Kiến thức về bộ nhớ - Memory - Pdf 14

VPIT – Giáo trình phần cứng máy tính – Chương VI Trang 1
CHƯƠNG VI :
BỘ NHỚ (MEMORY)

I. BIOS, EPROM, EEPROM, and Flash ROM :
ROM (Read Only Memory) chip, được đặt trên bo mạch chủ, chứa những chỉ thị có
thể được truy xuất trực tiếp bởi bộ vi xử lý. Không giống như RAM, các chips ROM có
khả năng giữ lại nội dung của nó thậm chí kể cả khi máy tính đã tắt nguồn. Nội dung của
chip ROM không thể bị xóa hay thay đổi (theo nghĩa thông thường). Dữ liệu được truyền
từ các chips ROM nhanh hơn so với bất kỳ loại đĩa nào nhưng chậm hơn RAM. Một vài
ví dụ về các chips ROM có thể được tìm thấy trên bo mạch chủ như: BIOS ROM,
EEPROM, và Flash ROM.
1. BIOS ROM (Basic In/Out System) :
Những chỉ thị và dữ liệu chứa trong chip ROM điều khiển quá trình khởi động
(Boot) và các thiết bị phần cứng (hardware) bên trong máy tính của bạn được gọi là Hệ
thống Nhập/Xuất Cơ sở (BIOS), người ta còn gọi là firmware (chương trình điều khiển
cơ sở). BIOS ROM là một phần rất quan trọng của máy tính. Trong thực tế, nếu CPU
được xem như Bộ não thì BIOS ROM được xem như Trái tim của hệ thống. BIOS sẽ
định nghĩa loại đĩa cứng nào được gắn vào máy tính, kiểm tra xem ổ đĩa mềm 1.44MB có
tồn tại không, loại bộ nhớ nào được lắp vào máy tính và nhiều phần quan trọng khác của
hệ thống phần cứng trong khi máy tính khởi động. Những trả lời từ BIOS nhằm cho biết
mối quan hệ giữa hệ điều hành và các thành phần phần cứng khác nhau mà nó hỗ trợ.
Những trả lời này bao gồm :
- Nạp chương trình cài đặt cho phần cứng.
- Kiểm tra hệ thống thông qua một tiến trình được gọi là P.O.S.T.
- Đưa ra các mã lỗi về âm thanh (audio), hình ảnh (video) khi có một vấn đề xuất
hiện trong quá trình P.O.S.T.
- Cung cấp cho máy tính những chỉ thị cơ bản để điều khiển các thiết bị trong hệ

EEPROM, nó có thể được nâng cấp (hay lập trình lại) bằng cách chạy một số chỉ
thị lệnh đặc biệt.
- Flash ROM, đây là một dạng đặc biệt của chip EEPROM được phát triển từ
những cải tiến trong công nghệ EEPROM. Flash ROM lưu trữ BIOS, hay
firmware trong hầu hết các hệ thống mới. Nó có thể được lập trình lại bằng một số
phần mềm điều khiển đặc biệt. Việc nâng cấp BIOS bằng cách chạy một số phần
mềm điều khiển đặc biệt, được gọi là flashing. Chương trình BIOS thực thi trên
VPIT – Giáo trình phần cứng máy tính – Chương VI Trang 3
Flash ROM được biết đến như một chương trình BIOS hỗ trợ các thiết bị Plug-
and-Play. Những chips này lưu lại dữ liệu khi máy tính đã tắt nguồn; vì vậy,
thông tin được lưu trữ vĩnh cửu.

II. RAM :
RAM – Random Access Memory – bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên; là nơi lưu trữ hệ
điều hành, các ứng dụng và những dữ liệu đang sử dụng. CPU sẽ truy xuất những dữ liệu
này từ RAM với tốc độ rất nhanh.
CACHE, là nơi lưu trữ một cách tạm thời một loại dữ liệu nào đó. Ví dụ, một số tập
tin sẽ tự động được truy xuất khi ta duyệt một trang WEB mà trước đó, dữ liệu trang
WEB này đã được lưu trữ trên ổ đĩa cứng tại một thư mục con lưu trữ tạm các trang WEB
đã được truy xuất qua (cache subdirectory), thư mục này nằm trong thư mục chứa trình
duyệt WEB của bạn (như Internet Explorer).
Dữ liệu được lưu trên RAM chỉ có tính tạm thời, chúng sẽ bị mất khi tắt máy tính
hoặc mất điện. RAM lưu trữ những dữ liệu và các chương trình để CPU xử lý. Nói cách
khác, RAM là bộ nhớ lưu trữ định kỳ dữ liệu được sử dụng trong quá trình xử lý nhanh
bởi CPU. Máy tính càng có nhiều RAM càng có nhiều khả năng lưu giữ và xử lý những
chương trình hoặc những tập tin lớn. Số lượng và loại bộ nhớ trong hệ thống có thể tạo
nên sự khác biệt lớn ở khả năng vận hành của toàn hệ thống. Một vài chương trình sẽ có

nối đến bus hệ thống, tạo thành một đường dẫn điện tử để dữ liệu trong bộ nhớ được
truyền từ/đến các thành phần hệ thống khác. Một thanh DIMM 168 chân hỗ trợ dòng dữ
liệu 64-bit (non-parity) và 72-bit (parity). Loại cấu hình này vẫn đang còn được sử dụng
trong các hệ thống 64-bit mới nhất. Một điều cần nhắc lại là Parity chỉ khả năng kiểm tra
lỗi được tích hợp vào chip RAM nhằm mục đích toàn vẹn dữ liệu. Một đặc tính quan
trọng nữa là các chân trên thanh DIMM không dùng để kết nối với các thanh DIMM khác
(như SIMM).
2. Ngoài ra, còn có một số dạng RAM đặc biệt khác, như :
VRAM (Video RAM) và WRAM (Windows RAM): là loại bộ nhớ đang được dùng hiện
nay, dành cho việc hiển thị hình ảnh. Cả VRAM và WRAM đều được thiết kế theo kiểu
dual-ported (cả bộ vi mạch tổng hợp – chipset và chip RAMDAC (được định nghĩa trong
đoạn sau) đều truy xuất bộ nhớ cùng lúc. Việc truy xuất đồng thời này sẽ làm tăng chất
lượng xuất hình ảnh. Loại bộ nhớ mới nhất của card màn hình cũng hỗ trợ loại RAM hệ
thống mới nhất (chẳng hạn loại synchronous DRAM – SDRAM).
RAMDAC (Random Access Memory Digital-to-Analog Converter): đây là một dạng đặc
biệt nữa của RAM dùng để chuyển những hình ảnh đã được mã hoá dạng số (digital)
VPIT – Giáo trình phần cứng máy tính – Chương VI Trang 5
sang dạng tín hiệu tương tự (analog) để hiển thị. Nó được tạo ra bởi một thành phần
SRAM (lưu trữ bản đồ màu – color map) và ba bộ chuyển đổi số-sang-tương tự (R-G-B).
Hầu hết các loại RAM khác như EDO (Extended Data Out) RAM hay FPM (Fast Page
Memory) đều quá chậm đối với các chuẩn máy tính ngày này và đã không còn được sử
dụng trong các máy tính đời mới.

Loại Công dụng Khả năng Ghi chú
SRAM
Dùng tạo cache L1
và L2

tại tần số 75 MHz
và nhanh hơn.
SDRAM
Bộ nhớ chính, bộ
nhớ video
Đồng bộ với xung
nhịp hệ thống và có
thể đọc/ghi ở chế độ
vượt mức lên đến
100 MHz
Cho phép một truy
xuất bắt đầu ngay cả
khi một truy xuất
trước đó đang còn
hoạt động
(Interleaving)
DDR SDRAM
Bộ nhớ chính, bộ
nhớ video
Tăng gấp đôi băng
thông truyền bằng
cách truyền dữ liệu
2 lần/1 xung nhịp
Chi phí đắt hơn
SDRAM
DRDRAM
Bộ nhớ chính, bộ
nhớ video
Dựa trên tốc độ cao,
dùng bus 16-bit với


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status