BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TRẦN THỊ THẮM BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM
VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP
TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Bùi Minh Toán
HÀ NỘI, 2011
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn ñề tài
1.1. Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn ñề thuộc về từ vựng học, nghiên
cứu những vấn ñề về ngữ âm và ngữ pháp có vai trò vô cùng to lớn trong việc
nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay. Nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp góp phần
hoàn thiện việc nghiên cứu về hệ thống ngôn ngữ một cách toàn diện, tạo ra diện
mạo nhiều chiều với nhiều sắc vẻ của các ñơn vị ngôn ngữ. Ở những phương diện
khác nhau, các ñơn vị ngôn ngữ lại hiện lên với những trạng thái sinh ñộng, mới mẻ
và chứa ñựng nhiều nội dung thú vị.
Trong quá trình nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp, biện pháp tu từ là một
vấn ñề nhận ñược nhiều sự quan tâm. Thông qua việc nghiên cứu các biện pháp tu
2.1. Về biện pháp tu từ
Lí thuyết về biện pháp tu từ ñã ñược nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới
cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
Aristote là một trong các nhà khởi xướng, có công trong việc tạo nên các lời
văn hoa mĩ, các thuật hùng biện, hình thành môn “Mĩ từ pháp”. Tu từ học ñã trở
thành một bộ môn bắt buộc trong Tam khoa của nhà trường Trung cổ và nhà trường
cận ñại ở Châu Âu. Vấn ñề tu từ học ñược tiếp tục phát triển, nâng cao thành hệ
thống lí luận ở các tác giả như: Ciceron, Quitilien, Horace, Virgile…
Từ thế kỉ XIX, tu từ học – phong cách học ñã trở thành một ngành riêng của
ngôn ngữ học.
Ở nước ta, tên gọi “Tu từ học” xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỉ XX,
những công trình nghiên cứu về tu từ học thời kì này có thể kể ñến như: Vũ trung
tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Việt – Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Quốc văn cụ
thể của Bùi Kỉ, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Thơ ca Việt Nam
– Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức
Vào khoảng thập niên 60 của thế kỉ XX, tên gọi Phong cách học xuất hiện,
Phong cách học chính là Khoa tu từ học ñược hiện ñại hoá có cơ sở lí thuyết nhằm
vào ñối tượng cơ bản là các phong cách ngôn ngữ. [37, 238] 3
Cùng với sự ra ñời của lí luận về biện pháp tu từ là các công trình nghiên cứu
của các tác giả: Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, Hữu Đạt, Lê Anh
Hiền Có thể kể ñến một số công trình có vai trò nền tảng trong việc trình bày về
vấn ñề biện pháp tu từ. Cụ thể:
- Tác giả Lê Anh Hiền với cuốn Khái luận tu từ học, Đại học Sư phạm Hà
Nội, 1961.
- Tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Tu từ học tiếng
Việt hiện ñại (sơ thảo), Đại học Sư phạm Việt Bắc, 1975
- Tác giả Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và ñặc ñiểm tu từ tiếng
Có thể kể ra một số công trình, bài viết như sau:
Trong bài viết Phương pháp nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh [54, 207],
Nguyễn Đăng Mạnh chỉ rõ: “Văn chính luận chủ yếu ñược viết theo tư duy logic.
Sức thuyết phục của nó không phải ở chỗ dựng nên những hình tượng, những bức
tranh sinh ñộng… mà ở chỗ ñưa ra những lí lẽ ñanh thép, những lập luận chặt chẽ,
những luận cứ hùng hồn… Trên cơ sở những ñặc trưng cơ bản của thể loại văn
chính luận như thế, nhiều loại văn chính luận ra ñời với những sắc thái khác nhau
dưới ngòi bút của Hồ Chí Minh, như tuyên ngôn, lời kêu gọi, báo cáo chính trị, thư
từ gửi các ngành các giới, văn bút chiến, văn tiểu phẩm và các thể loại văn báo chí
khác…” [54, 217].
Phong Lê với bài viết Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh con người và thơ
văn [54, 244] nhận xét: thơ văn Hồ Chí Minh có sự tổng hoà, kết hợp của nhiều âm
ñiệu – sự kết hợp ấy làm nên phong cách Hồ Chí Minh.
Trong Lời giới thiệu (cho cuốn Văn Hồ Chủ Tịch, Nhà xuất bản Giáo dục,
1971), Huỳnh Lý nêu lên 4 ñặc ñiểm cơ bản về phong cách văn xuôi Hồ Chí Minh:
tư tưởng lớn, hình thức diễn ñạt ngắn gọn, trong sáng, sinh ñộng, ung dung pha chút
hóm hỉnh, “viết sâu ngọt, viết có tình”.
Nguyễn Thuý Khanh với bài viết Một số ñặc ñiểm trong ngôn ngữ báo chí
chính luận của Hồ Chủ Tịch (Học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Viện Ngôn ngữ học, NXB Khoa học Hà Nội, 1980) cho rằng “Người ñã sử
dụng lối diễn ñạt quen thuộc của quần chúng, có khả năng tạo ra sức tác ñộng
mạnh ñến người ñọc, có khả năng tạo ra sức tác ñộng trong thông tin, báo chí”. 5
Trong bài viết Câu văn của Bác Hồ (Tạp chí ngôn ngữ số 4, 1970), Lê Xuân
Thại ñưa ra nhận ñịnh “Trong các bài văn của Bác có nhiều cách biện luận, trong
ñó có cách dùng câu hỏi, những câu hỏi loại này của Bác mang ñầy sức mạnh của
logic”.
Bài viết Bước ñầu tìm hiểu ngôn ngữ của Hồ Chủ Tịch qua Những lời
Luận văn ñặt ra nhiệm vụ khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp
tu từ cú pháp trong các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh, thấy ñược giá trị
và hiệu quả biểu ñạt của các phép tu từ; góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Hồ
Chí Minh trong văn chính luận. Từ ñó, rút ra bài học thực tiễn trong dạy học tác
phẩm của Hồ Chí Minh và bài học về sử dụng ngôn ngữ nói chung.
5. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ ñặc trưng và yêu cầu của ñề tài, trong quá trình triển khai luận
văn, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
Vận dụng phương pháp này, chúng tôi có thể khảo sát ñể tìm ra và phân loại
các biện pháp tu từ ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh. Từ
ñó, xác ñịnh hiệu quả sử dụng của các biện pháp tu từ ấy.
- Phương pháp phân tích
Phương pháp này cho phép chúng tôi ñi sâu vào nhiều khía cạnh của vấn ñề,
vừa làm rõ vấn ñề vừa tăng sức thuyết phục với những dẫn chứng và cứ liệu, lập
luận cụ thể.
- Phương pháp tổng hợp
Phương pháp tổng hợp giúp chúng tôi dễ dàng hơn trong việc nâng cao vấn
ñề, khái quát phong cách nhà văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Về lí luận
Trên cơ sở các lí thuyết ngôn ngữ, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm lí
thuyết về tu từ ngữ âm, tu từ ngữ pháp, về phong cách chính luận bằng những kết
quả nghiên cứu cụ thể.
7
- Về thực tiễn
8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Lí thuyết về biện pháp tu từ
Lí luận về tu từ học và biện pháp tu từ xuất hiện từ rất sớm, việc nghiên cứu
về vấn ñề này ñã ñạt ñược những thành tựu ñáng kể. Những thành tựu ấy phần nào
cho thấy sự phát triển của ngôn ngữ học nói chung và của tu từ học nói riêng – dù
nó chưa phản ánh hết ñược những gì vốn rất phong phú và phức tạp của ngôn ngữ
trong quá trình sử dụng. Lí thuyết về vấn ñề này ngày càng ñược nhiều nhà ngôn
ngữ học quan tâm nghiên cứu, nhờ thế nó dần ñược hoàn thiện bởi hệ thống lí luận
sâu sắc. Hệ thống lí luận xuất hiện sau mang tính kế thừa hệ thống lí luận trước,
ñồng thời nó bổ sung nhiều hơn những phát hiện mới mẻ, phù hợp với thực tiễn
ngôn ngữ trong hoạt ñộng hành chức.
Ở thời kì ñầu, nói ñến tu từ học người ta thường nhắc ñến những khái niệm
như nghệ thuật diễn ñạt, thuyết phục, tranh biện Thuật ngữ phương thức tu từ hay
tu từ pháp dường như ñược sử dụng chung cho cả hai khái niệm phương tiện tu từ
và biện pháp tu từ. Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu cũng ñã xác ñịnh và phân loại
các phương thức tu từ chủ yếu: ẩn dụ, hoán dụ, phúng dụ, tượng trưng, trùng ñiệp,
Đây là những kiến thức mang tính tiền ñề lí luận, ñịnh hướng cho việc nghiên cứu
vấn ñề biện pháp tu từ ở những khía cạnh khác nhau. Ở giai ñoạn sau, các nhà ngôn
ngữ học thường dựa vào ñặc ñiểm cấu trúc và ñặc ñiểm ngữ nghĩa của các phương
thức tu từ ñể phân loại. Chẳng hạn, V.V.Odinsov hệ thống hoá các phương thức và
biện pháp tu từ thành hai nhóm: các phép tu từ thay thế (gồm hai tiểu nhóm: các
phép tu từ số lượng như ngoa dụ, nói giảm và các phép tu từ chất lượng như ẩn dụ,
hoán dụ, mỉa mai) và các phép tu từ kết hợp (gồm các phép ñồng nhất như so sánh,
thế ñồng nghĩa; các phép không ñồng nhất như ñồng nghĩa chính xác hoá, chơi chữ,
liên ngữ, hay các phép ñối lập như ñối ngữ, nghịch dụ, )
Ngày nay, nhiều nhà ngôn ngữ dùng phổ biến thuật ngữ Phong cách học thay
thế thuật ngữ Tu từ học trước ñây. Tu từ học vẫn ñược sử dụng ñể chỉ phần nghiên
ra những nhận ñịnh xác ñáng ñể phân biệt phương tiện tu từ và biện pháp tu từ. 10
Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt ñộng lời nói các
phương tiện ngôn ngữ không kể trung hoà hay diễn cảm trong một ngữ cảnh rộng
ñể tạo ra hiệu quả tu từ. [40, 5]
Phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản chúng
còn có ý nghĩa bổ sung còn gọi là màu sắc tu từ . [40, 5]
Tác giả cũng ñưa ra những tiêu chí nhất ñịnh ñể phân biệt 2 khái niệm
phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, những tiêu chí ấy có phần ñồng nhất với ý kiến
của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ - Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi
Minh Toán.
Tóm lại, có thể nhận diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ qua sự khái
quát sau:
Phương tiện tu từ ñược nhận diện ở những ñiểm sau:
- Là phương tiện ngôn ngữ, ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic)
chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ.
- Là những phương tiện ñược tu sức về mặt tu từ hoặc ñôi khi ñược ñánh dấu
về mặt tu từ. [41, 59]
- Phương tiện tu từ là những yếu tố ngôn ngữ thuộc các cấp ñộ khác nhau,
ñược ñánh dấu về tu từ học trong giới hạn của một cấp ñộ nào ñó trong ngôn ngữ
[40, 9]
- Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ bị quy ñịnh bởi những quan hệ hệ
hình của các yếu tố cùng bậc. [40, 9]
- Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ ñược củng cố ở ngay phương tiện
ñó [40, 9].
- Phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế ñối lập tu từ học (tiềm tàng
trong ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà
của hệ thống ngôn ngữ. [40, 11]
Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể ñược dùng ñể xây dựng những biện
pháp tu từ rất khác nhau. Ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể tham
gia vào việc xây dựng cùng một biện pháp tu từ.
Sự phân chia hai phạm trù phương tiện tu từ và biện pháp tu từ cũng chỉ
mang tính tương ñối. Điều quan trọng là người sử dụng ngôn ngữ cần ñặt vào hệ 12
thống và tạo ñược sự nhất quán khi xác ñịnh, miêu tả và phân tích các biện pháp tu
từ cũng như phương tiện tu từ.
Như vậy, có thể nói biện pháp tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn
ngữ nhằm ñạt hiệu quả trong cách diễn ñạt. Nói cách khác, biện pháp tu từ chú ý
ñến khả năng lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ, ñộc ñáo trong cách thể hiện, tạo ra sự
mới mẻ, lạ hoá. Người sử dụng ngôn ngữ có thể ñạt tới sự sáng tạo khéo léo nếu
biết sử dụng các biện pháp tu từ một cách linh hoạt ñể tạo ra hình thức diễn ñạt cho
những nội dung cụ thể.
Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ ñược kết hợp và căn cứ vào các cấp ñộ
ngôn ngữ, các biện pháp tu từ có thể ñược chia ra: Các biện pháp tu từ từ vựng –
ngữ nghĩa (ñiệp từ, ñiệp ngữ, liệt kê từ vựng, tăng cấp ); biện pháp tu từ ngữ âm
(ñiệp thanh, ñiệp phụ âm ñầu, hài thanh, biến nhịp ); biện pháp tu từ cú pháp (ñảo
ngữ, sóng ñôi, phản cú, ñiệp cú, xen kẽ, ñề ngữ, giải ngữ ); biện pháp tu từ văn bản
(rút gọn, ñiệp khúc, liên kết, bỏ lửng, nhấn mạnh ).
Dựa vào ñối tượng và phạm vi nghiên cứu của ñề tài, ở chương này, luận văn
chỉ tìm hiểu cụ thể vấn ñề lí thuyết biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú
pháp - làm cơ sở cho việc triển khai những vấn ñề ở chương 2 và chương 3.
1.2. Lí thuyết về biện pháp tu từ ngữ âm
1.2.1. Biện pháp tu từ ngữ âm
Các phương tiện ngữ âm (âm vị, âm tiết) ñược xem là những ñơn vị mang
tính một mặt (khác với những ñơn vị mang tính hai mặt như hình vị, từ, câu, ), là
vỏ âm thanh – cơ sở vật chất ñể biểu ñạt ý nghĩa nào ñó của ngôn ngữ. Vì ñặc ñiểm
Sự phối hợp của các thanh bằng – trắc: câu trên chủ yếu là các âm tiết mang
thanh trắc, câu dưới chủ yếu là các âm tiết mang thanh bằng tạo nên sự ñối lập trong
tâm trạng của một con người. Bên cạnh ñó, còn phải kể ñến việc sử dụng các phụ
âm cuối một cách hiệu quả: các phụ âm cuối tắc vô thanh /p/ trong “thấp” và /t/
trong “uất” tạo nên biểu tượng của sự nghẹn ngào trước cái trớ trêu của số phận ;
các phụ âm vang mũi /n/ trong các âm tiết “giang”, “quên”, “hương” tạo nên sự dàn
trải, phiêu du ; các âm tiết mở có ñộ vang lớn “hồ, mê, quê” kết hợp với các âm tiết
nửa mở “chơi” cùng với 7 thanh bằng (ñối lập với 5 thanh trắc ở trên) góp phần
miêu tả một tư tưởng thoát li, một tâm hồn ngao du, thoát tục. 14
1.2.2. Các biện pháp tu từ ngữ âm thông dụng
Vỏ âm thanh ngôn ngữ thường ñược xem là các tín hiệu chỉ có một mặt
nhưng trong những hoàn cảnh nhất ñịnh hoặc trong những cách diễn ñạt có chủ ñích
người ta có thể sử dụng nó như một phương tiện mang màu sắc tu từ, có tính biểu
trưng cao, giúp cho sự cộng hưởng ý nghĩa thêm phần sinh ñộng và sâu sắc. Sử
dụng các biện pháp tu từ ngữ âm ñể chuyển hoá âm thanh ngôn ngữ một cách khéo
léo có thể tạo ra những hiệu quả biểu cảm có giá trị. Chúng ta thường gặp các biện
pháp tu từ ngữ âm như: hài thanh, hài âm, ñiệp âm, biến nhịp, ñiệp khúc
1.2.2.1. Biện pháp hài thanh
Hài thanh là biện pháp tu từ ngữ âm nhằm hài hoà các mặt ñối lập về thanh
ñiệu: cao/thấp; gãy /không gãy, tức là ñối lập âm vực và ñường nét thanh ñiệu. [37,
93]
Biện pháp hài thanh chủ yếu phát huy tác dụng trong những tác phẩm thơ bởi
thơ ca tiếng Việt luôn chú ý ñến tính nhạc, có thể xem ñây là một trong những tiêu
chí quan trọng ñể góp phần làm nên một bài thơ hay, nhất là những bài thơ ñược
quy ñịnh bởi tính chất niêm luật chặt chẽ về cả vần và ñiệu.
Ví dụ: Gió sao là lạ. Mây khang khác
Không hiểu hay là nhịp cuối năm
[40, 226]
Biện pháp hài âm chú ý ñến sự hài hoà các mặt ñối lập của âm tiết như : mở
/ñóng, cao /thấp, ngắn/dài, mạnh /yếu, trầm/bổng, ở những vị trí nhất ñịnh ñể tạo
âm hưởng (ñiểm nhấn thường là những âm tiết ñứng ở cuối câu). Tính chất hài hoà
này không chỉ thể hiện ở những câu thơ, lời văn riêng lẻ mà nó còn góp phần tạo ra
ñặc trưng về giọng ñiệu cho cả ñoạn, cả bài.
Ví dụ:
Đời Trần, quân Nguyên ñánh ñâu ñược ñấy, ñánh ñược nước Tàu và nửa
châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo ñánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi
và ông Nguyễn Huệ ñã ñánh ñuổi quân Tàu làm cho nước ta ñộc lập.
Người già như ông Lí Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn ñánh ñông dẹp bắc,
bao nhiêu lần ñuổi giặc cứu dân. 16
Thiếu niên như Đổng Thiên Vương, chưa ñến 10 tuổi, mà ñã ra tay cứu
nước, cứu nòi, Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi ñã giúp ông Trần Hưng Đạo ñánh
phá giặc Nguyên.
Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang sơn.
Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên ñộng
ñịa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta ñược tự do ñộc lập, lừng lẫy ở Á
Đông. [16, 216]
Trong ví dụ trên, người viết ñã sử dụng tổng hợp các mặt biểu ñạt âm thanh
của ngôn từ ñể tạo ra sự hài hoà về âm thanh cho văn bản.
1.2.2.3. Biện pháp ñiệp âm
Điệp âm là biện pháp cố ý lặp lại một số yếu tố ngữ âm nào ñó (phụ âm ñầu,
vần hoặc thanh) ñể tạo ra sự cộng hưởng ý nghĩa, có tác dụng tô ñậm thêm hình tượng
hoặc xúc cảm, gợi liên tưởng, ñồng thời giúp cho lời văn, lời thơ thêm nhạc tính.
a. Điệp phụ âm ñầu
Đây là biện pháp tu từ ngữ âm lặp lại phụ âm ñầu ñể tạo ra sự trùng ñiệp về âm
khổ/Diệt giặc dốt nát/Diệt giặc ngoại xâm, ñã tạo ra hơi văn ñặc biệt, góp phần
nhấn mạnh mục ñích của việc “thi ñua ái quốc” ñặt ra ñồng thời thể hiện ý chí mạnh
mẽ của người phát ngôn.
1.2.2.4. Biện pháp tạo nhịp ñiệu
Tạo nhịp ñiệu là biện pháp tu từ ngữ âm ñược dùng chủ yếu trong văn xuôi
chính luận, trong ñó người ta cốt tạo nên một âm hưởng hấp dẫn bằng những hình
thức cân ñối, nhịp nhàng của lời văn, nhằm làm cho lí luận có sức thuyết phục mạnh
mẽ. [40, 228]
Ví dụ:
Trong Việt Minh, ñồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt gái,
trai, già, trẻ, lương, giáo, giàu, nghèo [16, 553]: nhịp ñiệu của những từ ñơn tiết
phản nghĩa ñối nhau ñã tạo nên âm hưởng cho câu văn.
Nhịp ñiệu của những cụm từ, những vế, những ñoạn câu ñối nhau cũng tạo
nên âm hưởng riêng cho lời văn: Bất kì ñàn ông, ñàn bà, người già, người trẻ,
không phân biệt tôn giáo, ñảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải ñứng
lên ñánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng 18
gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc, ai cũng phải ra sức chống
thực dân cứu nước. [17, 480]
1.2.2.5. Biện pháp tạo âm hưởng
Biện pháp tạo âm hưởng là biện pháp tu từ ngữ âm ñược dùng chủ yếu trong
văn xuôi nghệ thuật, trong ñó người ta phối hợp âm thanh, nhịp ñiệu của câu văn
không phải chỉ cốt tạo ra một sự cân ñối, nhịp nhàng, uyển chuyển, êm ái, du
dương, mà cao hơn thế, phải tạo ra một âm hưởng hoà quyện với nội dung hình
tượng của câu văn. [40, 230]
Ví dụ:
Mỗi người dân Việt Nam, bất kì già, trẻ, trai, gái; bất kì giàu, nghèo, lớn,
nhỏ, ñều phải trở nên một chiến sĩ ñấu tranh trên một mặt trận : Quân sự, Kinh tế,
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc Biện pháp tu từ cú pháp là cách phối hợp sử
dụng các kiểu câu trong một ngữ cảnh rộng (trong chỉnh thể trên câu, trong ñoạn
văn và trong văn bản trọn vẹn) nhằm ñem lại ý nghĩa biểu cảm và cảm xúc cho
những mảnh ñoạn của lời nói do chúng cấu tạo nên. [40, 83].
1.3.2. Các biện pháp tu từ cú pháp thông dụng
1.3.2.1. Biện pháp ñiệp cú pháp
Việc sử dụng nhiều câu có cấu trúc cú pháp giống nhau ñể tạo âm hưởng
nhịp nhàng cho lời thơ, lời văn, ñược gọi là biện pháp ñiệp cú pháp hay còn gọi là
biện pháp sóng ñôi cú pháp.
Ví dụ: Đế quốc Mĩ nhất ñịnh phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất ñịnh sẽ
thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất ñịnh sẽ sum họp một nhà. [25, 511]
Điệp cú pháp thường có lặp từ vựng ñi kèm. Ý nghĩa từ vựng có thể là ñối
chọi nhau hoặc ñối chiếu nhau
Ví dụ:
- Việc gì có lợi cho dân thì ta phải hết sức làm. việc gì có hại cho dân thì
ta phải hết sức tránh. [17, 47]
- Vì lợi nước, quên lợi nhà ; vì lợi chung, quên lợi riêng. [17, 145]
20
1.3.2.2. Biện pháp nhấn mạnh thành phần câu
Ngoài cách lặp cú pháp, người ta có thể nhấn mạnh nội dung ý nghĩa của câu
nói bằng cách dùng các tiểu từ thì, mà, là hoặc ñảo vị trí các thành phần hay tách
thành phần câu
a. Dùng tiểu từ
Dùng các tiểu từ thì, mà, là “là biện pháp ñể gia tăng ngữ ñiệu nhấn mạnh
một nét nghĩa bắt buộc hoặc tương phản, từ ñó có thể hàm ý khẳng ñịnh hoặc phủ
nhận, trách móc, mỉa mai, Trong lời nói, thì, mà, là có thể xuất hiện như một từ
1.3.2.3 Biện pháp tách thành phần câu
Đây là biện pháp tách bất cứ thành phần nào ñó của câu thành câu riêng
nhằm nhấn mạnh ý của thành phần ñược tách ra, tăng cường giá trị biểu cảm của
câu văn.
Ví dụ: Những người Pháp muốn thật thà cộng tác với ta thì ta thật thà cộng
tác với họ, ích lợi cho cả ñôi bên. Để cho thế giới biết ta là một dân tộc văn minh.
Để cho người Pháp ủng hộ ta càng thêm ñông, sức ủng hộ càng thêm mạnh. Để có
những kẻ khiêu khích muốn chia rẽ không có thể và không có cớ mà chia rẽ. Để cho
công cuộc ñộc lập và thống nhất của chúng ta nhanh chóng thành công. [17, 418]
1.3.2.4. Biện pháp dùng giải ngữ, phụ ngữ tình thái
Trong lời nói giải thích ngữ và phụ ngữ tình thái nhiều khi ñược sử dụng làm
phương tiện tu từ ñể cụ thể hoá hay ñể nhấn mạnh một nét nghĩa nào ñó mà người
nói muốn truyền ñạt.
Ví dụ: Bởi thế cho nên, chúng tôi – Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà - trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: [17, 3]
Giải thích ngữ, nhất là phụ ngữ tình thái thường có tác dụng làm cho người
ñọc người nghe như cùng tác giả nhập thân vào thế giới hình tượng.
1.3.2.5. Biện pháp dùng kết từ trong câu ghép
Dùng quan hệ từ trong câu ghép có thể làm cho các bộ phận ñược nối kết với
nhau rõ ràng và ñạt những giá trị tu từ nhất ñịnh. Ta có thể chia phương thức này ra
làm các kiểu:
- Kiểu không dùng quan hệ từ:
Ví dụ: Đồng bào yêu mến nghe lời tôi. [17, 165] 22
Mối quan hệ logic giữa các vế trong câu ghép trở nên mờ nhạt, sâu sắc tình
cảm ñược nổi bật hơn. Nếu dùng từ nối nếu thì thì quan hệ giữa lãnh tụ và quần
chúng sẽ trở thành một ñiều kiện, một giả thiết vì thế câu nói nghiêng về lí trí hơn là
tình cảm.
nhau ñể gây một ấn tượng mạnh mẽ về hình ảnh, cảm xúc. [35, 125]
Ví dụ :
Đời sống mới là:
- Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ
- Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.
[17, 167]
1.3.2.9. Biện pháp lặp
a. Biện pháp lặp ñầu
Là biện pháp tu từ thể hiện ở việc lặp lại một vài yếu tố ở ñầu câu trong
những câu tiếp theo.
Trong văn chính luận, biện pháp lặp ñầu ñược sử dụng khá phổ biến nhằm
nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa hay sắc thái biểu cảm nào ñó, thu hút sự chú ý của
mọi người, câu văn trở nên có sức thuyết phục.
Ví dụ:
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết
những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta
trong những bể máu. [17, 2]
b. Biện pháp lặp cuối
Là biện pháp tu từ thể hiện ở việc lặp lại một vài yếu tố ở cuối câu trong
những câu tiếp theo. Biện pháp này ñem lại cho lời văn tính diễn cảm, nhịp nhàng,
hài hoà, vì thế nó cũng ñược sử dụng rộng rãi trong thể loại văn chính luận.
Ví dụ:
Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.
Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng ñoàn kết của nhân dân.
Thiện nghĩa là tốt ñẹp, vẻ vang. Trong xã hội không gì tốt ñẹp, vẻ vang bằng
phục vụ cho lợi ích của nhân dân. [21, 278]