Câu 1: Hãy định nghĩa và phân biệt các khái niệm sau: Triết lý, triết lý kinh doanh,
triết lý doanh nghiệp.
Khái niệm
Triết lý: Triết lý là những tư tưởng có tính triết học ( tức là sự phản ánh đã đạt đến
trình độ sâu sắc và khái quát cao ) được con người rút ra từ cuộc sống của mình và chỉ
dẫn, định hướng cho hành động của con người.
Triết lý kinh doanh: Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực
tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hóa của các chủ
thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh.
Triết lý doanh nghiệp: Triết lý doanh nghiệp là lý tưởng, là phương châm hành
động, là hệ giá trị và mục tiêu chung của doanhn ghiệp chỉ dẫn cho hoạt động nhằm làm
cho doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.
Phân biệt:
Giống nhau:
-
Đều được hình thành qua sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, được mọi người thừa
nhận
-
Đều định hướng cho hoạt động của con người, có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng, tầm
khái quát cao tới các chủ thể.
Khác nhau
Triết lý:
+ Phạm vi: ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống con người như: triết lý
sống, triết lý marketing…
+ Triết lý không phải chỉ là sản phẩm của các nhà triết học chuyên
vàchuyển dịch các mục đích này thành các mục tiêu cụ thể. Nội dung của triết lý
kinh doanh là điều kiện hết sức cần thiết thiết lập các mục tiêu và soạn thảo các
chiến lược một cách hiệu quả. Một kế hoạch mang tínhchiến lược bắt đầu với
việc xác định một triết lý kinh doanh một cách rõ ràng. Triếtlý kinh doanh được
xem là bước chuẩn bị đầu tiên trong quản lý của doanh nghiệp mà cụ thể là
quản lý chiến lược.Triết lý kinh doanh là cơ sở hoặc tiêu chuẩn để phân phối
nguồn lực của tổ chức. . Sứ mệnh hay mục đích của doanh nghiệp là một môi
trường bên trong có ảnhhưởng đến các bộ phận chuyên môn như sản xuất,
kinh doanh, quản trị nhân sự.
Một bộ phận chuyên môn phải dựa vào mục đích hay sứ mệnh của công ty để
viếtra mục tiêu của bộ phận mình.Đối với tầng lớp cán bộ quản trị, triết lý kinh
doanh là một văn bản pháp lývà cơ sở văn hoá để họ có thể đưa ra các quyết
định quản lý quan trọng, có tínhchiến lược. Theo Peters & Waterman, nhờ có sự
định hướng của triết lý kinh doanhmà những nhà quản lý có được “chìa khoá
vàng” mở cánh cửa thành công.
+ Triết lý kinh doanh là một công cụ để giáo dục, phát triển nguồn nhân
lựcvà tạo ra một phong cách làm việc đặc thù của doanh nghiệp
Triết lý kinh doanh cung cấp các giá trị, chuẩn mực hành vi nhằm tạo nênmột
phong cách làm việc , sinh hoạt chung của doanh nghiệp, đậm đà văn hoá củatổ
chức đó. Với việc vạch ra lý tuởng và mục tiêu kinh doanh thể hiện ở phần
sứ mệnh,triết lý kinh doanh giáo dục cho công nhân viên chức đầy đủ về lý
tưởng, về côngviệc trong một môi trường văn hoá tốt, nhân viên sẽ tự giác phấn
đấu vươn lên.Do triết ký kinh doanh đề ra một hệ giá trị đạo đức chuẩn làm căn
cứ đánhgiá mọi hành vi của các cá nhân trong tổ chức nên nó có vai trò trong
việc điềuchỉnh hành vi của nhân viên trong việc xác định bổn phận, nghĩa vụ của
mỗi nhânviên đối với tương lai của sự phát triển của tổ chức. Như vậy, vai trò
của triết lý kinh doanh với doanh nghiệp có thể so sánh với bất kì nguồn lực nào
khác trong tổ chức.
Nhận xét về tầm quan trọng của triết lý kinh doanh Uwayaki :
Bí mật của các doanh nghiệp trong cuốn “chưa hề thất bại” viết :
nhanh làm sức mạnh cạnh tranh , không ngừng phấn đấu tạo ra những sản phẩm và
dịch vụ chất lượng cao với giá hợp lý để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng của
khách hàng"
Phương thức hành động :
+ Mỗi doanh nghiệp có tính đặc thù cao, phụ thuộc vào thị trường, triết học và các
tư tưởng kinh doanh và các tư tương triết học về hoạt động kinh doanh, công tác
quản trị doanh nghiệp của các nhà lãnh đạo. Trong nội dung có điểm chung là hệ
thống các giá trị và biện pháp quản lý của doanh nghiệp:
+ Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp là những niềm tin căn bản thường không
được nói ra của những người làm việc trong doanh nghiệp ,giá trị này bao gồm
- Những nguyên tắc của doanh nghiệp
- Lòng trung thành và cam kết
- Hướng dẫn hững hành vi ứng xử mong đợi ý nghĩa to lớn của sứ mệnh giúp tạo
ra một môi trường làm việc trong đó có những mục đích chung.
Mỗi công ty thành đạt đều có các giá trị văn hóa của nó. Hệ thống giá trị là cơ sở
để quy định xác lập nên các tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh của công ty.
+ Biện pháp và phong cách quản lý:
Tổ chức ,quản lý doanh nghiệp là nhiệm vụ trung tâm và có vai trò quyết định đối
với việc thực hiện sư mệnh và các mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp. Phong cách và
biện pháp quản lý của mỗi công ty thành đạt đều có điểm đặc thù, sự khác biệt lớn
so với các công ty khác. Nguyên nhân của sự khác biệt này xuất phát từ nhiều yếu tố
như thị trường, môi trường kinh doanh, văn hóa dân tộc và đặc biệt la tư tưởng triết
học về quản lý người lãnh đạo. Triết lý về quản lý doanh nghiệp là cơ sở để lựa chọn,
đề xuất các biện pháp quản lý, qua đó nó củng cố một phong cách quản lý kinh
doanh đặc thù của công ty.
Nguyên tắc tạo một phong cách ứng xử giao tiếp và hoạt đọng kinh doanh đặc
thù của doanh nghiệp :
-
lợi ích chung của ngưởi tiêu dùng và xã hội.
Sự cân đối hài hòa giữa các lợi ích này chính là sự đảm bảo cho sự phát triển
lâu dài và bền vững cho Sapharco.
Triết lý kinh doanh của Sapharco là luôn làm hài hòa
lợi ích người tiêu dùng, lợi ích xã hội, lợi ích đối tác
và lợi ích công ty với nhau. Điều này được cách điệu
qua hình ảnh chợ Bến Thành trên logo của
Sapharco.
Câu 4: Vai trò của triết lý doanh nghiệp trong sự phát triển của doanh nghiệp đó.
•
Vai trò của triết lý doanh nghiệp
Triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp, là cơ sở để xây dựng chiến lược và đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Triết lý doanh nghiệp tạo ra sức mạnh to lớn góp
vào sự thành công của doanh nghiệp.
•
Triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp: Xác định sứ mệnh, các giá trị cốt lõi
và phương thức hoạt động, quản lý của doanh nghiệp, nên triết lý kinh doanh trở thành yếu tố quan
trọng nhất của văn hóa doanh nghiệp. Sứ mệnh và giá trị cốt lõi có ý nghĩa định hướng sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp, hướng mọi thành viên trong doanh nghiệp tới một mục đích chung.
Trong khi các yếu tố khác của văn hóa doanh nghiệp có thể thay đổi, thì sứ mệnh và giá trị cốt lõi
doanh nghiệp thường không thay đổi. Vì vậy, triết lý doanh nghiệp trở thành nền tảng của văn hóa
doanh nghiệp.
•
Triết lý doanh nghiệp là cơ sở xây dựng chiến lược phát triển của doanh nghiệp: Chỉ khi
có một sứ mệnh rõ ràng, doanh nghiệp mới xác định được các mục đích, mục tiêu cụ thể hướng
tới. Sứ mệnh, các giá trị cốt lõi chính là yếu tố chi phối tới toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh,
quản lý của doanh nghiệp. Các bộ phận chuyên môn phải dựa vào sứ mệnh chung của toàn
doanh nghiệp để đưa ra mục tiêu riêng cho mình. Các kế hoạch chiến lược mang tính lâu dài phải
được bắt nguồn từ sứ mệnh chung của doanh nghiệp. Triết lý doanh nghiệp chính là công cụ để
hiệu ĐS Hà Nội (H@sitec) Với
nhiệm vụ chính của là cung cấp
sản phẩm, dịch vụ công ích quản
lý, bảo trì KCHTĐS về TTTH thuộc
phạm vi 11 tỉnh thành phố phía bắc
của Việt Nam; Xây lắp các công
trình, dự án về: viễn thông, tín
hiệu, điều khiển trong giao thông;
công trình công nghiệp, công trình
dân dụng; Tư vấn lập dự án đầu tư
xây dựng chuyên ngành viễn
thông, tín hiệu điện
Địa chỉ : Số 11A, phố Nguyễn
Khuyến, phường Văn Miếu,
quận Đống Đa, Tp Hà Nội;
Logo công ty
Triết lý kinh doanh Hasitec
Kinh doanh cũng là một nghệ thuật thậm chí còn mang tính nhân văn, chẳng kém
gì các môn nghệ thuật khác như hội họa hay âm nhạc. Triết lý kinh doanh của
chúng tôi là: "An tòan trong quản lý- Hiệu quả trong điều hành" và "Vị trí hàng
đầu là một sự bắt đầu mới"
1.An toàn
- An toàn là tiêu chí hàng đầu trong quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh;
- An toàn chạy tàu, an toàn giao thông là quan trọng hơn cả;
- Nhưng tuyệt đối không vì "an toàn" mà "không dám mạo hiểm" làm theo cách nghĩ, đi
theo lối đi của riêng mình.
2. Hiệu quả
- Chặt chẽ, công khai, công bằng trong điều
ngoài con đường khoa cử. Chỉ có ở khoa cử mới làm nên danh giá con người, nâng
bậc vị trí con người trong xã hội, mặc dù ai cũng biết rằng “phi thương bất phú”. Nhưng
việc làm giàu do buôn bán lại không được xem trọng. Những người Nho học coi khinh
việc làm giàu bằng con đường buôn bán, bởi vì họ quan niệm, làm giàu bằng nghề
buôn là lừa gạt, là bất nhân, “vi phú bất nhân, vi nhân bất phú”. Sau này nghề buôn
được đánh giá cao hơn, được xã hội xem trọng hơn. Chuyện buôn bán và kinh nghiệm
đã được người xưa đúc kết trong rất nhiều tục ngữ, ca dao. Trong đó câu châm ngôn
"Một lần bất tín, vạn lần bất tin" - như một kim chỉ nam không chỉ trong cuộc sống
mà còn trong công việc kinh doanh.
Tín là sự tin cậy lẫn nhau, là không thất hứa, là phải thực hiện đúng đúng cam kết.
Chữ tín trước hết phải giữ chính mình. Người không giữ được Chữ tín với bản thân là
kẻ bạc nhược, thiếu bản lĩnh, không bao giờ có nghiệp lớn. Nó không dám chịu trách
nhiệm với mình thì cũng không hy vọng gì họ dám chịu trách nhiệm với người khác.
Cho nên chữ tín thường đi đến với danh dự, mà danh dự là sự bảo đảm cho sự nghiệp
nếu đấy quả là sự nghiệp nếu đấy quả là sự nghiệp theo đúng nghĩa của nó. Vậy nên
tuy không được đưa lên đầu trong Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) những người
xưa quan niệm thiếu chữ Tín chưa thể là kẻ quân tử ở đời.
Giờ đây đạo quân tử đã bị lãng quên, bị loại khỏi những chuẩn mực của đạo lý và lối
sống. Nghĩa là chữ Tín cũng thay đổi, có thời ít người còn nhớ đến. Cho đến khi giông
bão đi qua, người ta mới hiểu giông bão chỉ là nhất thời, những giá trị thật được đúc kết
bằng xương máu cả nghìn đời vẫn bền vững qua những biến cải, như biển vẫn mãi là
biển sau bão tố. Chữ Tín trở về thường trực trong tâm thức xã hội. Ai cũng phải giữ
chữ tín nhưng giữ chữ tín như thế nào, mỏi người mỗi khác. Người có quyền chức phải
giữ Tín với dân, trong đó có cấp dưới của mình. Biết bao triều đại suy tàn, mục nát bởi
đã bội tín với lời thể thuở dựng cờ khởi nghĩa, mang gươm mở nước hoặc trong các
cuộc hưng phế cung đình. Nguyễn Trãi nói: làm lật thuyền mới biết sức dân là nước.
Đẩy thuyền qua sóng cả hay lật thuyền đều là dân. Những người bình thường, nói rộng
hơn là mọi thành viên trong xã hội, cũng phải trọng chữ tín. Làm sao có thể có một
người lãnh đạo tốt, một tổ chức xã hội lành mạnh nếu các thành viên không nghiêm túc
chấp hành mệnh lệnh, không tôn trọng lời hứa, lừa gạt cấp trên và lừa gạt nhau. Trên
Tất cả những gì đã nói mới chỉ là lý thuyết còn thực tế thì sao?
Kinh tế thị trường gắn liền với lợi nhuận. Để tích lũy lợi nhuận có nhiều cách, chẳng
hạn thực hiện tốt nhiều đơn hàng để dần tích tiểu thành đại. Cách làm này phải có thời
gian và phải kiên trì. Có doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu thị trường và tìm ra nhiều
"mặt hàng độc" tạo ngay ra lợi nhuận cao
Và trong thực tế, có doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận cao trong thời gian ngắn thông qua
việc giảm giá thành sản phẩm một cách không chính đáng. Việc giảm chi phí nhân
công, chí phí quản lý, tiết kiệm trong sản xuất nhằm giảm giá thành sản phẩm là khó
nên nhiều doanh nghiệp đã chọn mua nguyên, phụ liệu với giá thấp. Vì nguyên, phụ liệu
chiếm tỷ trọng đến 70% giá trị sản phẩm nên việc làm này đã tạo chênh lệch đáng kể
giữa giá bán và giá thành sản phẩm.
Có doanh nghiệp lại tìm cách giảm định mức nguyên, phụ liệu để hạ giá thành sản
phẩm. Chẳng hạn trong công nghiệp ôtô chỉ cần giảm một vài “zem” độ đầy tôn làm vỏ
xe thì đã giảm đáng kể giá thành mà người tiêu dùng lại không hề có cảm giác. Có
doanh nghiệp đã giảm tiêu chuẩn của thép làm khung hoặc bỏ đi một vài thiết bị an toàn
(với lý giải ở Việt Nam chưa cần thiết)
Như vậy đã tạo ra lợi nhuận thật cho doanh nghiệp nhưng tạo ra chất lượng xấu cho
hàng hóa, ảnh hưởng tới người tiêu dùng.
Là lãnh đạo của một công ty công nghệ sáng
tạo nhất thế giới, để thuyết phục được toàn bộ
các nhân viên và các cổ đông là các sáng tạo
đó sẽ mang lại thành công, Steve đã tạo ra một
lòng tin tưởng tuyệt đối của tất cả các bộ phận
vào chiến lược của Apple và đã tạo ra những
sản phẩm sáng tạo đáng mong đợi nhất, đưa
Apple trở thành công ty công nghệ có vốn hóa
lớn nhất thế giới.
Một ví dụ gần gũi hơn thường được
nhắc đến là bà Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc
của Vinamilk, thương hiệu đầu tiên của Việt
Ngày 27.6 đánh dấu sự kiện trọng đại trong giới công nghệ thông tin, khi
“ông vua” phần mềm thế giới Bill Gates “dứt áo” rời tập đoàn Microsoft, để dành
toàn bộ thời gian và tâm nguyện cho quỹ từ thiện mang tên vợ chồng ông
“Bill&Melinda Gates”.
Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào
năm 1997 rồi chính thức khai trương vào năm 2000. Vợ chồng Gates đã cam kết sẽ
trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (hiện ước tính khoảng 46 tỉ USD). Vắc-xin
và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em là mục tiêu chính của quỹ. Đến nay BMGF đã chi tổng
cộng 28,8 tỉ USD. Hồi đầu năm, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn
cầu (Gavi) 750 triệu USD – một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử. Những
lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho
43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi… Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho
các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương
trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia.
Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của
mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo
lắng: “Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sản, chúng tôi đều nói đến trách
nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của
chúng. Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy mà phải đợi đến những
dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền”.
Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết
số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tế, từ
thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho
không đến 38% tổng tài sản của mình.
Có một câu chuyện mà bà Melinda Gates
kể về chồng mình mỗi khi được ai đó hỏi về triết
lý của Bill Gates trong sự nghiệp làm từ thiện.
Đó là việc đã xảy ra từ năm 1997, trước khi hai
vợ chồng cùng nhau thành lập quỹ từ thiện Bill &
Melinda Gates. Hồi đó, suốt hơn một tháng Bill
không thể nhịn cười khi thấy Bill “lăng xăng” quanh vợ như thể một gã hộ lý mới tập sự.
“Tôi biết, tôi không giỏi trong những việc này và sẽ chẳng bao giờ giỏi nhưng tôi cũng
biết đó là việc quan trọng và thế giới của chúng ta sẽ bớt đi nhiều nỗi đau khổ”, Bill tâm
sự.
Triết lý của Bill Gates đã rất rõ ràng và logic
giống như những sản phẩm phần mềm mà công
ty Microsoft của ông đã sáng tạo ra: Làm từ thiện
là tạo ra tác động lớn nhất đến lĩnh vực y tế và
giáo dục giúp mọi người vượt qua sự thiệt thòi.
Trong những năm qua, Bill đã đóng góp một phần
không nhỏ vào các chương trình tiêm phòng
vắcxin chống sốt rét cho trẻ em châu Phi, xây
dựng trường học, xây dựng thư viện, tham gia
các chuơng trình chống đói nghèo toàn cầu…
Không chỉ tự mình thực thi các chương trình từ thiện, vợ chồng nhà tỷ phú này còn
đứng ra kêu gọi các quốc gia cùng với mình thành lập chương trình liên ứng toàn cầu
cho vắcxin và chủng ngừa (GAVI). Năm 2000, BMG đã đóng góp 750 triệu USD và hiện
nay chương trình này đã có ngân sách hơn 8 tỷ USD, được ủng hộ từ gần 10 quốc gia.
“Nhưng một trong những thách thức lớn nhất của chúng tôi là phải đạt được hiệu quả
cao nhất cho số tiền mình đã bỏ ra”, Heidi Sinclair, người phát ngôn của Quỹ BMG nói
và đó cũng chính là lý do cả Bill Gates và vợ luôn tất bật với những chuyến đi khắp thế
giới của mình. Họ làm từ thiện nhưng không ngồi ở nhà để điều khiển như những vị tỷ
phú khác mà thường xuyên đích thân đi đến những điểm đói nghèo, lạc hậu và khốn
khó.