Nghiên cứu xử lý khí từ lò đốt chất thải rắn nguy hại - Pdf 14

1

MỞ ĐẦU

Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề đang khá bức xúc trong
công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Cùng với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ của nước ta, lượng chất thải cũng liên tục gia tăng, tạo
sức ép rất lớn đối với công tác bảo vệ môi trường. Theo kết quả nghiên cứu năm
2004 [9], tổng lượng CTNH phát thải của Việt Nam trong năm 2003 vào khoảng
160 ngàn tấn và dự báo tăng lên khoảng 500 ngàn tấn vào năm 2010. Tuy nhiên,
theo báo cáo của 35/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2009, số lượng
CTNH phát sinh từ các địa phương này đã vào khoảng gần 700 ngàn tấn [2]. Riêng
số lượng CTNH được thu gom, vận chuyển, xử lý bởi các đơn vị hành nghề quản lý
CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường cấp phép trong năm 2009 là hơn 100 tấn
(chỉ đáp ứng được một phần nhỏ tổng lượng phát sinh) [3]. Chất thải công nghiệp
tại Việt Nam chiếm từ 13% đến 20% tổng lượng chất thải, trong số đó chất thải
nguy hại chiếm khoảng 18% chất thải công nghiệp. Lượng phát thải CTNH lớn như
vậy, nếu không được quản lý chặt chẽ và xử lý an toàn sẽ là nguy cơ gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng. Hơn nữa, sự phát sinh CTNH ở Việt Nam rất đa dạng về
nguồn cũng như chủng loại trong khi công tác phân loại tại nguồn còn kém, càng
dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý và xử lý [4].
Thực tế cho thấy nhu cầu phải xử lý các loại chất thải rất lớn, đặc biệt là đối
với chất thải nguy hại vì nó phát sinh ở rất nhiều nhà máy, hiện nay tại Việt nam đã
hình thành khá nhiều doanh nghiệp xử lý chất thải. Nhưng rất đáng tiếc là số lượng
doanh nghiệp muốn hoạt động trong lĩnh vực này nhiều nhưng sự hiểu biết khác
nhau rất nhiều, có những doanh nghiệp hiểu biết về quản lý và xử lý chất thải nguy
hại rất kém so với yêu cầu do muốn xử lý tất cả các loại chất thải và tin tưởng vào
các đơn vị tư vấn về môi trường mà các đơn vị này phần lớn là các cơ sở nghiên
cứu, đào tạo hoặc là các đơn vị môi trường sự nghiệp của các tỉnh thiếu kiến thức
thực tế không đủ để triển khai công nghiệp.
Trước sự gia tăng nhanh chóng của CTNH, công tác quản lý, xử lý hiện nay

lý khí ở các qui mô khác nhau.
Để đạt được mục đích đó, nội dung của luận án tập trung vào giải quyết các vấn
đề sau:
1) Nghiên cứu tổng quan về chất thải nguy hại, nghiên cứu các quy trình công
nghệ, thiết bị xử lý chất thải rắn nguy hại, phân tích lựa chọn thiết bị phù hợp với
điều kiến thực tế tại Việt Nam.
2) Nghiên cứu các phương pháp xử lý khí, công nghệ và thiết bị xử lý khí.
3) Phân tích khí phát sinh từ lò đố chất thải rắn nguy hại, lựa chọn công nghệ, thiết
bị xử lý khí phát sinh.
4) Xây dựng hệ thống thí nghiệm xác định các yếu tố ảnh hưởng quá trình xử lý
khí.
5) Thiết lập mô hình thống kê mô tả mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến
hiệu suất xử lý khí.
6) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lưu lượng khí và hiệu suất xử lý
7) Thiết lập mô hình vật lý mô tả sự ảnh hưởng của các yếu tố độc lập tới lượng
khí bị hấp thụ
8) Thiết lập mô hình vật lý mô tả sự ảnh hưởng của các yếu tố độc lập tới hiệu suất
của quá trình hấp thụ khí
3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
1.1.1. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải nguy hại
1.1.1.1. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại:
Do tính đa dạng của các loại hình công nghiệp, các hoạt động thương mại tiêu
dùng, các hoạt động trong cuộc sống hay các hoạt động công nghiệp mà chất thải
nguy hại có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Việc phát thải có thể do bản
chất của công nghệ, hay do trình độ dân trí dẫn đến việc thải chất thải có thể là vô
tình hay cố ý. Tuỳ theo cách nhìn nhận mà có thể phân thành các nguồn thải khác
nhau, nhìn chung có thể chia các nguồn phát sinh chất thải nguy hại thành 4 nguồn

- Chất thải dễ cháy không theo danh nghĩa (otherwise
specified)
- Chất thải chứa axit/bazơ mạnh: amoni hydroxit, axit
hydrobromic, axit clohydric, hydroxit kali, axit nitric, axit
sulfuric, axit cromic, axit photphoric
- Các chất thải hoạt tính khác: natri tím, peroxit hữu cơ, natri
perchlorate, kali perchlorate, thuốc tím, hypoclorit, kali
sunfua, natri sulfide.
- Phát thải từ xử lý bụi, bùn
- Xúc tác qua sử dụng
Xây dựng
Sơn thải cháy được: etylen diclorit, benzen, toluen, etyl
benzen, metyl isobutyl ketone, metyl etyl ketone,
chlorobenzene.
Các chất thải dễ cháy không theo danh nghĩa (otherwise
specified) Dung môi thải: metyl chloride, cacbon tetracloride,
triclorotrifluoroethane, toluen, xylen, dầu hỏa, axeton.
Chất thải axít/bazơ mạnh: amonium hydroxit, axit
hydrobromic, axit clohydric, axit flohydric, axit nitric,
phosphoric AIC, potssium hydroxit natri hydroxit, axit
sunfuric.
Sản xuất gia công
kim loại
- Dung môi thải và cặn chưng: tetrachloroethylene
trichloroethylene, methylenechloride, 1,1,1-trichloroethane,
carbontetrachloride, toluen, benzen, trichlorofluroethane,
chloroform, richlorofluoromethane, acetone, dichlorobenzene,
xylene, dầu hỏa, sprits trắng, rượu butyl.
Chất thải axít/bazơ mạnh: amonium hydroxit, axit
hydrobromic, axit clohydric, axit flohydric, axit nitric, axit

khá trôi nổi. Qua các tài liệu gần đây có thể nhận xét rằng trong các lọai hình chất
thải công nghiệp nguy hại đang phát sinh thì các chủng loại sau đây được xem là
điển hình vì có khối lượng lớn nhất: [12,13]
- Dầu thải: là lượng dầu nhớt đã qua sử dụng, được thải ra từ các cơ sở sửa
chữa, sản xuất và bảo trì các phương tiện vận chuyển, từ ngành công nghiệp sản
6

xuất và chế biến dầu khí, từ ngành sản xuất các sản phẩm kim loại ngành công
nghiệp chuyển tải điện…. Lượng dầu thải này một phần được tái sinh tại chỗ, một
phần được các đơn vị thu gom (chủ yếu là tư nhân) để tái sinh, một phần được thu
gom là nhiên liệu đốt, và vẫn còn một phần khác được đổ trực tiếp xuống cống rãnh
thoát nước…
- Chất thải chứa (nhiễm) dầu: bao gồm các loại giẻ lau dính dầu nhớt, các
thùng và bao bì dính dầu nhớt, các chất thải từ các ngành sản xuất khác như sản
xuất dày dép, da, ngành công nghiệp dầu khí, ngành sản xuất các sản phẩm kim
loại,… Có thể nói đây là lượng chất thải nguy hại có khối lượng lớn nhất (vì lí do
với tính nguyên tắc là nếu một bao bì có dính chất thải nguy hại thì có thể xem cả
khối lượng bao bì đó cũng là chất thải nguy hại). Các loại hình chất thải này nhìn
chung cũng được thu gom và tái sử dụng sau khi đã xử lý rất sơ sài (chủ yếu là rửa
và sử dụng lại) và một số ít được đem đốt, số khác thì thải thẳng ra môi trường.
- Các chất hữu cơ tạp: bao gồm các sản phẩm thải là các chất hữu cơ nguy hại
như các lọai thuốc bảo vệ thực vật (chiếm số lượng lớn nhất) và nhiều thành phần
hữu cơ phức tạp khác. Nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ ngành sản xuất hóa chất bảo
vệ thực vật, các ngành giầy da, dầu khí, kim loại… Hiện trạng lưu trữ và thải bỏ
loại hình chất thải này giống như chất thải nhiễm dầu.
- Bùn kim loại: chủ yếu phát sinh từ các ngành công nghiệp xi mạ và sản xuất
các sản phẩm kim loại, từ các công nghệ sản xuất và từ các công trình xử lý nước
thải. Nhìn chung các lọai bùn nguy hại này hầu như không được thải bỏ một cách an
toàn mà thường chuyên chở ra khỏi nhà máy và đổ thẳng xuống các bãi chôn lấp
của thành phố.

dẳng) tạo ra hay có thể tạo ra chất nguy hại, trong các điều kiện nhiệt độ và áp suất
tiêu chuẩn.
- Là khí nén
- Là chất oxy hóa
2. Tính ăn mòn (Corrosivity) : pH là thông số thông dụng dùng để đánh giá
tính ăn mòn của chất thải, tuy nhiên thông số về tính ăn mòn của chất thải còn dựa
vào tốc độ ăn mòn thép để xác định chất thải có nguy hại hay không. Nhìn chung
một chất thải được coi là chất thải nguy hại có tính ăn mòn khi mẫu đại diện thể
hiện một trong các tính chất sau:
- Là chất lỏng có pH nhỏ hơn hoặc bằng 2 hay lớn hơn hoặc bằng 12,5.
- Là chất lỏng có tốc độ ăn mòn thép lớn hơn 6,35 mm (0.25 inch) một năm ở
nhiệt độ thí nghiệm là 55
o
C (130
o
F).
3. Tính phản ứng (Reactivity) : Chất thải được coi là nguy hại và có tính phản
ứng khi mẫu đại diện chất thải này thể hiện một tính chất bất kỳ trong các tính chất
sau:
- Thường không ổn định và dễ thay đổi một cách mãnh liệt mà không gây nổ
- Phản ứng mãnh liệt với nước
- Ở dạng khi trộn với nước có khả năng nổ
- Khi trộn với nước, chất thải sinh ra khí độc, bay hơi, hoặc khói với lượng có
thể gây nguy hại cho sức khỏe con người hoặc môi trường.
- Là chất thải chứa xyanua hay sunphua ở điều kiện pH giữa 2 và 11,5 có thể
tạo ra khí độc, hơi, hoặc khói với lượng có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người
hoặc môi trường.
8

- Chất thải có thể nổ hoặc phản ứng gây nổ nếu tiếp xúc với nguồn kích nổ

C.
Những chất sau đây không thuộc nhóm III:
o Những chất lỏng có điểm chớp cháy cao hơn 23
0
C nhưng thấp hơn 61
0
C,
mà có nhiệt độ cháy cao hơn 104
0
C hay sôi trước khi đạt tới nhiệt độ cháy. Tiêu
chuẩn này không bao gồm những chất lỏng có thể gây cháy, hỗn hợp nước và nhiều
sản phẩm dầu mỏ mà những chất này không thực sự là đại diện cho chất nguy hại có
khả năng gây cháy.
o Những chất hòa tan ở dạng lỏng chứa ít hơn 24% etanol theo thể tích.
9

o Bia rượu và những sản phẩm tiêu dùng khác, khi đóng gói thì gói bên trong
có dung tích ít hơn 5 lít.
d. Nhóm IV: Các chất rắn dễ cháy, chất có khả năng tự bốc cháy và những
chất khi gặp nước sẽ sinh ra khí dễ cháy. Nhóm này được phân chia thành 3 phân
nhóm như sau:
- Phân Nhóm 4.1 bao gồm:
o Chất rắn có thể cháy;
o Những chất tự phân hủy;
o Chất ít nhạy nổ.
- Phân Nhóm 4.2: là những chất có khả năng tự bốc cháy bao gồm:
o Những chất tự bốc cháy.
o Những chất tự tỏa nhiệt.
- Phân Nhóm 4.3: Những chất khi tiếp xúc với nước sẽ tạo nên những khí dễ
cháy. Những chất khi tiếp xúc với nước sẽ giải phóng những khí dễ cháy có thể tạo

h. Nhóm VIII: Những chất ăn mòn.
Bao gồm những chất tạo phản ứng hóa học phá hủy khi tiếp xúc với các mô
sống, hoặc trong trường hợp rò rỉ sẽ phá hủy hoặc làm hư hỏng những hàng hóa
khác hoặc ngay cả phương tiện vận chuyển.
i. Nhóm IX: Những chất nguy hại khác.
Bao gồm những chất và vật liệu mà trong quá trình vận chuyển có biểu hiện
một mối nguy hiểm không được kiểm soát theo tiêu chuẩn của các chất liệu thuộc
nhóm khác.
o Theo luật định
Ở Việt Nam, để xác định chất thải có phải là chất thải nguy hại hay không, có
thể tham khảo loại chất thải như được quy định trong quy chế được ban hành theo
quyết định 155/1999/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ. [6, 47,49]
1.1.2. Công tác quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam
Việc quản lý chất thải rắn nói chung và CTRNH nói riêng ở các đô thị và
khu công nghiệp của các bộ, ngành và các địa phương hiện nay chưa đáp ứng được
những đòi hỏi của tình hình thực tế. Vì vậy, nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất
thải đang là một vấn đề cấp bách đối với hầu hết các đô thị trong cả nước. Việc thu
gom CTR công nghiệp và CTNH chủ yếu do các Công ty môi trường đô thị cấp tỉnh
thực hiện. Lượng CTNH còn lại do các công ty/doanh nghiệp tư nhân được cấp
phép đảm trách việc thu gom, vận chuyển. Trên địa bàn thành phố Hà Nội, tổng
lượng CTR công nghiệp phát sinh tại các KCN khoảng 750 tấn/ngày, nhưng mới chỉ
thu gom được khoảng 637-675 tấn/ngày. Trong đó, CTNH khoảng 97-112 tấn/ngày
(chiếm 13-15%), thu gom được khoảng 58-78,4 tấn/ngày (chiếm khoảng 60-70%).
[4, 25].
Hiện nay, phần lớn các tỉnh, thành phố chưa có các bãi chôn lấp chất thải
được xây dựng đúng quy cách đảm bảo vệ sinh môi trường, ngoại trừ một số địa
phương như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng (có nơi đã hoặc
đang tiến hành xây dựng bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh). Công tác quy hoạch và
11


đồng bộ các văn bản pháp quy về quản lý chất thải nguy hại, thiếu sự đầu tư ngân
sách của các cấp chính quyền và các bộ, ngành trong việc quản lý chất thải nguy
hại. Chưa có các biện pháp, công nghệ và các thiết bị phù hợp để xử lý các chất thải
nguy hại do sản xuất công nghiệp và các bệnh viện thải ra.[18, 21]
Một số CTNH chủ yếu ở Việt Nam cần phải có sự giám sát đặc biệt được liệt kê tại
bảng 1.2 [8, 29]
12

Bảng 1.2 Các loại CTNH chính ở Việt Nam cần được giám sát đặc biệt

Loại chất thải
Các đặc tính
Chất thải PCB
Độc hại
Bùn chứa kim loại nặng
Độc hại
Các dung môi chứa Halogen
Độc hại
Các dung môi không chứa Halogen
Độc hại
Chất thải thuốc bảo vệ thực vật
Độc hại
Chất phẩm màu và hương liệu
Độc hại
Sơn và các loại nhựa tính nhân tạo
Độc hại
Các dung môi
Độc hại
Axit và kiềm
Ăn mòn

nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học,
hóa/lý, sinh học, chôn lấp, rất khác nhau. Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý
chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy rằng, Nhật Bản là nước sử dụng
phương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thuỵ Sỹ
(33%), trong lúc đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng
phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%), Các nước sử dụng phương pháp
chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn là Phần Lan (84%),
Thái Lan (Băng Cốc -84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%), Tây Ban Nha
(80%). Dưới đây là những mô tả tổng quan về tình hình quản lý chất thải rắn nói
chung và chất thải rắn nguy hại nói riêng tại một số nước trong khu vực và thế
giới.[20, 28].
Đánh giá chung:
Chất thải nguy hại rất đa dạng về chủng loại, phức tạp về thành phần và nó có
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và môi trường. Do đó, việc quản lý chất thải
nguy hại trước tiên cần nhìn nhận ở góc độ giải quyết ô nhiễm và các nguy cơ rủi ro
hơn là tính đến yếu tố kinh tế. Bên cạnh đó, biện pháp quản lý chất thải nguy hại
thích hợp sẽ mang lại những hiệu quả kinh tế , môi trường và xã hội to lớn.Vì vậy,
việc quản lý chặt chẽ chất thải nguy hại sẽ góp phần quan trọng trong sự phát triển
bền vững của mỗi quốc gia trên thế giới.
Tỷ lệ CTNH so với lượng chất thải nói chung ở nước ta còn thấp song theo kinh
nghiệm thực tế của Việt Nam và quốc tế, tính chất nguy hại của các chất thải này
tác động lên sinh thái, môi trường và sức khỏe con người rất phức tạp, nghiêm trọng
và rất khó khắc phục.Chính vì vậy đối tượng chất thải này đang được nhiều tổ chức
tài trợ quốc tế và bảo vệ môi trường khuyến nghị Việt Nam cần đặc biệt quan tâm
trong việc kiểm soát quản lý chúng ngay từ bước đầu của quá trình công nghiệp hóa
và hiện đại hóa đất nước
Tại Việt Nam chất thải nguy hại công nghiệp là chất thải phát sinh với tốc độ
cao đặc biệt ở các nhà máy công nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất. Các chất thải
nguy hại này có thành phần đa dạng và phức tạp do tính đa dạng của các loại hình
công nghiệp. Tuy nhiên qua tổng hợp và phân tích tài liệu nhận thấy rằng chất thải

diệt khuẩn sử dụng phương pháp nhiệt ướt bao gồm 4 giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Tạo áp lực chân không sơ bộ
Giai đoạn 2 : Diệt khuẩn bằng hơi nóng ẩm
Giai đoạn 3 : Sấy khô chất thải trong chân không 5 phút
Giai đoạn 4 : Cân bằng áp suất (Đưa không khí vào nồi hấp)
Khử khuẩn bằng nhiệt khô : Phương pháp này đòi hỏi thời gian dài hơn và
nhiệt độ cao hơn, thời gian và nhiệt độ được tính từ khi nhiệt độ bắt đầu đạt yêu
cầu.
180
o
C trong 30 phút.
170
o
C trong 60 phút.
160
o
C trong 120 phút
Nói chung phương pháp khử khuẩn bằng nhiệt có nhược điểm là chất thải phải
được băm nhỏ trước khi khử trùng, những thiết bị băm hoặc nghiền thường hay bị
sự cố cơ khí. Hiệu quả khử khuẩn không ổn định, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện
vận hành. Chi phí đầu tư ban đầu cao, nhưng chi phí vận hành thấp và ít có tác động
tới môi trường. Sau khi khử khuẩn, chất thải được loại bỏ như chất thải sinh hoạt.
15

1.2.3. Phương pháp chiếu vi sóng:
Phương pháp chiếu vi sóng được sử dụng rộng rãi tại một số nước tiên tiến.
Tuy vậy, phương pháp này đòi hỏi vốn đầu tư thiết bị tương đối cao cần nhiều thiết
bị kiểm tra chất lượng sau khi chiếu.
1.2.4. Phương pháp chôn lấp:
Đây là biện pháp xử lý rác thải cổ xưa nhất, và hiện nay vẫn được dùng phổ

tiêu về về kỹ thuật, kinh tế xã hội và môi trường. Một số địa phương đã phê duyệt
dự án cụ thể cho việc xử lý chất thải rắn, tuy nhiên mới dừng lại ở triển khai thí
16

điểm. Bên cạnh đó do nguồn vốn hạn hẹp, phần lớn dự án chưa tiếp cận công nghệ
tiên tiến, sản xuất quy mô nhỏ, ô nhiễm. [5, 11]
Tính tới tháng 5/2012 có 86 doanh nhiệp được cấp phép quản lý chất thải nguy
hại nhưng mới chỉ đáp ứng được 14-15% nhu cầu xử lý, tuy nhiên rất khó đánh giá
năng lực xử lý của các doanh nghiệp. Theo đánh giá của sở Tài nguyên môi trường
TP Hồ Chí Minh, chất thải nguy hại của Việt Nam có thành phần chủ yếu là bao bì,
thùng chứa, vật liệu và vật thể mài, dầu nhớt, bùn thải vì vậy Việt Nam cũng đã
áp dụng nhiều công nghệ xử lý trong xử lý chất thải nguy hại. Các công nghệ điển
hình và phổ biến hiện nay được tóm tắt trong bảng 1.3 dưới đây.
Bảng 1.3. Một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở Việt Nam [4,11]
TT
Tên công nghệ
Số cơ sở
áp dụng
Số modul
hệ thống
Công suất phổ
biến
1
Lò đốt tĩnh hai cấp
23
28
50 - 1000 kg/h
2
Đồng xử lý trong lò nung xi măng
2

0,3 – 5 tấn/ngày
8
Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải
9
9
0,5 – 200
tấn/ngày
9
Tái chế dung môi
13
13
0,25-1,2m
3
/giờ
10
Xúc rửa thùng phi
15
15
60-1000 th/ngày
11
Xử lý nước thải
20
23
6-25m
3
/h
12
Tận thu kim loại (muối kim loại, xỉ
kẽm)
4

Đốt chất thải nguy hại cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn về khí thải công nghiệp
theo QCVN 30 :2012/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khí thải lò đốt chất
thải Công nghiệp .[31]
Để đáp ứng các tiêu chuẩn này, một loạt yêu cầu về chất thải đưa vào đốt, thiết
kế lò đốt cần phải được nghiên cứu, đặc biệt phải đảm bảo điều kiện vận hành lò đốt
(hoạt động của lò đốt) bao gồm:
Nhiệt độ tại vùng đốt sơ cấp
Nhiệt độ tại buồng đốt thứ cấp
Thời gian lưu cháy
Lượng ô xi dư
Nhiệt độ khí thải ra môi trường
Nhiệt độ bên ngoài vỏ lò
An toàn điện, điện trở nối đất với các bộ phận kim loại
Ngoài ra còn cần phải đảm bảo các yêu cầu khác có liên quan như:
- Quy định về vận hành
- Quy định về phòng ngừa và ứng phó sự cố
- Quy định về giám sát môi trường
Tùy theo từng thời kỳ phát triển của các ngành công nghiệp, nhu cầu về vốn đầu
tư, về bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi của nhân dân xung quanh mà mức độ
cụ thể và chi tiết của các qui định này cũng tăng lên.
Hiện nay, số lượng các lò đốt chất thải nguy hại đang tăng về số lượng song yêu
cầu đáp ứng về các tiêu chuẩn chưa triệt để nên cần nêu rõ một số qui định (chưa
phải là tất cả) về vận hành lò đốt cần thực hiện để các doanh nghiệp định hướng đầu
tư, các cơ quan quản lý môi trường chất thải nguy hại). Có cơ sở để kiểm tra, đánh
giá và có thể cả cấp phép cho các lò đốt chất thải nguy hại hoạt động.[15,17]
1.3.1. Các loại lò đốt chất thải nguy hại
1.3.1.1. Lò đốt thùng quay.
Lò đốt thùng quay thường được gọi là hệ thống lò đốt thùng quay vì được hình
thành từ hai buồng đốt, buồng đốt đầu là thùng quay và buồng đốt thứ cấp là buồng
đốt đứng nối tiếp với buồng đốt đầu. Tro lò được thải ra liên tục ở phía cuối của lò

- Tro được lấy ra liên tục.
- Lò đốt quay không có bộ phận chuyển động nào bên trong (trừ có cánh trộn
cố định bên trong thùng quay)
- Thời gian lưu được điều chỉnh dễ dàng bằng cách điều chỉnh số vòng quay
của thùng quay.
Nhược điểm:
- Hiện nay, kiểu lò đốt này chủ yếu là nhập khẩu, nên giá thành cao, do vậy cần
phải nghiên cứu để chế tạo trong nước.
- Do thiết bị cồng kềnh và sử dụng một số bộ phận cơ khí như gối đỡ, bánh răng
lớn nên việc lắp đặt yêu cầu độ chính xác cao.
- Dễ bị tăng nhiệt cục bộ trong lò, do vậy phải rất chú ý tới các chất thải có khả
năng bị nung chảy, bám dính vào thành lò và ngăn cản quá trình vận chuyển chất
thải bên trong lò.
Nhận xét chung:
Lò đốt thùng quay là lò đốt có khả năng đốt nhiều loại chất thải nhất (rắn, bùn,
lỏng), và nhiều thành phần độc hại nhất (nhiệt độ lò đốt có thể đạt được rất cao để
có thể phân huỷ hoàn toàn nhiều loại chất thải nguy hại) [9, 64, 65]

19 H ìn h 1.1 : L ò đố t t h ù n g q u a y t i ếp l i ệu k i ểu t r ụ c v ít
đặc tính kỹ thuật :
1 - Nă ng suất : 1000 kg/h
2 - Kíc h th- ớ c : o1400x7000
4 - Góc nghiê ng : 1%
3 - Số vòng qua y : n=0.75 - 1.5 vòng/phút
5 - Công suất động cơ : N=55KW. n=980 vòng/ phút
6 - Bộ tiếp liệu : Vít tải o600. Công suất động cơ 2.5 KW
Khí

3 - Số vòng quay : n=0.75 - 1.5 vòng/phút
4 - Góc nghiê ng : 1%
2 - Kíc h th- ớ c : o1400x7000
1 - Nă ng suất : 1000 kg/ h
đặc t ính kỹ thuật :
H ìn h 1.2 : L ò đố t t h ù n g q u a y t i ếp l i ệu k i ểu h ìn h s a o
21

1.3.1.2. Lò đốt nhiều tầng ghi cố định.
Lò đốt ghi cố định nhiều tầng là lò đốt kiểu đứng, có nhiều tầng, đường kính lò
trong khoảng 2 - 4 m, chiều cao trong khoảng 4 - 23 m, số tầng trong khoảng 5 - 12
tầng. Vùng trên của lò là vùng sấy có nhiệt độ khí từ 430 - 650
o
C. Vùng trung tâm
nhiệt độ từ 760 - 980
o
C. Vùng dưới là vùng thải tro.
Hình 1.3: Cấu tạo của lò đốt nhiều tầng ghi cố định
Phạm vi sử dụng:
Dùng để đốt các chất thải có nhiệt lượng thấp như bùn, những chất thải khác có
hàm lượng nước cao.
Ưu điểm và nhược điểm của loại lò đốt nhiều tầng ghi cố định :
Ưu điểm: Lò đốt này có khả năng nhất để đốt chất thải có độ ẩm cao và có
nhiều tro ví dụ như bùn thải của các trạm xử lý nước.
Nhược điểm:
Nhìn chung không nên sử dụng để đốt chất thải rắn.
Kết cấu cơ khí phức tạp, kích thước nguyên liệu vào yêu cầu phải nhỏ
Khó đạt được nhiệt độ lò quá 1000
o
C.

Quạ t cấp khí
Bộ truyền động
cá nh gạ t
Khí nóng tuần hoàn
Vù ng đốt
Vù ng khô
Vù ng nguội
Van khí
Khí nguội thải
Cấp liệu
Khí thả i ra
Cấp liệu đốt
Quạ t cấp khí
Bộ truyền động
cá nh gạ t
Khí nóng tuần hoàn
Vù ng đốt
Vù ng khô
Vù ng nguội
Van khí
H ìNH 1.3 : L ò Đ ố T NH I ềU T ầNG GH I Cố Đ ịNH
23

4
3
1
2

Ưu điểm: Hiệu quả đốt cao do rác thải luôn ở trạng thái động và tiếp xúc trực
tiếp với tác nhân mang nhiệt.
Như vậy mỗi loại công nghệ, thiết bị đốt để có những điểm mạnh và hạn chế
của mình, tuy nhiên với mỗi loại lò đốt đều có các yêu cầu về kỹ thuật phù hợp
(chất thải nguy hại), để đảm bảo quá trình đốt triệt để bao gồm những tiêu chuẩn
sau, đó là:
Tiêu chuẩn lò đốt.
Tiêu chuẩn và kiểm soát khí thải.
Yêu cầu về chế độ làm việc.
Yêu cầu về giấy phép.
Yêu cầu về phân tích.
Yêu cầu về quan trắc
Yêu cầu về quản lý tro đóng rắn (trích từ tài liệu Hướng dẫn phương pháp tính
chi phí xử lý chất thải rắn nguy hại) .
Chủng loại lò đốt chất thải nguy hại đang hoạt động ở nước ta khá đa dạng,
nhưng đều có nguyên lý cấu tạo và công nghệ đốt khá giống nhau, đó là lò đốt gồm
hai buồng đốt: buồng đốt sơ cấp dùng để đốt chất thải rắn và buồng đốt thứ cấp
dùng để đốt phân huỷ khí.[9, 76, 77]
25

5
1
3
4
Tro
Không khí
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status