Dị tật thành bụng ở trẻ nhỏ:
Cách phát hiện và xử trí
Các bất thường ở thành bụng trẻ sơ sinh là những dị tật
bẩm sinh rất nguy hiểm cần đưa đến những trung tâm phẫu
thuật nhi để được xử trí sớm. Các bác sĩ nhi cho rằng việc
chẩn đoán trước sinh và khám thai thường xuyên là điều cần
thiết để có thể chuẩn bị những biện pháp xử trí tốt nhất cho
những trường hợp này.
Thoát vị trong dây rốn và khe hở thành bụng
Thoát vị trong dây rốn là dị tật bẩm sinh của thành bụng. Tạng
trong ổ bụng chui ra ngoài qua vòng rốn không khép kín và
được che phủ bởi màng ối trong mờ, vô mạch. Hầu hết thoát vị
trong dây rốn có túi thoát vị với kích thước khác nhau. Màu túi
lúc đầu trong, nhìn qua thành túi thấy được các tạng như gan
ruột bên trong, sau một vài ngày thành túi mờ đục dần trở thành
màu sữa. Cổ túi ở vị trí khuyết thành bụng, có thể rộng hoặc hẹp
với kích thước khác nhau. Dây rốn thường lồng dính vào trong
thành túi ở vị trí giữa hoặc ở dưới túi.
Biến chứng: Vỡ túi có thể xảy ra ở thời kỳ trước, trong và sau
đẻ. Nếu túi thoát vị bị vỡ trong thời kỳ bào thai thì ruột non sẽ ra
khỏi ổ bụng và ngâm trong nước ối, sau đẻ dễ nhầm lẫn với khe
hở thành bụng. Trẻ có thể bị nhiễm khuẩn gây viêm phúc mạc.
Cổ túi hẹp sẽ gây nghẹt ruột, dẫn đến thủng ruột, tình trạng này
xảy ra trong thời kỳ bào thai sẽ gây thủng ruột gây viêm phúc
mạc phân su và có thể có teo ruột thứ phát.
Các dị tật phối hợp thường khá cao, khoảng 50% như dị dạng về
nhiễm sắc thể, bàng quang lộ ra ngoài, thoát vị hoặc sổ cơ
hoành, dị tật về tim mạch
Nếu trẻ bị dị tật này cần phải chăm sóc cẩn thận, tránh bị vỡ túi
thoát vị. Phẫu thuật là biện pháp duy nhất xử trí dị tật và phải
tiến hành mổ nhiều lần sao cho đảm bảo đưa hết tạng vào bụng
xạ co thắt là có cơ thắt ngoài.
Đối với dị tật có lỗ rò hậu môn - trực tràng, phải đợi từ 18 -
24giờ sau đẻ mới có thể đánh giá chính xác được bằng thăm dò
hoặc xoa ép nhẹ vùng tầng sinh môn hoặc niệu đạo. Có sự khác
nhau giữa nam và nữ.
Ở trẻ trai: Lỗ rò có thể ra ở tầng sinh môn hoặc đường tiết niệu
thường là ở niệu đạo. Lỗ rò ở đường đan của tầng sinh môn hoặc
bìu. Trẻ đái ra phân su.
Ở trẻ gái: Phải xem có mấy lỗ ở tầng sinh môn.
Nếu có một lỗ duy nhất tại vị trí giữa hai môi lớn là dị tật thể
đặc biệt: còn ổ nhớp. Ở thể bệnh này, niệu đạo, âm đạo, trực
tràng đổ chung vào một ống gọi là ổ nhớp. Một thể bệnh hiếm
gặp hơn là âm đạo bị teo cao, chỉ có niệu đạo và trực tràng đổ
chung vào một ống là hoặc trực tràng teo cao không thông với
xoang niệu dục. Khám có dấu hiệu tắc ruột, có thể bí đái, tử
cung căng to ứ dịch.
Trường hợp có hai lỗ niệu đạo và âm đạo, không có lỗ hậu môn,
nếu phân su ra qua lỗ âm đạo là rò trực tràng - âm đạo (dị tật thể
cao hoặc trung gian).
Có 3 lỗ: niệu đạo, âm đạo và một lỗ ở âm hộ hoặc tiền đình
hoặc tầng sinh môn. Có thể xảy ra lỗ rò ở tiền đình (vị trí giao
nhau của hai môi bé, ngoài màng trinh); lỗ rò âm hộ hay lỗ rò ở
tầng sinh môn.
Biện pháp xử trí: Dị tật hậu môn - trực tràng hiện nay được xử
trí khá hoàn thiện tại các trung tâm ngoại nhi, tuỳ theo mức độ
dị tật và tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân mà tiến hành mổ một
lần hoặc nhiều lần. Hầu hết các trường hợp đều cho kết quả tốt.
Phòng bệnh: Ngày nay với kỹ thuật siêu âm và chẩn đoán trước
sinh, nhiều dị tật bẩm sinh được phát hiện ngay trong thời kỳ
bào thai, giúp cho gia đình bệnh nhân chủ động hơn trong việc