn học :
Chữ viết : là một trong những thành tựu của văn minh của Ai Cập. Ban đầu chữ viết Ai Cập là
loại chữ tượng hình. Để thể hiện những suy nghĩ đơn giản, người Ai Cập đã trình bày bằng những
hình vẽ. Trong những hầm mộ các kim tự tháp và qua các hiện vật đã thu được, người ta thấy rất
nhiều hình người, chim cá cây cỏ hoa lá trăng sao,sông suối… được xếp cạnh nhau.
Sau đó, chữ viết Ai Cập phát triển đến trình độ hợp ý, nghĩa là thể hiện một tổ hợp có 2 hoặc 3
hình vẽ để nói lên một yêu cầu, một suy nghĩ nào đó trừu tượng.
VD : ≅ sông, Θ mặt trời…
Dần dần chữ Ai Cập cấu tạo phức tạp hơn, trên cơ sở hợp thanh, được biểu hiện thành hình vẽ,
sau đó là những chữ chỉ âm tiết được sắp xếp thành những chữ cái. Chữ của người Ai Cập thường
được khắc trên gỗ, trên xương, trên đồ gốm, hoặc được viết trên da thú, trên vải gai. Đặc biệt
người Ai Cập viết chữ trên cây papyrut
Văn học : thấm đẫm thế giới quan tôn giáo, đề cập đến đạo lý, phản ánh cuộc đấu tranh của nhân
dân chống lại sự tàn bạo, bạo cường.
Các tác phẩm tiêu biểu :
o Lời kể của Ipuxe
o Lời răn dạy của Đua núp
o Nói thật và nói láo, nói chuyện với linh hồn của mình, sống sót sau vụ đâm thuyền
• Khoa học và kĩ thuật
ℑ Thiên văn học phát triển, biết được vị trí của 12 cung hoàng đạo, phân biệt được các hành tinh
trong hệ Mặt Trời để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
ℑ Dựa vào mực nước sông Nin và sự xuất hiện của ngôi sao Lang (Sirus) trên bầu trời để làm lịch
pháp. Một năm của người Ai Cập bắt đầu từ tháng 7 dương lịch có 365 ngày, 12 tháng. Đường
kinh tuyến đi qua đúng trung tâm kim tự tháp cho thấy trình độ cao của người Ai Cập. Một năm
của người Ai Cập có 3 mùa, mỗi mùa 4 tháng.
ℑ Toán học phát triển cả về Đại số và Hình học
ℑ Để phục vụ cho việc ướp xác, y học và hóa học của Ai Cập cũng phát triển vượt bậc.
*Ý nghĩa : Là những thành tựu vô cùng xuất sắc của người Ai Cập thời cổ đại, những thành tựu đó
• Giáo dục: Khổng Tử là người đầu tiên sáng lập chế độ giáo dục tư thục ở Trung Quốc. Mục đích của
giáo dục là uốn nắn nhân cách và bồi dưỡng nhân tài, vì vậy phương châm giáo dục quan trọng của
Khổng Tử là học lễ trước học văn sau, học đi đôi với hành, coi trọng phương pháp giảng dạy. Với
quan niệm “hữu giáo vô loài”, Khổng Tử khẳng định giáo dục không phân biệt giới tính, tuổi tác, giáo
dục đem đạo đức và trí thức cho tất cả mọi người. Với mục đích đào tạo chính nhân quân tử cho nhà
nước, nội dung dạy học của Khổng Tử thiên về đạo đức xã hội, ít chú trọng tới khoa học tự nhiên.
• Mạnh Tử hoàn thiện thêm học thuyết Khổng Tử bằng tư tưởng dân bản, thuyết tính thiện và lương
tri “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Dân là gốc bền của nước, để an dân phải chăm lo phát
triển kinh tế, chấm dứt chiến tranh.
Đạo gia: còn gọi là đạo Lão Trang vì người sáng lập là Lão Tử và người phát triển học thuyết này là
Trang Tử. Đạo gia cung cấp cơ sở triết học cho văn hóa Trung Quốc. Hạt nhân chủ yếu của hệ phái tư
tưởng này nằm trong tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão Tử.
• Đạo là nguồn gốc chung của thế giới, là quy luật tự nhiên, là bản nguyên vũ trụ, khởi thủy của sự
sống.
• Đức là đặc tính của sự vật, là sự thể hiện của đạo, là quy luật biến hóa tự thân của sự vật
• Lão Tử dùng đạo và đức để giải thích tính đa dạng và thống nhất của vũ trụ, nguyên nhân hình thành
và biến hóa của các hiện tượng tự nhiên. Yếu tố duy vật trong tư tưởng Lão Tử bắt đầu từ quan niệm
vũ trụ không có từ thượng đế mà khởi nguồn từ đạo. Mọi sự vật đều bao gồm 2 mặt đối lập nhưng
thống nhất, đó là chính và phản. Chúng đấu tranh và nhờ đó sự vật phát triển.
• Quan điểm của Lão Tử là đạo thường vô vi nên không áp đặt, không can thiệp, thuận lẽ tự nhiên.
Trong xã hội, con người nên tự biết mình mà giảm bớt dục vọng, thay đổi hiện thực đen tối bằng cách
quay về đời sống giản dị, thuần phác, gần gũi thiên nhiên. Giải pháp chính trị là áp dụng chính sách
nước nhỏ dân ít, sống đạm bạc ít học hành. Đó là sai lầm chính trị, nhưng phép biện chứng của Lão
Tử vẫn là 1 đóng góp lớn.
• Tư tưởng thiên nhân hợp nhất, coi đạo người cũng như đạo trời, theo đuổi cuộc sống hài hòa với
thiên nhiên là khởi phát trường phát nghệ thuật lãng mạn, sáng tạo ra những phạm trù thẩm mĩ, những
thú chơi tao nhã, những đạo sĩ thâm sâu. Họa đạo Trung Hoa, thú chơi bonsai… đều bắt nguồn từ đây,
lan truyền ra khắp thế giới, góp phần làm cho văn hóa xã hội phong phú sâu sắc.
• Trang Tử là người hiền tài nhưng không ra làm quan, ông đã thần bí hóa học thuyết Đạo gia bằng
những luận thuyết của mình. Trang Tử kế thừa học thuyết đạo pháp tự nhiên, không thừa nhận thượng
- Phi nhạc: không lễ nhạc xa hoa
- Phi mệnh: phản đối mệnh trời
- Thiên chí: coi ý chí của trời là thương yêu tất cả
- Minh quỷ: thừa nhận có quỷ thần
b. Sự ảnh hưởng của Nho gia đến văn hóa Việt Nam
• Ảnh hưởng đến nhân sinh: Nho giáo đều ảnh hưởng đến con người, giúp cho người ta hiếu học và
thành công hơn trong xã hội, đặc biệt, bản tính "Thiện" luôn đề cao các giá trị về chính trị, phẩm chất
quý giá, phạm trù với chữ "Nhân" do Khổng Tử để lại, chữ "Nhân" được coi là nguyên lý để quy định
bản tính, quan hệ giữa người với người, từ quý tộc đến nông dân
• Ảnh hưởng đến tác phẩm, văn học và châm ngôn
- Nho giáo được xem là có sức lan tỏa và ảnh hưởng đến Văn học Việt Nam, điển hình như hai bản
tuyên ngôn độc lập như "Nam Quốc Sơn Hà" của Lê Hoàn và "Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn Trãi
đề cao tính dân tộc, nguyện vọng dành độc lập của Nhân dân Việt Nam, trong đó ở tác phẩm "Nam
Quốc Sơn Hà" có kể đến câu: "Sông núi nước Nam, vua Nam ở, rành rành định phận tại sách Trời" đã
nhắc đến nước Nam đã có chủ quyền và luôn chống lại sự uy hiếp từ phía phương Bắc cho dù chứng
mình với trời đất mà nhân dân kính phụng.
- Câu châm ngôn "Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn" đã có từ nghìn năm của dân tộc Việt Nam, đối với
Nho giáo, chữ "Lễ" luôn nhắc đến người dân rằng phải học lễ độ, ứng xử tôn ti trật tự, đề cao tính lễ
kính với người và phải có trên dưới rõ ràng, còn chữ "Văn" luôn nhắc nhở phải học Văn để sau này
con cháu muôn thuở đời sau phải nhớ đến công lao của ông cha ta để lại trong suốt nhiều năm liền.
Câu này đã phổ biến ở khắp trường học trên cả nước, không những thế nó còn là một công cụ hữu ích
trong việc phát triển xã hội Việt Nam hiện nay.
Câu 3: Phân tích ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ cổ trung đại đến khu vực Đông Nam Á
Ngay từ đầu Công nguyên, các cư dân Đông Nam Á đã có dịp tiếp xúc, giao lưu với văn hóa Ấn
Độ qua các thương gia và các nhà truyền đạo.
Khác với Trung Quốc, văn hóa Ấn Độ xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á không phải bằng cách
cưỡng bức, bằng sự đô hộ mà bằng con đường hòa bình. Chính vì vậy, đối với các quốc gia Đông Nam Á,
việc tiếp nhận văn hóa Ấn Độ, hay nói một cách chính xác hơn, sự giao lưu văn hóa Đông Nam Á - Ấn
Độ, gần như là tự nhiên.
Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ sang khu vực Đông Nam Á được thể hiện ở rất nhiều mặt, nhiều
Trước hết như đã nói, thương gia Ấn Độ đến các vùng ở Đông Nam Á để mua hương liệu, gia vị, v.v…
Hoạt động có tính chất thương mại này của họ đã góp phần thúc đẩy kinh tế các vùng đó phát triển. Đồng
thời, văn hóa Ấn Độ cũng theo đó mà được truyền vào Đông Nam Á. Từ Ấn Độ các nhà truyền đạo cũng
lợi dụng các thuyền buôn để vào Đông Nam Á. Cũng có một tình hình là không chỉ người Ấn Độ đến
Đông Nam Á mà bản thân những người Đông Nam Á bản địa cũng đến Ấn Độ với mục đích thương mại
và nhờ đó tiếp thu văn hóa Ấn Độ.
Vào những thế kỉ gần Công nguyên, đồ sắt bắt đầu phổ biến ở Đông Nam Á. Với đồ sắt phát triển,
các dân tộc Đông Nam Á nói chung bước vào một thời kì mới: thời kì tan rã của xã hội nguyên thủy và
hình thành xã hội có giai cấp. Nhiều thủ lĩnh của các bộ tộc ở Đông Nam Á đã nhanh chóng tiếp thu cách
tổ chức và cai quản nhà nước của Ấn Độ (như trường hợp nhà nước Chămpa nói trên). Song để tổ chức
được một nhà nước vương quyền như Ấn Độ, người ta không thể không chú ý đến vai trò của tôn giáo.
Do đó, khi xây dựng nhà nước, tầng lớp trên của cư dân Đông Nam Á đã tiếp thu của Ấn Độ cả chữ viết,
các văn bản lẫn tôn giáo. Và sau đó hàng loạt những thành tựu văn hóa khác của Ấn Độ được Đông Nam
Á tiếp thu cũng là nhằm để phục vụ cho việc thiết lập và củng cố vương quyền. Rõ ràng những ảnh hưởng
của Ấn Độ đã có tác dụng thúc đẩy quá trình phân hóa xã hội, hình thành những nhà nước cổ đại và góp
phần không nhỏ vào việc tạo ra bản sắc văn hóa Đông Nam Á.
Tóm lại, trên cơ sở của một nền văn hóa bản địa vững chắc – nền văn hóa nông nghiệp lúa nước –
trong thiên niên kỉ đầu Công nguyên, nhân dân Đông Nam Á đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa mới (cả về
vật chất lẫn tinh thần) từ Trung Quốc và Ấn Độ. Và điều đó đã làm cho bức tranh văn hóa Đông Nam Á
ngày càng phong phú, đa dạng và giàu có. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng những sự tác động, ảnh hưởng
từ bên ngoài đến Đông Nam Á không thể biến vùng này thành khu vực “Ấn Độ hóa” hay “Trung Hoa
hóa” được.
Quá trình tiếp thu văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc ở Đông Nam Á trong thời kì này gắn liền chặt
chẽ với quá trình dựng nước và giữ nước sôi động trên toàn khu vực. Trong khi “các dân tộc ở nam bán
đảo Trung - Ấn và ngoài hải đảo tiếp thu các yếu tố văn hóa Ấn để dần dần hoàn thiện tổ chức xã hội của
mình (dựng) thì các dân tộc ở bắc (giữ) mặc dù vẫn phải tiếp thu văn hóa Hán. Thực chất, xét trên toàn
miền [ở đây tác giả dùng từ “miền” để chỉ khu vực Đông Nam Á – MNC], đó chỉ là hai mặt của một vấn
đề có tác động tương hỗ nhau. Không phải ngẫu nhiên mà vào thế kỉ VI sau Công nguyên, tình thế đã diễn
ra là trong khi hầu khắp trên Đông Nam Á, nhiều dân tộc, sau một quá trình tìm tòi tiếp thụ có chọn lọc
văn hóa Ấn, đã thể nghiệm dựng nên được những nhà nước có tính dân tộc bản địa như Chân Lạp,
hợp tài tình này đã vừa làm phong phú văn hóa Đông Nam Á vừa giữ cho các yếu tố văn hóa bản địa
không bị các yếu tố ngoại lai chèn ép, tiêu diệt, thay thế. Trong các bộ nhạc cụ của các dân tộc Đông
Nam Á, ta thường thấy có cả khánh, chuông (du nhập từ Trung Hoa), trống cơm, hồ cầm (du nhập từ Ấn
Độ, Trung Á) lẫn cồng, chiêng, v.v… (nhạc cụ Đông Nam Á). Ngay bản thân các nghi thức tôn giáo vốn
khá chặt chẽ ở nước ngoài khi được nhập vào Đông Nam Á cũng “ị phối hợp” với các tín ngưỡng dân
gian bản địa, hay, nói theo nhà sử học nổi tiếng D.G.E Hall, “được chiết ghép vào những tập tục thờ
cúng”[ thậm chí, có lúc, có nơi trong sự phối hợp ấy, các tín ngưỡng dân gian bản địa lại có vai trò trội
hơn. Ngay ở chùa Dâu (Bắc Ninh) – một chùa nằm cạnh Luy Lâu, nơi phật giáo có cơ sở vào loại vững
chắc nhất nước ta trước đây – các lễ thức liên quan đến phật giáo vẫn bị mờ nhạt trước các lễ thức và các
trò diễn xướng dân gian liên quan đến nữ thần địa phương. Quan sát nghệ thuật kiến trúc tháp Chăm
chúng ta cũng thấy một tình hình tương tự. Về hình dáng, tháp Chăm vừa mang hình núi (biểu tượng cho
núi Meru gọi là Sikhara – truyền thuyết trong Bàlamôn giáo Ấn Độ) lại vừa có những kiến trúc phụ có
mái cong hình thuyền (kiến trúc đặc thù của nhà cửa cư dân Đông Nam Á). Chính sự phối hợp tài tình ấy
đã tạo nên một kiến trúc hết sức độc đáo của các tháp Chăm.
Câu 4 : Những nội dung chủ yếu của Đạo Phật ở Ấn Độ cổ trung đại :
a, Những nội dung chủ yếu của Đạo Phật ở Ấn Độ cổ trung đại
• Đạo Phật ban đầu về bản chất là tôn giáo vô thần với quan niệm thế giới do nhân duyên tạo nên chứ
không có đấng sáng tạo Brahman. Người sáng lập đạo Phật là hoàng tử Gootama, sau này trở thành Thích
Ca Mâu Ni
• Mục đích của đạo Phật là tìm nguyên nhân và phương thức giải thoát nổi khổ cho con người
• Phật giáo ra đời vào thế kỉ VI TCN, chủ trương đề cao đạo đức, tư tưởng bác ái, hướng tới xã hội bình
đẳng hòa đồng. Học thuyết của Phật giáo kết tinh trong tứ diệu kế.
- Bản chất nỗi khổ trên đời Khổ đế. Sinh, lão, bệnh, tử không được thỏa mãn ham muốn… tất thảy đều là
đau khổ. Phật giáo đưa 2 nội dung quan trọng đểu hiểu Khổ đế: Thuyết vô ngã, vô thường. Không có gì là
vĩnh hằng, bất biến.
- Tập đế là chân lý về nguyên nhân nỗi khổ. Vòng quay thập nhị nhân duyên là cơ chế luân hồi. Nguyên
nhân chủ yếu là dục vọng dẫn đến hành động tạo nghiệp do vô minh. Ham muốn còn khiến nghiệp không
dứt, luân hồi mãi mãi.
- Diệt đế là chân lý về sự chấm dứt nỗi khổ. Phải trừ bỏ gốc rễ nỗi khổ nằm ngay trong bản thân con
người là ái dục và vô minh, từ bỏ tham – sân – si để đạt tới niết bàn. Chân lý về sự giải thoát, cùng với vô
cúng bái và cũng không có tầng lớp thầy cúng
b, Sự ảnh hưởng của Đạo Phật tới diện mạo văn minh thế giới
Đạo phật đã trở thành tôn giáo thế giới, ảnh hưởng rất sâu rộng tới văn minh Đông Nam Á. Vượt qua cao
nguyên Tây Tạng, phật giáo xâm nhập vào Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản hoặc nguyên
dạng, hoặc đã phân nhánh Tiểu thừa-Đại thừa, hoặc dưới hình thức đạo Latsma, thờ tượng phật và rao
giảng lối sống tu hành. Về căn bản tư tưởng bình đẳng, bắc ái của đạo phật không phù hợp với quan niệm
ấn độ vốn bị quan niệm đẳng cấp và tín ngưỡng đa phần ăn sâu vào tiềm thức, nhưng lại phù hợp với khát
vọng chung của các dân tộc trên thế giới. Phật giáo là một cống hiến lớn của Ấn Độ cho văn minh tinh
thần của nhân loại.
Câu 5: Những thành tựu của văn minh ĐNÁ thời cổ trung đại:
1.ĐNÁ là quê hương của văn minh N.nghiệp lúa nước:
Nơi khởi đầu cho nền văn minh Nnghiep lúa nước từng được thế giới tranh luận, tìm tòi xem đó là vùng
đất nào, châu lục nào.Có thể thấy, xét về đkiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng,…thì trên TĐất có 1 số vùng
như ĐNÁ, nam T.Quốc, Trung Mĩ, Trung Phi là những nơi có thể phù hợp cho sự sinh trưởng của cây lúa
nước.Nhưng theo kết quả nghiên cứu các di chỉ khảo cổ, người ta đã khẳng định ĐNÁ chính là vùng có
nền NN lúa nước ra đời rất sớm trên thế giới, nơi mà dấu ấn của cây lúa đã được ghi nhận là khoảng
10.000 năm trước Công Nguyên, và cư dân ĐNÁ chính là người phát hiện và thuần dưỡng, phát triển cây
lúa từ bấy giờ cho đến nay.Đó là 1 thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, cũng vì điều đó mã những con
người đã phát hiện ra cây lúa được người dân xem như những vị anh hùng của cộng đồng.
Dẫn chững di chỉ khảo cổ:
Những dấu tích, chứng cứ chứng minh cho việc ĐNÁ là cái nôi của văn minh lúa nước có thể kể ra tiêu
biểu như sau: Nhà khảo cổ học tiền sử người Mỹ, W.Solheim, đã phát hiện ở Hang Ma, Hang Thẩm Phi,
Sam Rong Sen ở Thái Lan dấu tích của giống lúa Oryzasatyva và hoa văn hình cây lúa trên đồ gốm có
niên đại 5000 năm về trước; truy tìm di chỉ khảo cổ trong nền văn hóa thời đại đò đá mới Hòa Bình- Bắc
Sơn ở Việt Nam, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra dấu vết của vỏ trấu, bào tử phấn hoa của các loại
rau, củ, quả cho thấy sự xuất hiện của nền văn minh N.Nghiệp sơ khai dùng cuốc cách đây 8000 năm.
.Điều đó chứng minh cây lúa được ra đời và thuần dưỡng rất sớm ở vùng ĐNÁ, nó đã trở thành cây lương
thực quan trọng của cư dân vùng này.Người ĐNÁ đã biết trồng cả lúa nếp, lúa tẻ, lúa cạn, lúa nước để tạo
ra nguồn lương thực dồi dào; và cây lúa cùng kỹ thuật trồng lúa nước từ vùng ĐNÁ đã dần dần phát triển
và lan tỏa đến các vùng khác nhau trên thế giới.
buôn bán Đông- Tây và ngược lại.Cũng trong quá trình đó, các trung tâm văn minh thương nghiệp ven
biển ĐNÁ , nhiều đô thị thương nghiệp cũng được hình thành và phát triển.
3.Kiến trúc tôn giáo
Kiến trúc của văn minh ĐNÁ chịu ảnh hưởng của kiến trúc Ấn Độ, mang hơi thở tôn giáo.Một số công
trình kiến trúc tôn giáo tiêu biểu của ĐNÁ có thể kể đến các công trình sau:
a.Tòa tháp Bôrôbuđua (Inđonexia): là kiến trúc của Phật giáo, được xây trên đồi cao, có bậc đi lên, được
xây nên bởi những khối đá lớn.Xung quanh có nhiều vòm nhỏ đặt tượng phật bên trong và những phù
điêu trên đá mô tả cảnh sinh hoạt của người Inddonexxia thời kỳ đó: đánh cá, cày ruộng, thu hoạch mùa
màng, cảnh chiến trận.Đây là 1 trong những kiến trúc Phật giáo được xây dựng sớm nhất ở ĐNÁ, được
đánh giá là 1 kiệt tác của nghệ thuật thế giới, thể hiện sự sáng tạo tài tình của các nghệ nhân
Inddooneexxia cách đây 1200 năm.
b.Tháp Chàm: là 1 loại hình kiến trúc tôn giáo tiêu biểu của vương quốc Chămpa (Lào).Tháp thường
được xây trên những vùng đồi cao trong thung lũng phía tây, hướng mặt trời lặn, nơi thượng nguồn các
dòng sông mang ý nghĩa tâm linh, tôn giáo.Tháp Chàm có chức năng để thờ các vị vua Chàm và các vị
thần Â.Độ giáo: Brahma (thần sáng tạo thế giới), Visnu (thần bảo tồn thế giới) và Siva (thần phá hủy thế
giới).Nét độc đáo của nghệ thuật kiến trúc tháp Chàm đó là giữa các hàng gạch dính vào nhau không cần
sử dụng chất liệu kết dính như các công trình kiến trúc cùng thời khác trên thế giới, mà người Chàm đã sử
dụng lại nhựa cây của cây “dầu rái”, cùng với lỹ thuật kết dính đặc biệt mà các công trình tháp Chàm đều
rất bền vững, đứng vững trước mọi thử thách của chiến tranh, khí hậu khắc nghiệt.
c.Đền tháp Ăngkor (Campuchia):
Khu đền tháp Ăngkor Vát là khu đền đài, mộ táng, đài thiên văn được xây dựng bằng đá khối có chức
năng là kinh thành và là đền thờ Â.Độ giáo, thờ vua, thần Siva, Linga.Ăngkor Vát là biểu tượng cho núi
vũ trụ Mêru trong thần thoại Â.Độ, phía dưới có hệ thống hồ chứa nước, kênh ngầm dẫn nước phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp và đời sống.
Ăngkor Thom được xây dựng trong 40 năm (1181-1219) từ những khối đá lớn nặng trên 10 tấn.Đền tháp
là 1 thế giới gắn với vũ trụ quan Â.Độ.Xung quanh tháp là cung điện, thành lũy, trong khu đền có 1 hồ
nước nhân tạo Barangtay như 1 nguồn dự trữ nước cung cấp cho trung tâm quyền lực chính trị, tôn giáo
d.Quần thể kiến trúc chùa tháp Mianma: từ thế kỷ XI-XIII, người Mianma đã xây dựng quần thể kiến trúc
Pangan Goong trên 5000 tháp với những mái nhọn dát vàng vươn cao.Năm 1774, chùa Vàng (được xây
dựng từ 2000 năm trước nhưng bị chiến tranh phá hủy) được xây dựng lại với chiều cao 99m, chùa được
bảo trợ, lo về công việc đó. Kho tàng thần thoại Hy Lạp mãi tới ngày nay còn được nhiều môn nghệ thuật
ở các nước trên thế giới khai thác. Đây là một dân tộc có một kho tàng thần thoại mà nhiều dân tộc lớn
trên thế giới phải ghen tị. Về sau, khi có chữ viết, kho tàng thần thoại này được Hêdiốt ( nhà thơ Hy Lạp
sống vào thế kỉ VIII TCN ) hệ thống lại trong tác phẩm Gia phả các thần.
Thơ ca là thể loại văn học rất phát triển, đặc biệt nó có thế mạnh khi chưa có chữ viết. Tiêu biểu nhất phải
kể đến tácphẩm Iliat và Ôđixê của Homer ( thế kỉ IX TCN ). Iliat dài 15893 câu thơ, ca ngợi lòng dũng
cảm, ý chí chiến đấu, khát vọng lập chiến công của các vị anh hung, tình cảm nhân văn được thể hiện qua
sự thương xót của tác giả về tính chất khốc liệt nghiệt ngã của chiến tranh. Trường ca Ô-đi-xê dài 12110
câu thơ, biểu tượng cho ý chí trí tuệ nghị lực con người Hy Lạp, bài ca lao động hòa bình, thể hiện ước
mơ của con người đến với vùng đất mới chinh phục thiên nhiên, khám phá biển cả bao la.Tới thế kỉ VII-
VI TCN xuất hiện nhiều nhà thơ được công chúng ưa thích như Acsilôcút, Xôlông, Xaphô, Anacrêông
Hy Lạp là quê hương của kịch nói phương Tây. Ở đây có cả bi kịch lẫn hài kịch. Những nhà viết kịch nổi
tiếng thời đó như Etsin, Sôphôclơ, Ơriphrat
- Sử học:
Từ thế kỉ VIII-VI TCN, lịch sử Hy Lạp chỉ được truyền lại bằng truyền thuyết và sử thi. Đến thế kỉ V
TCN lịch sử ở Hy Lạp mới trở thành một bộ môn riêng biệt. Các nhà viết sử tiêu biểu của Hy Lạp thời đó
là Hêrôđôt (Herodotus) với cuốn Lịch sử chiến tranh Hy-Ba , Tuyxiđit (Thuycudides) cuốn Lịch sử chiến
tranh Plôpônedơ.
- Kiến trúc, điêu khắc:
Những công trình kiến trúc của Hy Lạp cổ đại không hùng vĩ như của Ai Cập cổ đại nhưng nó lại nổi bật
ở sự thanh thoát, hài hoà. Các công trình kiến trúc ở Hy Lạp cổ đại thường được xây dựng trên những nền
móng hình chữ nhật với những dãy cột đá tròn ở bốn mặt. Qua nhiều thế kỉ, người Hy Lạp cổ đại đã hình
thành ra ba kiểu cột mà ngày nay người ta vẫn thể hiện trong trường phái “cổ điển”.Kiểu Đôric(thế
kỉVIITCN ), trên cùng là những phiến đá vuông giản dị không có trang trí; kiểu Lônic (t.kỉ V TCN) cột đá
tròn thon hơn, có đường cong ở bốn góc phiến đá hình vuông như hai lọn tọc uốn; kiểu Côranh ( thế kỉ IV
TCN ) có những cành lá dưới những đường cong, thường cao hơn và bệ đỡ cầu kì hơn.
Các công trình kiến trúc tiêu biểu thời bấy giờ là đền Pactơnông (Parthenon) ở Aten, đền thờ thần Dớt
(Zeus) ở núi Olempia, đền thờ nữ thần Atena (Athena).
Các nhà điêu khắc ở Hy Lạp cổ đại cũng để lại nhiều tác phẩm tới bây giờ vẫn xứng đáng là mẫu mực cho
điêu khắc như các pho tượng Vệ nữ ở Milô, tượng Lực sĩ ném đĩa, tượng nữ thần Atena, tượng thần
phong kiến, chống chủ nghĩa kinh viện và giáo hội, hướng con người vào xây dựng cuộc sống thực tại.
Lịch sử ra đời của chủ nghĩa nhân văn được xác lập từ khi xuất hiện phong trào Phục hưng. Với lý do
khôi phục lại nền văn hoá cổ đại, các nhà nhân văn đã khởi xướng phong trào Renaissance (Phục hưng)
khôi phục các giá trị văn hóa cổ đại - những gì mà Chúa đã cho phép - nên giáo hội không có cách gì
ngăn cản
Chủ nghĩa nhân văn khởi phát ở Ý và được thực hiện bởi những nhà tư tưởng, những cá nhân ưu tú, uyên
bác, giàu tinh thần cách mạng và canh tân. Hơn nữa, họ còn có quyết tâm mạnh mẽ để thực hiện lý tưởng
nhân văn ấy. "Tinh thần nhân văn trước hết là một tinh thần tranh đấu. Tranh đấu cho giai tầng tư sản các
thành thị chống phong kiến. Tranh đấu cho dân tộc Ý chống lại cuộc xâm lăng của những dị tộc"
Với tinh thần đấu tranh chống lại sự cai trị hà khắc của chế độ phong kiến, chủ nghĩa nhân văn trở thành
một trào lưu tư tưởng hiện thực với sức mạnh to lớn và có ý nghĩa sâu sắc. Tinh thần nhân văn là tinh thần
để xây dựng văn hoá mới. Tinh thần nhân văn là tinh thần tranh đấu cho một tư tưởng, một chế độ tiến bộ
hơn, một đời sống lành mạnh, đầy đủ, công bằng hơn đời sống phong kiến"(1, tr.27).
Ban đầu, tư tưởng nhân văn xuất hiện trong lòng người, mang âm hưởng thời đại, được quần chúng nhiệt
liệt hưởng ứng, mang tính tự nguyện, tự phát. Các tư tưởng này hướng về cái mới, chống lại sự thủ cựu
của những kẻ bóc lột, chống lại sự xuống cấp đạo đức trong xã hội và của cả tầng lớp tăng lữ.
Dần dần, những tư tưởng tiến bộ này đã được các nhà triết học, các nhà văn, các nghệ sĩ có tên tuổi tán
thành. Họ nhiệt tình đem kiến thức sâu rộng của bản thân để hoàn thiện, nâng cao những tư tưởng ấy
thành chủ nghĩa nhân văn. Đó là những người như: Dante, Petracca, Boccacio, Alberti, Leonar de Vinci,
Eraxmer, Bruno, Rabelais, Montaigne, Copernic, F.Becon và nhà soạn kịch vĩ đại của thế giới - William
Sheakerspear.
Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng đã được hoàn thiện trong các tác phẩm của Voltaire, D.Diderot,
J.J.Rousseau ở nước Pháp thời Khai sáng - thế kỷ XVIII.
Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng được kết tinh trong khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng -
Bác ái", từ hành vi muốn lật nhào chế độ phong kiến, đem Louis XVI ra chém đầu trước quảng trường
Louvere, lập nên nước Cộng hòa ở Pháp.
1.2. Những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng
Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa nhân văn được sinh ra trong thời kỳ Phục hưng ở châu Âu. Chủ nghĩa
nhân văn - đó là đỉnh cao của những lý tưởng, lý luận, quan điểm nhằm kêu gọi, thức tỉnh và phục vụ cho
lợi ích của loài người tiến bộ, đặc biệt là những người lao động, để giúp con người tự khẳng định những
hình thái kinh tế xã hội mới, nghĩa là phải dựa vào nền văn minh mới - văn minh công nghiệp.
Nói đến ảnh hưởng của một triết thuyết đối với sự phát triển con người tức là nói tới vai trò của lý luận,
mở ra một triển vọng thực tiễn cho bước tiến mới của xã hội.
Đây là thời kỳ mà "dưới ảnh hưởng của sự cải tạo tư tưởng, con người phương Tây đã thoát ly hẳn khỏi
"cái bầu trời ảm đạm của đêm trường trung cổ" mà bước vào một đời sống mới, như được một luồng sinh
khí mầu nhiệm vừa thổi vào trong mạch máu, bộ mặt châu Âu bỗng trẻ trung, hồng hào lại. Châu Âu từ ấy
ngày càng tiến bộ và đã có cơ vượt hẳn các dân tộc khác để làm bá chủ thế giới suốt mấy thế kỷ ròng về
tất cả các phương diện kinh tế - chính trị - văn hoá”
Cùng với những nền tảng thực tiễn ấy, những tiền đề về tư tưởng văn hoá, khoa học kỹ thuật cũng phát
triển vô cùng mạnh mẽ. Một phần rất quan trọng của những công trình xã hội ấy có nền tảng từ việc trở
lại và làm hưng khởi những giá trị vốn có từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. "Nói đến các tiền đề nhận thức
của triết học châu Âu thời kỳ này, trước tiên, phải đề cập đến những thành tựu về tư tưởng và văn hoá cổ
đại nói chung và văn hoá Hy Lạp nói riêng. Các phát kiến khoa học của nhân loại thời cổ như toán học
của Talét, Pitago, hình học của Ơclit, vật lý của Acsimet,… được khôi phục lại sau đêm trường trung cổ.
… Ý nghĩa của những giá trị tư tưởng, văn hoá Hy Lạp, La Mã cổ đại đối với xã hội Tây Âu thời kỳ này
lớn tới mức người ta gọi giai đoạn lịch sử từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI là thời kỳ Phục hưng “
Chúng ta thấy những giá trị có được từ thời cổ đại có những ý nghĩa to lớn: một mặt, chúng có cơ sở từ
việc quan sát, nghiên cứu tự nhiên, phản ánh những quy luật của tự nhiên, nó mang tính vĩnh cửu; mặt
khác, những định đề của Talet, Pitago, … trở nên đắc dụng trong những đổi thay to lớn của xã hội. Những
công trình kiến trúc, những áng sử thi, những giá trị văn hoá với tinh thần quật khởi và anh hùng được
sống lại và mang những sinh khí mới sau giấc ngủ dài suốt nghìn năm của châu Âu trung cổ. Lúc này,
người châu Âu khao khát sống một cuộc sống mãnh liệt. Họ mạnh mẽ đòi vứt bỏ cái trầm mặc yếu đuối
cũng như sự lặng lẽ đến u uất của những cánh cửa nhà thờ. Họ muốn tình yêu của họ được công khai và
tự do. Sau cả ngàn năm đọc kinh cầu Chúa, sau giấc ngủ dài suốt thời kỳ trung cổ, người dân châu Âu trở
dậy vươn mình trong ánh bình minh của nền văn minh công nghiệp.
Những năm của thế kỷ XIV, XV, những bộ óc đầy tính trí tuệ và đôi tay khéo léo của Jame Hagrever và
Jame Watt đã mở ra một cách nhìn mới, một hướng đi mới cho châu Âu. Những chiếc máy dệt đã thay thế
chiếc xa kéo sợi. Những chiếc máy hơi nước đã thay thế cối xay gió và đem lại cho con người biết bao
nhiêu lợi ích. Với sự ra đời của máy móc, gia súc chỉ còn được nuôi để mang lại nguồn thực phẩm cho
con người chứ không còn phải cày kéo. Những con tàu ra khơi vào lộng trên sóng Đại Tây Dương hay
Thứ ba, hệ thống này dựa vào phương pháp duy vật trên nền lịch sử mà xây dựng thành một chỉnh thể.
Và khi những lời cầu nguyện đã thê thiết suốt bao đêm dài, sau bao buổi cầu kinh mà vẫn chẳng thấy
Thượng đế đến cứu rỗi, trong khi vợ con nheo nhóc, cuộc sống bần hàn, khổ cực,… thì người ta phải
đứng lên. Lúc này, người ta nhận thức rằng một con
3.Tư tưởng trung tâm, tư tưởng lãnh đạo cuộc vận động Văn hóa phục hưng là chủ nghĩa nhân văn.
Nói một cách sơ lược, thì chủ nghĩa nhân văn là một hệ thống tư tưởng lấy cõi người, lấy con người làm
trọng. Các nhà nhân văn chủ trương rằng: công cuộc kiến thiết văn hóa là một công cuộc của người và lấy
con người, lấy cõi đời làm bản vị.
Nếu chỉ có thế thôi, thì chủ nghĩa nhân văn có gì là lạ, là cao sâu, là vĩ đại?
Ngay trong các công trình kiến thiết của nhân loại, xưa nay, đối với con người, với khả năng và giá trị của
con người, từ tình cảm cho đến nghị lực, từ tâm tư cho đến hành động, con người vẫn bị hoài nghi, khinh
rẻ. Tình cảm trí tuệ, nghị lực của ta, ta thấy là quá chật hẹp, quá bạc nhược! Và quá ngắn ngủi, qua bấp
bênh là đời sống của con người, là tác dụng của việc người. Vận mệnh của con người, con người cũng đã
vui lòng đem “phó cho Ông Xanh”. Thành bại trong công việc hằng ngày là tùy sự định đoạt của Trời,
Phật, Thánh thần. Mọi phát kiến về khoa học, về tư tưởng về nghệ thuật là câu chuyện “thần linh phù
hộ” Nói rằng mấy ngàn năm nay, một bầu “âm khí nặng nề” đã phủ kín cả gầm trời tư tưởng của con
người, tưởng cũng chẳng phải quá lời.
Nhận con người làm bản vị cho mọi công việc kiến thiết, trước hết là thừa nhận năng lực của con người
trong sự nghiệp kiến thiết. Cũng là thừa nhận tính cách người – trái với tính cách thần linh của mọi hệ
thống tôn giáo. Cũng là chủ trương rằng: văn hóa phải thích ứng với cõi người, phải có tính cách nhân
đạo, phải chống lại những lực lượng trái với quyền lợi của sự sống, bất kỳ là lực lượng nào, từ đâu mà
đến. Và cũng nói rằng: mọi công cuộc kiến thiết của con người cũng chỉ có giá trị trong một thời kỳ, một
xã hội. Với tính cách có điều kiện tương đối ấy, văn hóa loài người cần phải luôn luôn đổi mới để cho
thích hợp với đời sống.
Ta hằng nhìn bộ mặt con người trên các tác phẩm mỹ thuật của thời đại: nó rất ít sinh sắc và thiếu hẳn yếu
tố cá tính. Ngay trong chân dung các bậc vua chúa cũng vậy: Cơ hồ như bộ mặt nào cũng giống bộ mặt
nào. Khó nhìn thấy những nét riêng cá biệt. Chỉ có một bộ phận duy nhất, một bộ mặt ước lệ của ông vua
Trung Cổ. Không có ý thức rõ rệt về nhân cách. Điển hình nghệ thuật cũng chỉ đi đến con đường ước lệ.
Nói như Jacob Burckhardt, một nhà sử học thế kỷ XIX, một chuyên gia về lịch sử Trung Cổ và thời kỳ
Văn hóa phục hưng: “Nghệ thuật chỉ là một lối biểu hiện, không có một cốt cách nào để mô tả đời sống
Những bậc thiên tài trác tuyệt đã xuất hiện trong văn học và nghệ thuật, đại biểu cho khuynh hướng tiến
bộ. Tác phẩm của họ đã in rõ nhãn hiệu của thời đại: tinh thần khoa học, tinh thần dân tộc và cá nhân chủ
nghĩa. Camabue (1246-1032), Gioto (1266-1336) và Massacio hướng dẫn hội họa về với tinh thần tự
nhiên của nghệ thuật Hy Lạp. Brunellesco (1367-1446) xây dựng lại nền nếp kiến trúc cổ điển, ngọn dao
trổ của Nicolas de Pise hoàn hồn cho nghệ thuật điêu khắc, Ghiberti (1378-1455) Donatello (1386-1466)
bước vào nghệ thuật tả chân. Những bức họa phong cảnh bắt đầu ra mắt công chúng. Luật viễn cận và họa
khỏa thân đã được thông dụng trong hội họa để mô tả con người, từ cơ thể, nhan sắc, tinh thần của nhân
vật cho đến khung cảnh hoạt động của đời sống. Nét mặt, cử chỉ, nếp áo trong họa phẩm muốn bộc lộ cả
một tâm trạng, một tư cách, một cá tính riêng biệt. Nghệ thuật đã đẵm một vẻ nhục cảm, chan chứa ý vị
trần tục, vật chất, chân thật chống lại lý tưởng thượng giới ngày xưa.
Trong nền nghệ thuật mới, bao nhiêu tinh thần đã quy tụ: chủ nghĩa tự nhiên có tính chất chủ quan của
nghệ thuật Gothique, tác phong trang nghiêm, lạnh lùng và kết cấu minh bạch, phân lượng cân xứng giữa
tinh thần cổ điển, cái thâm trầm của tư tưởng miền Bắc cho đến chủ nghĩa thần bí của nghệ thuật
Byzantin, di sản của Hy Lạp, La Mã, văn hóa Trung Cổ Pháp và mọi sự tiến bộ hiện đại về toán học, về y
học, về lịch sử, đều có cống hiến cho nghệ thuật mới. Người ta đã nhận thấy ở đây tất cả cái nhiệt tình của
thời đại, sự sáng suốt của khối óc, của cặp mắt vừa được mở rộng trước một vũ trụ mênh mông, thiên
hình vạn tượng. Xu thế lịch sử đã chuẩn bị những điều kiện khách quan đầy đủ cho một lớp thiên tài mới
có thể xuất hiện: Léonard de Vinci (1452-1519), Michel Ange (1475-1564), Le Corrège (1499-1534),
Gior-gione (1477-1511), Le Titien (1477-1576). Nhưng nói đến nhân văn chủ nghĩa Ý, trước hết phải nói
đến văn học. Mà nói đến văn học Ý là phải nhắc đến sự nghiệp của ba nhà văn hào có công nhiều hơn hết
trong sự xây dựng nền văn học tân tiến: Dante, Pé trarque và Boccace.
Dante (1265-1321) là một nhà thi sĩ quý tộc, đại biểu cho thời kỳ quá độ. Nhân sinh quan của Dante chưa
thoát khỏi hẳn khuôn sáo của lên luân lý phong kiến. Dante đã thi vị hóa cái chủ nghĩa cấm dục
(ascétisme) của tôn giáo Gia Tô. Tập Thần khúc là tiểu truyện của một tâm hồn đã từng mê mẩn trong cõi
dục tình, và được ái tính cứu vớt, rồi sống lại cái đời sống sáng sủa hạnh phúc bên cạnh Chúc. Một nhà thi
sĩ, tức Dante, vừa lùi bước khoảng nửa đời người trên đường đời, đã bị lạc đường vào một cảnh rừng âm
u. Trong khi hoảng hốt, thi sĩ bỗng thoảng nghe giọng nói của cô tình nhân ngày trước là Béatrice.
Béatrice sẽ tìm cách cứu người cũ. Rồi tình cờ thi sĩ gặp một tiền bối trong làng thơ Ý Đại Lợi là Virgile.
Virgile sẽ dẫn bạn đồng nghiệp trẻ tuổi đi xem địa ngục. Đây là chỗ để trừng trị tội lỗi của những bọn
người lừa thầy, dối bạn, trốn chúa, lộn chồng. Bao nhiêu kẻ tham lam, dữ tợn và không tin đạo, đang quằn
lại một đế quốc La Mã chung quy
Câu 8: Phân tích những đặc điểm cơ bản của văn minh công nghiệp liên hệ với quá trình công
nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
***Những đặc điểm cơ bản của văn minh công nghiệp
Đây là nền sản xuất được cơ giới hóa bằng máy móc, quá trình sản xuất không tách chia mà liên kết thành
một dây chuyên theo quy trình công nghệ cao. Khi cỗ máy khởi động nó liên kết sức lao động của rất
nhiều người theo một trình tự nhất định.
Đặc điểm của văn minh công nghiệp gắn với 4 nguyên tắc cơ bản của nền sản xuất tập thể.
-Những quy tắc của sản xuất công nghiệp chi phối tất cả các mặt hoạt động của kinh tế và xã hội, tất cả
đều phải được tiêu chuẩn hóa. Nền giáo dục phải được tổ chức thành hệ thống theo chương trình thống
nhất để tạo nên nguồn nhân lực đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi của xã hội công nghiệp. Các phương
tiện giao thông, thông tin liên lạc, bưu điện… phải được xây dựng theo những tiêu chuẩn chung để tạo
nên mạng lưới nối liền các thành thị, các trung tâm kinh tế trên quy mô quốc gia và quốc tế… Sự tiêu
chuẩn hóa không chỉ áp dụng cho các công nhân trong nhà máy mà được thực hiện rộng rãi đối với nhân
viên trong công sở, mọi thành viên của guồng máy kinh tế dù họ là người bán hàng, người giữ kho hay
nhà giao dịch…
-Quy tắc chuyên môn hóa là đòi hỏi bắt buộc của văn minh công nghiệp dẫn đến sự phân công lao động
cụ thể, đòi hỏi nỗ lực trách nhiệm từng người. Không chỉ nhân viên văn phòng hay quan chức cấp cao
mới cần tri thức mà ngay cả người lao động, công nhân vận hành máy móc cũng cần phải có trình độ nhất
định, được đào tạo bài bản theo ngành nghề cụ thể để đạt được hiệu quả tốt nhất khi đi vào làm việc. Mô
hình sản xuất dây chuyền cũng đòi hỏi người lao động phải có trách nhiệm cao. Chỉ cần một người, một
bộ phận làm sai nhiệm vụ hoặc bỏ bê công việc ngay lập tức toàn bộ dây chuyền sẽ gặp trục trặc thậm chí
ngừng hoạt động, ảnh hưởng tới năng suất, hiệu quả công việc.
-Đồng bộ hóa yêu cầu người lao động phải tạo nên sự phối hợp chặt chẽ với nhau trên cơ sở thi hành đúng
chức năng và nhiệm vụ của mình, bởi mỗi người chỉ là một mắt xích trong dây chuyền sản xuất thống
nhất. Mỗi phân xưởng, mỗi nhà máy cũng không thể tồn tại độc lập khách quan, mà luôn bị quy định ràng
buộc bởi quan hệ biện chứng tương tác.
-Tập trung hóa làm xuất hiện các trung tâm công nghiệp lớn: tập trung người lao động, công cụ và nguyên
liệu lao động để công tác quản lí lao động đảm bảo, nguồn vốn được tập trung
Kết luận:
biển. Từ quá trình sống định cư thành làng xóm đã phát triển thành những mối quan hệ lien làng, siêu
làng dẫn đến việc hình thành nhà nước nông nghiệp. Cây lúa trở thành cây lương thực chiến lược là tiền
đề cho sự phát triển dân số, ổn định cuộc sống, mở rộng quốc gia và văn minh nông nghiệp lúa nước đã
thúc đảy quá trình hình thành nền văn hóa nông nghiệp với những đặc điểm tiêu biểu là bám đất bám
làng, tự túc, tự cấp, hướng nội và khép kín.
Xét về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng . . . thì trên trái đất có một số vùng như Đông Nam Á,
Nam Trung Quốc, Trung Mĩ, Trung Phi, có thể đáp ứng những yêu cầu cho sự sinh trưởng của cây lúa
nước. Nhưng kết quả nghiên cứu trong nhiều năm qua ở các khu vực nêu trên đã chứng tỏ Đông Nam Á
là vùng có điều kiện tốt nhất cho cây lúa phát triển vì:
- Đông Nam Á là vùng có khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm khoảng 25-30¬0C
- Nguồn nước dồi dào
- Nhiều vùng đầm lầy ven song suối
- Vùng có nhiều giống lúa hoang sinh sống, cũng là vùngcó nền nông nghiệp ra đời sớm còn tồn tại và
phát triển cho đến tận ngày nay.
Các dấu tích của cây lúa nước còn để lại:
- W.Solheim, nhà khảo cổ học tiền sử người Mĩ, đã phát hiện ra tại các di chỉ Sam Rong Sen, Non Nok
Thà, Thẩm Phi, Hang Ma ở Thái Lan dấu tích của giống lúa Oryzasatyva và hình hoa văn cây lúa in trên
đồ gốm có niên đại từ 5000 năm trước
- Trong nền văn hóa thời đại đồ đá Hòa Bình- Bắc Sơn ở Việt Nam, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra
dấu vết vỏ trấu và một số loại bào tử phấn hoa của các loại rau đậu củ quả
- Ở hang Nia, hang Bukiftalang, hang Kendeng . . . các nhà khảo cổ học cũng đã phát hiện ra một phổ
rộng các cây họ đậu, củ, quả, bầu bí, khoai môn, khoai sọ, chuối mít, cọ, gừng, ớt . . . cùng với những vỏ
trấu trồng lúa nước
=>Điều đó chứng tỏ cây lúa được ra đời và thuần dưỡng rất sớm ở Đông Nam Á và trở thành cây lương
thực quan trọng của cư dân Long Nam Á
b Tín ngưỡng của cư dân Đông Nam Á
Cũng như nhiều quốc gia, khu vực và nhiều dân tộc khác trên thế giới, ở giai đoạn phát triển đầu tiên của
mình, khi mà nhà nước chưa ra đời, cư dân Đông Nam Á chưa có hệ thống tôn giáo hoàn chỉnh. Những
người đã dùng thuyết “vạn vật hữu linh” để chỉ cả những hình thức tín ngưỡng, thờ tự ở Đông Nam Á,
trước khi Phật giáo, KiTô giáo và Hồi giáo truyền bá tới khu vực này. Trong số các hình thức tín ngưỡng
vĩ đến nay vẫn còn.
- Mataram là một vương quốc nông nghiệp ở nam và trung Jawa, vào thế kỷ VIII. Nước này cũng đã huy
động nhân lực vật lực từ nông nghiệp và xây dựng những công trình kiến trúc đẹp ở Jawa, tiêu biểu là khu
Prambanam.1
- Đại Việt là tên cũ của nước việt nam từ thế kỷ thứ XI. Tổ tiên người Việt Nam đã định cư rất sớm ở
vùng trung du trước khi di chuyển xuống vùng châu thổ sông Hồng.Cư dân ở trung du không bám núi
rừng, đã đi xuống được đồng bằng châu thổ để phát triển nông nghiệp. Ở đây họ phải đắp đê chống lũ lụt
để lấy đất trồng lúa. Công cuộc trị thủy ở châu thổ sông Hồng để trồng Lúa đã làm theo 3 hướng. Đắp đê
tránh lụt; Tưới nước để đảm bảo được hai vụ lúa một năm; Tháo nước tránh úng.
- Angkor được xây dựng vào năm 802. Khi văn minh Khmer phát triển, thì kỷ thuật nông nghiệp và cách
quản trị sử dụng nước của họ càng trở nên phức tạp. Đỉnh cao của kỷ thuật thủy lợi Cambodia là vào
những năm 1000, vào triều Suryavarman 1, người ta đã xây dựng một hệ thống đường dẫn nước, bể chứa,
kênh mương và giếng kỳ vĩ trong thủ đô. Các bể chứa có khi xây bờ bằng gạch, và chia thành từng ô có
bờ đắp, nhưng có đường thông cho nước chảy. Tại Angkor có đến 1000 bể chứa nước được bố trí theo sơ
đồ của cả thành phố. Mỗi đền chùa cũng có bể chứa của mình. Có thể nói Angkor là một kinh thành thủy
lợi với hệ thống Baray Ấn Độ. Angkor dựa trên hai sức mạnh là nông nghiệp và tôn giáo Thần – Vua.
- Sailendra, xuất hiện từ thế kỷ VII ở Jawa. Kinh tế dựa trên nông nghiệp. Chính quyền dựa vào việc kiểm
soát và huy động được nhân lực và vật lực nông nghiệp để xây dựng và tiến hành chiến tranh.
3 Cây Lúa Nước Thúc Đẩy Hình Thành Nền Văn Hóa Nông Nghiệp. Nhìn Từ Mối Quan Hệ Với Đất Đai,
Nền Văn Hóa Nông Nghiệp Có Những Đặc Điểm Sau:
* Bám đất : yếu tố thứ nhất của một nền nông nghiệp là đất, cho nên văn hóa nông nghiệp trước tiên là
bám lấy đất.
“Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Sau cái nhà là cái làng, nơi có họ hàng, mồ mả tổ tiên”
Nền kinh tế nông nghiệp không khuyến khích đi xa. Con người luôn luôn dính chặt với đất, và vì vậy
cũng ít thích thay đổi.
* Tự túc: nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu sản xuất ra lúa gạo trước tiên vì nhu cầu của bản thân người
sản xuất. Họ không sản xuất ra hàng hóa để thúc đẩy thị trường mua bán. Sản phẩm nông nghiệp chỉ
nhằm thỏa mãn nhu cầu trong vùng đó. Vì vậy nước nông nghiệp thời xưa sản xuất ra sản phẩm phần lớn
là thỏa mãn nhu cầu tối thiểu trong nước đó. Nền kinh tế chủ yếu là tự cấp tự túc.
trẻ em cũng làm việc ngoài đồng phụ nam giới.
*Tính hợp tác tương trợ: Lúa nước thời vụ trong những tháng bận rộn nên lao động lao động phải lệ thuộc
vào họ hàng, láng giềng, vào tập đoàn. Do đó lao động tập thể tương tác và hổ trợ tập thể đoàn kết, liên
kết hoài hòa trở thành nếp sống lý tưởng của cộng đồng. Chính lao động tập thể đã nảy nở lối hát giao
duyên trong lao động Đông Nam Á.
* Triết lý sống của sự nghèo khổ: Người nông dân coi trọng cái nghèo mà trong sạch hơn là xoay sở làm
ăn buôn bán kinh doanh “đói cho sạch, rách cho thơm”. Người nông dân truyền thống chỉ quan tâm đến
việc lấy sức lao động ra để kiếm tiền, không quan tâm đến kinh doanh.
Về tâm thức : Con người Đông Nam Á coi trọng cộng đồng hơn cá nhân thích hòa hợp hơn cạnh tranh,
lấy tình nghĩa làm chính trong mối quan hệ giữa người với người. Làm Lúa nước chính yếu cũng có cuộc
sống ổn định, những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẻ với nhau thành xóm làng. Tổ
chức nông thôn theo địa bàn cư trú là bước phát triển của làng xã. Tính cồng đồng rất cao, mọi người
trong làng gắn bó mật thiết và hỗ trợ nhau cho kịp thời vụ, đối phó với moi trường tự nhiên luôn đe dọa
đến mùa vụ cũng như đối phó với môi trường xã hội (nạn trộm, cướp ) đều phải tập trung sức mạnh cả
làng mới có hiệu quả.
Văn hóa Đông Nam Á có nền văn hóa thống nhất trong đa dạng: sự đa dạng của các phong tục tập quán
còn được biểu hiện ở các lễ hội lễ tết. Tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á cũng đa dạng nhiều vẻ nhưng
trong mỗi thành tố văn hóa chúng ta vẫn tìm thấy được cái thống nhất trong cái gốc chung mang tính khu
vực, đó là sự phản ánh bản sắc văn hóa của cư dân nông nghiệp lấy cây lúa làm nền tảng văn hóa.
4 Văn Hóa Vật Chất Phục Vụ Đời Sống
* Ẩm Thực
Sản phẩm chính của cây lúa là gạo làm lương thực. Từ gạo có thể nấu cơm, chế biến thành các loại món
ăn khác như bánh đa nem, phở, bánh đa, bánh chưng, bún, rượu. Ngoài ra còn bánh Rán, bánh Tét, bánh
Giò và hàng chục loại thực phẩm khác từ gạo.
Sản phẩm phụ của cây lúa
+ Tấm: Sản xuất tinh bột, rượu cồn, Axêtôn, phấn mịn và thuốc chữa bệnh.
+ Cám : Dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp; sản xuất vitamin B1 để chữa bệnh tê phù, chế tạo sơn cao
cấp hoặc làm nguyên liệu xà phòng.
+ Trấu: sản xuất nấm men làm thức ăn gia súc, vật liệu đóng lót hàng, vật liệu độn cho phân chuồng, hoặc
làm chất đốt.
của Thiên Chúa (Allah), đối với họ Jesus chỉ là một con người, một sứ giả như mọi sứ giả khác vì
theo quan điểm của Hồi giáo thì Thiên Chúa không có con, như Thiên kinh Koran đã phán: “Allah là
Đấng Tạo Thiên Lập Địa! Làm thế nào Ngài có con khi Ngài không hề có người bạn đường? Chính
Ngài là Đấng đã sáng tạo và thông hiểu tất cả mọi vật."
• Hồi giáo không chấp nhận tội tổ tông, việc làm của Adam và Eve không phải là nguồn gốc tội lỗi
của loài người. Và không có một ai có quyền rửa tội cho một ai khác; ngoại trừ Allah.