Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mã số: 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn PHẠM THỊ DIỆU
“NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN NẤM KÝ SINH CÔN
TRÙNG CÓ TRONG ĐẤT MỘT SỐ LOẠI RỪNG TRỒNG
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN”
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Phạm Quang Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
nhiều ƣu điểm nổi trội, tuy nhiên nó cũng có nhiều nhƣợc điểm mà đặc biệt là
vấn đề ô nhiễm môi trƣờng và gây ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời. Chính vì
thế các nhà khoa học đã nghiên cứu và áp dụng các biện pháp sinh học trong đó
có việc sử dụng các chế phẩm sản xuất từ vi nấm để phòng trừ sâu bệnh.
Nấm ký sinh côn trùng là một nhóm đặc biệt trong giới nấm, mặc dù cho
đến nay, một số loài nấm ký sinh côn trùng đƣợc biết đến nhƣ là tác nhân gây
bệnh và gây thiệt hại nghiêm trọng cho kỹ nghệ tằm tơ. Tuy nhiên có rất nhiều
loại nấm ký sinh côn trùng đã đƣợc ứng dụng trong y học, sản xuất các hoạt chất
sinh học và enzym, và đặc biệt là dùng làm tác nhân kiểm soát sinh học, sản xuất
thuốc trừ sâu sinh học diệt trừ các loài sâu bọ và Côn trùng gây hại trong Nông
Lâm nghiệp và trong đời sống mà không gây ô nhiễm môi trƣờng và giữ đƣợc
cân bằng sinh thái. Ở nƣớc ta, nhiều chế phẩm thuốc trừ sâu sinh học đã đƣợc sử
dụng với hai chủng nấm đƣợc biết đến phổ biến là Beauveria và Metarhizium.
Tuy nhiên còn rất nhiều chủng nấm ký sinh khác và những hiểu biết về việc xuất
hiện tự nhiên của chúng trong đất rừng, đặc điểm ký sinh và vật chủ của chúng
còn nhiều hạn chế.
Để nắm đƣợc thành phần, tỷ lệ xuất hiện, đặc điểm ký sinh và ứng dụng
của nấm ký sinh côn trùng trong sản xuất, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
thành phần nấm ký sinh côn trùng có trong đất một số loại rừng trồng tại tỉnh
Thái Nguyên”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Lớp nấm đảm Basidiomycetes tập trung nhiều ở hai giống Septobasidium và
Uredinell. Các nấm ký sinh côn trùng thuộc lớp nấm bất toàn Deuteromycetes
phần lớn nằm trong bộ Moniliales gồm các giống: Beauveria, Metarhizium,
Paecilomycetes, Cephalosporium, Verticillium, Aspergillus, Penicillium,
Sorosporell. Những giống nấm này đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới nghiên cứu
và ứng dụng, chúng thƣờng tạo thành hệ sợi dày trên bề mặt của ký chủ; bào tử
hình thành trên bề mặt hệ sợi và không phát tán mạnh.
Nấm gây bệnh cho côn trùng và nhện nhỏ hại cây đƣợc quan tâm nghiên
cứu nhiều gồm các chi nấm bạch cƣơng Beauveria, lục cƣơng Metarhizium, nấm
bột Nomuraea. Một số loài điển hình bao gồm Beauveria bassiana (Bals) Vuill;
B. brongniartii Sacc. (B. tenella); Metarhizium anisopliae (Metchnikoff)
Sorokin ; M. flavoviride Gams; Nomuraea rileyi; Cephalosporium sp; Hirsutella
sp Hai loài nấm đƣợc nghiên cứu và sản xuất chế phẩm sử dụng nhiều nhất
hiện nay là Beauveria bassiana (Bals) Vuill và Metarhizium anisopliae
(Metchnikoff) Sorokin.[2] [9]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Nấm Beauveria bassiana sinh ra những bào tử đơn bào, không màu, hình
cầu hoặc hình trứng, đƣờng kính từ 1 – 4 μm. Sợi nấm có đƣờng nằm ngang,
đƣờng kính 3 – 5 μm, phát triển mạnh trên môi trƣờng nhân tạo hoặc trên cơ thể
côn trùng. Chúng mang nhiều giá sinh bào tử, phồng to ở phía dƣới với kích
thƣớc 3 – 5 x 3 – 6 μm. Các giá của bào tử trần thƣờng tạo thành các nhánh ở
phần ngọn hoặc trực tiếp tạo thành nhánh của giá, phần ngọn của bào tử có dạng
cuống ziczac không đều. Theo R.L Hamill (1969) nấm này tiết độc tố diệt côn
trùng có công thức nguyên là C
45
H
57
29
H
47
O
7
N
5, điểm sôi 188
0
C
và destruxin
B công thức nguyên là C
30
H
51
O
7
N
5 có điểm sôi 234
0
C
. [20] [22] [27]
Nấm tựa mốc xanh Paecilomyces Bainier đƣợc phân lập trên thân côn
trùng ngủ nghỉ trong đất, khuẩn lạc dạng thảm nhung, dạng bó sợi, màu trắng,
hồng nhạt, nâu vàng, nâu xám và lục nhạt. Năm 1981, Liang đã phân lập đƣợc
các loài Paecilomyces cateniobliquus, Paecilomyces cateniannulatus,
Paecilomyces tenuipes, Paecilomyces farinosus.
Năm 1983, Riley phát hiện một loài nấm ký sinh côn trùng họ Ngài đêm ở
Bắc Mỹ đặt tên là Botrytis rileyi và Spicaria rileyi. Ở châu Á cũng tìm ra nấm ký
sinh trên sâu họ Ngài đêm là Botrytis prasina và Spicaria prasina. Năm 1903,
Maublane cho rằng chúng không giống hai chi trên và Nomura đặt tên mới là
nấm có thể xâm nhập trực tiếp; một số loài có da dầy, nấm có thể xâm nhập qua
khớp nối giữa các đốt; các lỗ thở cũng là nơi sợi nấm có thể xâm nhập. Nấm sinh
trƣởng nhanh, bào tử có thể tồn tại lâu dài trong tự nhiên mà hoạt tính hầu nhƣ
không thay đổi.
Năm 1874, Pasteur đã đƣa ra ý kiến để trừ rệp rễ nho Phylloxera vitifoliae
(Fitch) thử sử dụng nguyên sinh động vật gây bệnh ở ong mật hoặc một loài nấm
ký sinh côn trùng nào đó. Theo Steinhaus (1956), Le Conte từ năm 1874 đã bàn
luận việc sản xuất và tung nguồn vật gây bệnh để lây lan bệnh cho côn trùng.
Đây là một đề xuất đầu tiên về sử dụng vi sinh vật gây bệnh để phòng trừ sâu hại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
có cơ sở chắc chắn và cụ thể (dẫn theo P.V.Lầm 1995). Năm 1879, Hagen đã đề
xuất dùng “men bia” phun lên côn trùng với mục đích gây bệnh cho côn trùng
hại. Cũng trong năm đó Comstock, Riley đã thử biện pháp này trên đồng ruộng
nhƣng không hiệu quả vì men bia không phải là vi sinh vật gây bệnh cho côn
trùng. Mặc dù ý định và việc thực hiện nhƣng những tác giả này là những ngƣời
rất quan tâm đến sử dụng vi sinh vật trong phòng trừ sâu hại.[2] [6]
Năm 1879, Metchnikoff tiến hành nghiên cứu lây nhiễm loại nấm
Metarhizium anisopliae lên bọ hung hại lúa mì và vòi voi hại củ cải đƣờng
Cleonus punctiventris (Germ.), các thí nghiệm này cho kết quả tốt. Metchnikoff
phát hiện các loài côn trùng khác cũng mẫn cảm với loại nấm gây bệnh này. Ông
bắt đầu sản xuất nấm M. anisopliae để trừ côn trùng hại. Dựa trên kết quả thực
nghiệm đã đạt đƣợc, Metchnikoff và Krassilstschik đã tiến hành xây dựng một
số cơ sở sản xuất chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae. Năm 1884, một số nhà
máy đã sản xuất nấm này và thu đƣợc hiệu quả phòng trừ rõ rệt.[1],[10]
Từ năm 1835, Agostino Bassi đã thử nghiệm nấm Bạch cƣơng (Beauveria
bassiana Vuill) gây bệnh cho côn trùng. Năm 1888, ở Hoa Kỳ đã nghiên cứu
dùng nấm Beauveria globulifera để trừ bọ xít lúa mì Blissus leucopterus. Nấm
cứu sử dụng nấm xanh để diệt rầy nâu hại lúa đạt hiệu lực 60% sau 10 ngày. Tại
Úc, năm 1991 Milner đã nghiên cứu nấm Metarhizium anisopliae để phòng trừ
bọ hung hại mía đạt hiệu quả 68%. Tại Nhật Bản, năm 1988 một số nhà khoa
học đã sử dụng nấm xanh để phòng trừ dòi hại rễ củ cải đạt hiệu quả trên 70%,
sau 10 ngày (Phạm Thị Thùy, 2004).[14]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Nhƣ vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng nấm ký sinh côn trùng đã có lịch
sử phát triển hàng trăm năm và có ý nghĩa lớn trong công tác phòng trừ sâu hại.
Tuy nhiên, các loài nấm ký sinh trong tự nhiên rất đa dạng nên các tài liệu cũng
nhƣ các nghiên cứu về vấn đề này còn rất phong phú.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
1.2.1. Nghiên cứu về thành phần, phân loại
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới và là một trong những Quốc gia có nguồn
tài nguyên Sinh học đƣợc xếp vào loại đa dạng và phong phú nhất trên Thế giới.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về đa dạng và sự phân bố của các loài nấm ký sinh
côn trùng chỉ mới đang ở giai đoạn “khởi động”.
Từ giữa thập niên 1970, trƣờng Đại học Lâm nghiệp đã nghiên cứu nấm
Beauveria bassiana để phòng trừ sâu róm thông Dendrolimus punctatus.
Đầu những năm 1990, Viện Bảo vệ Thực vật và Đại học Lâm nghiệp tiến
hành nghiên cứu, thu thập, tuyển chọn, nhân và bảo quản các chủng nấm ký sinh
côn trùng để sản xuất thuốc trừ sâu. Trong các loài côn trùng hại lúa, ngô, mía,
thông… đã có 31 loài đƣợc ghi nhận bị nấm Beauveria bassiana tấn công và trên
40 loài bị M. anisopliae tấn công. Các loài bị nấm B. bassiana như: Sâu khoang
Spodoptera litura; Sâu keo da láng Spodoptera exgua; Sâu xanh bông
Helicoverpa armigera; Sâu xanh thuốc lá Helicoverpa assulta; Sâu xanh bƣớm
trắng Pieris rapae; Sâu tơ Plutella xylostella; Sâu đục thân ngô Ostrinia
nubilalis; Sâu đục quả đậu Etiella sp; Sâu róm thông Dendrolimus punctatus; Bọ
flavoviride đƣợc nghiên cứu ở Viện Bảo vệ Thực vật. Chế phẩm sinh học từ các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
nấm này đƣợc sản xuất ở dạng thô (hỗn hợp môi trƣờng và bào tử nấm) của nấm
Beauveria và Metarhizium, tƣơng ứng chứa 5x10
8
và 5,8x10
8
bào tử/g. Trong
phòng thí nghiệm, hiệu lực của nấm Beauveria đối với rầy nâu N. lugens và sâu đo
xanh A. flava tƣơng ứng là 30,3 - 44,4% và 59,7 - 78,1% ở ngày thứ 7 - 10 sau xử
lý. Tỷ lệ này của nấm Metarhizium tƣơng ứng là 23,6 - 46,1% và 58,7 - 88,5%.
Trong điều kiện đồng ruộng, ở ngày thứ 7 – 10 sau khi phun chế phẩm, hiệu quả
của Beauveria đối với rầy nâu và sâu đo xanh đạt 16,3 - 69,9% và 66,4 - 86,4%.
Đối với Metarhizium, hiệu quả tƣơng ứng là 15,9 - 79,5% và 73,3 - 79,5%.[12][15]
Tác giả Phạm Thị Thùy đã tiến hành nghiên cứu khảo nghiệm nấm
Beauveria bassiana Vuill và Metarhizium anisopliae Sorokin để phòng trừ rầy
nâu hại lúa từ 1991 đến 1995.[14]
Ở Hƣng Yên, năm 1993 đã sử dụng nấm xanh để phòng trừ sâu đo chỉ sau
7 – 10 ngày hiệu quả khoảng 70 – 89%. Nghiên cứu thử nghiệm chế phẩm nấm
Metarhizium anisopliae và M. flavoviridae trừ châu chấu hại ngô, mía ở Bà Rịa
Vũng Tàu trong 2 mùa mƣa 1994, 1995 của tác giả Phạm Thị Thuỳ và các cộng
sự cho kết quả trừ châu chấu đạt 39,9 - 66,2% và 60,1 - 72,0% tƣơng ứng ở ngày
thứ 13 và 20 [12].
Tại Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu đã sử dụng Metarhizium anisopliae
để phòng trừ rầy nâu, bọ xít, sâu cắn gié bọ cánh cứng hại dừa đạt hiệu quả
cao.[13]
Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2002, nhóm nghiên cứu của
trừ sâu bệnh hơn 70%. [17]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Sau gần 8 năm nghiên cứu, năm 2008, từ chủng “nấm xanh” và “nấm
trắng”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lộc đã cho ra đời hai chế phẩm sinh học là Ometar
(nấm xanh) và Biovip (nấm trắng) ứng dụng rộng rãi trừ sâu, rầy hại lúa tại Cần
Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tiền Giang… Ruộng lúa sử dụng chế
phẩm này trừ rầy nâu có hiệu quả kinh tế cao, có lợi cho nông dân từ 1.350.000 –
1.650.000 đồng. Chế phẩm có hiệu lực bền lâu, thuốc có tác dụng lây lan mầm
bệnh từ con rầy đã chết sang con rầy non mới nở trong một vụ lúa, nên chỉ phun
một lần có thể duy trì hiệu quả trừ rầy cho suốt vụ. Ở giai đoạn lúa ngậm sữa có
thể phun chế phẩm Ometar một lần để trừ bọ xít nếu lúa bị bọ xít tấn công. Chế
phẩm Ometar còn đƣợc ứng dụng để trừ bọ cánh cứng hại dừa.
Trên các cánh đồng bị rầy nâu, phun chế phẩm Ometar một lần vào 40
ngày sau sạ, rầy nâu giảm dần và mật độ rất thấp vào cuối vụ. Chế phẩm nấm
xanh Ometar có hiệu lực rất cao đối với rầy nâu, sau khi phun từ 5 – 7 ngày, hiệu
lực diệt trừ rầy nâu đạt 73,5 – 91,5% và hiệu lực trừ bọ xít hại lúa là 73 – 88%.
Chế phẩm nấm trắng Biovip cũng có hiệu lực rất cao với rầy nâu, kết quả
diệt rầy sau 5 – 7 ngày là 65 – 87%, hiệu lực trừ bọ xít 69 – 85%. Cả hai chế
phẩm có hiệu lực bền lâu và kéo dài hàng tháng sau khi phun nên trong một vụ
lúa, nếu bị rầy nâu, bọ xít phá hại thì chỉ cần phun 1 – 2 lần là đủ do các bào tử
nấm xanh và nấm trắng có khả năng lây lan từ lứa rầy này sang lứa rầy sau. [17]
Trong lĩnh vực Lâm nghiệp, nấm gây bệnh côn trùng Beauveria bassiana
đã đƣợc sử dụng trong phòng trừ sâu róm hại thông ở Hà Bắc, Thanh Hóa. Ở
Nghệ An, chế phẩm Bôvêrin cũng đƣợc sử dụng trong phòng trừ sâu róm hại
thông.[5]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Tổ ng diệ n tí ch tự nhiên là 3.541 km². Thái Nguyên đƣợc coi là trung tâm
chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông
Bắc nói chung, là cửa ngõ giao lƣu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi
với vùng đồng bằng Bắc bộ.
1.3.1.2. Ðịa hình, địa thế
Mặc dù là một tỉnh trung du miền núi nhƣng địa hình tỉnh Thái Nguyên lại
không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác. Đây là một thuận lợi
của tỉnh cho việc canh tác nông, lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nói
chung so với các tỉnh trung du miền núi khác.
Diện tích vùng núi chiếm khoảng 90,73%; diện tích vùng trung du chiếm
9,27%. Ðịa hình chủ yếu là đồi núi thấp. Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy
theo hƣớng Bắc Nam và thấp dần xuống phía Nam. Cấu trúc vùng núi phía Bắc
chủ yếu là đá phong hóa mạnh, tạo thành khá nhiều hang động và thung lũng
nhỏ. Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo (với đỉnh cao nhất là 1.590 m), các vách núi
dựng đứng và kéo dài theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam. Ngoài ra, dãy núi Ngân
Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hƣớng Đông Bắc - Tây Nam đến Võ Nhai và
dãy núi Bắc Sơn chạy theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam. Cả ba dãy núi Tam Đảo,
Ngân Sơn và Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa Đông Bắc.
1.3.1.3. Khí hậu, thuỷ văn
Về đặc điểm khí hậu
Theo số liệu hàng năm của Trung tâm Khí tƣợng thủy văn tỉnh Thái
Nguyên, nhiệt độ trung bình hàng năm trên địa bàn tỉnh là 22,5
0
C - 23,2
0
C, biên
Võ Nhai); vùng lạnh vừa (gồm các huyện Định Hóa, Phú Lƣơng và phía nam
huyện Võ Nhai); vùng ấm (gồm các huyện Đại Từ, thành phố Thái Nguyên,
Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và thị xã Sông Công).
Lƣợng mƣa trung bình hàng năm đạt khoảng 2.000 - 2.500 mm (cao nhất
vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1). Mƣa thƣờng tập trung từ tháng 5 đến
tháng 10, lƣợng mƣa trong thời gian này đạt 1.471 mm ở Định Hóa và 1.726 mm
ở thành phố Thái Nguyên, chiếm khoảng 85 - 87% tổng lƣợng mƣa cả năm.
Theo số liệu thống kê theo dõi của Trạm khí tƣợng thủy văn tỉnh Thái Nguyên,
riêng lƣợng mƣa tháng 8 chiếm gần 30% tổng mƣa cả năm nên thƣờng gây ra lũ
lụt. Vào mùa khô, lƣợng mƣa trong tháng chỉ bằng 0,5% lƣợng mƣa cả năm.
Tần suất sƣơng muối thƣờng xảy ra vào cuối tháng 12 và tháng 1 hàng
năm. Khu vực thƣờng hay xuất hiện thời tiết sƣơng muối là Võ Nhai, Phú Bình.
Độ ẩm không khí trung bình từ 80 - 85%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Về chế độ thủy văn
Thái Nguyên có hai sông chính chảy qua là sông Công và sông Cầu. Hai
sông này là nguồn cấp nƣớc chính cho nền kinh tế, dân sinh của tỉnh.
Sông Công có lƣu vực 951 km
2
, bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định
Hoá, chạy dọc theo chân núi Tam Đảo. Dòng sông đã đƣợc ngăn lại ở Đại Từ, tạo
thành Hồ Núi Cốc có mặt nƣớc rộng khoảng 25 km
2
. Hồ này chứa đƣợc 175 triệu
m
3
- Đất dốc tụ và đất đồng bằng trên thềm phù sa cổ, phù sa sông suối chiếm
12,4% diện tích tự nhiên.
Điều này cho thấy tài nguyên đất của tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng, phần
lớn đất đai thích hợp cho phát triển nông, lâm nghiệp.
1.3.1.5. Hiện trạng đất đai và tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 354.150,15 ha, trong đó diện tích
đất cho sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 23%, diện tích đất có rừng chiếm
gần 48%, còn lại là diện tích đất phi nông nghiệp (đất ở, đất chuyên dùng, …).
Theo số liệu củ a Bộ NN &PTNT tính đến ngày 31/12/2008, diện tích có
rừng của tỉnh Thái Nguyên là 167.904 ha với độ che phủ là 45,3%, trong đó diện
tích rừng tự nhiên là 99.922 ha (chiếm gần 59,5%), diện tích rừng trồng là
67.982 ha (chiếm 40,5%) và diện tích mới trồng là 7.571 ha, trong đó rừng tự
nhiên phân bố tập trung ở các huyện: Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú
Lƣơng.
* Hệ động thực vật rừng: Theo ƣớc tính, hệ thực vật toàn tỉnh có khoảng
490 loài thuộc 344 chi, 130 họ của 8 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó,
có 207 loài cây gỗ nhỡ và lớn thuộc 60 họ (có 117 loài chiếm ƣu thế trong các
loài cây rừng), các loài dây leo thuộc 17 họ. Ngoài ra, còn có 20 loài thực vật bậc
cao thủy sinh thuộc các họ Hòa thảo, Cói, Rong tóc tiên,… Hệ động vật rừng của
tỉnh có khoảng 213 loài, trong đó lớp thú có 51 loài thuộc 19 họ, lớp chim có 140
loài thuộc 45 họ, lớp bò sát 5 loài thuộc 15 họ, lƣỡng cƣ 17 loài thuộc 5 họ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
1.3.2. Điề u kiệ n kinh tế - xã hội
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị
xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa,
Đại Từ, Phú Lƣơng. Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền
núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du.
* Y tế: Thái Nguyên đƣợc coi là một trung tâm y tế của vùng Đông Bắc
với 01 Bệnh viên Đa khoa TW, 9 Bệnh viện cấp tỉnh và 14 Trung tâm y tế cấp
huyện với hệ thống khá hiện đại và hoàn chỉnh. Hoạt động y tế đƣợc duy trì
thƣờng xuyên, liên tục, đan xen với các chƣơng trình quốc gia, từ tuyến tỉnh đến
các trạm y tế cơ sở đã đẩy lùi nhiều bệnh tật, tăng cƣờng chăm sóc sức khỏe
ngƣời dân, tạo đƣợc niềm tin trong đồng bào dân tộc.
1.3.2.3. Cơ sở hạ tầng
* Giao thông: Thái Nguyên có vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân
bay quốc tế nội bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm
Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km. Thái Nguyên còn là điểm nút giao lƣu
thông qua hệ thống đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng sông hình rẻ quạt kết nối với các
tỉnh thành, đƣờng quốc lộ 3 nối Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt
Nam - Trung Quốc; quốc lộ 1B Lạng Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang. Hệ
thống đƣờng sông Đa Phúc - Hải Phòng; đƣờng sắt Thái Nguyên - Hà Nội -
Lạng Sơn.
* Mạng lưới điện: Thái Nguyên là tỉnh có lƣới điện tƣơng đối hoàn chỉnh.
Toàn bộ các huyện trong tỉnh đều có lƣới điện quốc gia, trong đó thành phố Thái
Nguyên, thị xã Sông Công và các thị trấn, huyện có lƣới điện hoàn chỉnh, đáp
ứng tốt cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.
* Hệ thống nước sạch và tưới tiêu: Thái Nguyên có 2 nhà máy nƣớc là
Thành phố Thái Nguyên và Thị xã Sông Công (công suất của Nhà máy nƣớc
Thái Nguyên đạt 30.000 m
3
/ngày đêm; nhà máy nƣớc thị xã Sông Công với công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
suất thiết kế 30.000 m
3