giới thiệu về công ty cổ phần thủy hải sản việt nhật - Pdf 14

GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY HẢI SẢN VIỆT NHẬT

Ngày 02/04/2010 Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM đã cấp Giấy phép số 62/QĐ-
SGDHCM cho phép Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật niêm yết cổ phiếu trên SGDCK
TP.HCM. Theo kế hoạch ngày 08/04/2010, Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật sẽ chính
thức giao dịch. Như vậy, Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật đã trở thành công ty thứ 244
niêm yết cổ phiếu trên SGDCK TP.HCM với mã chứng khoán là VNH. Để giúp quý độc giả có
thêm thông tin về công ty, trang Web của SGDCK TP.HCM xin giới thiệu một số nét chính về
lịch sử thành lập, quá trình hoạt động và những kết quả kinh doanh đáng chú ý của Công ty Cổ
phần Thủy hải sản Việt Nhật trong những năm qua.

1. Giới thiệu sơ lược về công ty:
Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật tiền thân là Công ty TNHH Sản xuất - Thương
mại - Xuất nhập khẩu Việt Nhật, được thành lập ngày 19/12/2000, hoạt động chế biến thuỷ sản
và xuất nhập khẩu sang các thị trường lớn trên thế giới. Hiện nay, Công ty đã có danh mục sản
phẩm chế biến lên tới gần 100 mặt hàng và phục vụ hoàn toàn cho thị trường xuất khẩu. Ngày
10/05/2007, để phát triển hoạt động kinh doanh cũng như nâng cao công tác quản lý và sản xuất,
Việt Nhật tiến hành đăng ký chuyển đổi hình thức kinh doanh từ Công ty TNHH sang hình thức
Công ty Cổ phần theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103006673 do Sở Kế hoạch và
Đầu tư TP.HCM cấp với vốn điều lệ 25 tỷ đồng. Sau đó, Công ty huy động thêm vốn từ các cổ
đông và đổi tên mới là Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật với vốn điều lệ đăng ký là 86,8
tỷ đồng và vốn điều lệ thực góp là 80.230.710.000 đồng.
Cơ cấu của Công ty: Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật có 1 Công ty con là Công
ty TNHH Đồ hộp Phú Nhật với vốn điều lệ 36 tỷ đồng, tỷ lệ nắm giữ của Việt Nhật là 94,56%.
Các lĩnh vực kinh doanh, sản xuất chính của Công ty bao gồm:
 Sản xuất, mua bán hàng hóa nông – lâm – thủy – hải sản và thực phẩm chế biến;
 Dịch vụ giao nhận hàng hóa;
 Đại lý mua bán, ký gởi hàng hóa;
 Sản xuất, mua bán bao bì (không in, tráng bao bì kim loại tại trụ sở);
 Sản phẩm chính hiện nay của Việt Nhật là các loại sản phẩm thủy h
ải sản chế biến có

Mực Kg 56.762 4.318 6.022
Ghẹ Kg 331.140 256.876 147.432
Tôm Kg 116.971 216.643 284.093
Mặt hàng khác Kg - 27.974 17.397
Tổng cộng 1.058.656 1.089.920 623.896
(Nguồn: Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật)
Trong năm 2007, Việt Nhật đã xuất khẩu được 1.058 tấn thủy sản các loại. Năm 2008,
xuất khẩu thủy sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng
sản lượng xuất khẩu của Việt Nhật năm 2008 vẫn đạt 1.089 tấn, tăng 2,93% so vớ
i năm 2007.
Sản lượng tiêu thụ 9 tháng đầu năm 2009 đạt 428 tấn.

• Cơ cấu doanh thu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Sản phẩm
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ lệ
(%)
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ lệ
(%)
Giá trị
(triệu đồng)
Tỷ lệ
(%)
Bạch tuộc 34.470 25,98 % 44.538 29 % 13.326 16,73 %
Mực 6.813 5,13 % 572 0,37 % 866 1,09%
Ghẹ 82.539 62,21 % 85.670 55,78 % 34.374 43,16 %

nên Việt Nhật hiện nay rất chú trọng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa mặt hàng này.
¾ Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007, 2008, và năm 2009
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
% tăng (giảm)
2009/2008
Tổng giá trị tài sản 115.649 136.673 138.737 1,51%
Doanh thu thuần 131.818 144.631 73.578 -49,17%
Giá vốn hàng bán 106.045 122.835 50.692 -58,73%
Lợi nhuận thuần từ
HĐKD
16.149 7.326 11.315 54,45%
Lợi nhuận khác (445) 269 (27) -160,45%
Lợi nhuận trước thuế 15.704 7.595 11.288 48,62%
Lợi nhuận sau thuế 13.111 6.489 9.649 48,69%
Cổ tức 11% 8% 9% 1%
Nguồn: BCTC kiểm toán năm 2007, BCTC Hợp nhất kiểm toán năm 2008 và năm 2009 của
Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật
Cũng như các doanh nghiệp thủy sản khác, chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Việt Nhật năm 2008 giảm so với năm trước. Tuy doanh thu thuần năm 2008 tăng 9,72% so với
năm 2007 nhưng với sự gia tăng của chi phí, lợi nhuận sau thuế năm 2008 giảm 50,51% so với
năm 2007. Đến năm 2009 tình hình kinh tế thế giới nói chung vẫn chưa phục hồi, đặc biệt là
những tháng đầu năm 2009, kinh tế các nước nhập khẩu thủy sản của Việt Nam bị ảnh hưởng
mạnh mẽ. Điều này làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp xuất
khẩu thủy sản nói chung. Doanh thu thuần năm 2009 chỉ đạt 73,57 tỷ đồng, giảm 49,17% so với
năm 2008. Nhưng bằng mọi nỗ lực cắt giảm chi phí của toàn Công ty, lợi nhuận trước thuế của

Nhà máy có tổng công suất thiết kế là 20 tấn thành phẩm đông lạnh/ngày, tổng nhân công
cần thiết lên đến 1.000 người. Việt Nhật có hệ thống kho lạnh với công suất thiết kế là 700 tấn,
sử dụng công nghệ hiện đại của Nhật Bản.
Hệ thống máy móc sản xuất của Việt Nhật đồng bộ, thuộc thế hệ hiện đại nhất hiện nay
so với các Công ty cùng ngành trong nước, được nhập khẩu hoàn toàn từ Nhật. Ngoài ra, Việt
Nhật còn là một trong những doanh nghiệp ở Việt Nam có đội tàu đánh bắt thủy sản và hệ thống
máy móc thiết bị sơ chế ngay trên tàu. Đội tàu gồm 09 chiếc có trọng tải từ 40-50 tấn/chiếc.
Nguyên liệu sau khi đánh bắt, thu mua được xử lý sơ bộ và bảo quản trên tàu theo đúng quy định
nhằm b
ảo đảm chất lượng, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu khi vận chuyển về đến nhà máy.
Trình độ công nghệ là vấn đề có thể thấy ngay được trong cơ cấu sản phẩm của mỗi công
ty. Chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, Việt Nhật không chỉ chú trọng đến
đầu tư nâng cấp, cải tiến cho máy móc thiết bị mà bên cạnh đó cũng đầu tư phát triển nguồn nhân
lực và thị trường.
Có thể nói rằng, với định hướng cụ thể
trong việc chọn lựa thị trường, chọn lựa sản phẩm,
Việt Nhật đã đầu tư thích đáng cho máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất một cách phù hợp
nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu mới của thị trường. ¾ Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của Công ty trong
năm báo cáo:
• Những nhân tố thuận lợi:
- Việt Nhật hiện là một trong những doanh nghiệp đứng đầu cả nước về sản xuất và xuất
khẩu mặt hàng ghẹ đóng hộp và đông lạnh.
- Công ty có đội ngũ quản lý đã kinh qua lĩnh vực khai thác, chế bi
ến xuất khẩu thủy sản,
có nhiều năm kinh nghiệm trên thương trường quốc tế.
- Hệ thống quản lý chất lượng của Việt Nhật ngày càng phát huy tác dụng và tạo được
những hiệu quả tích cực đến nhiều mặt hoạt động của Công ty. Do đó, Việt Nhật đã được

biến thủy sản – Xuất nhập khẩu Việt Cường, Công ty Mai Linh, Công ty Philips, Công ty Đồ
hộp
Hạ Long
Với các chương trình kiểm soát chất lượng, kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm của Việt
Nhật hiện nay áp dụng như các tiêu chuẩn HACCP, GMP…. giúp cho doanh nghiệp kiểm soát
được các mối nguy hiểm ngay từ khâu thu mua nguyên vật liệu, sản xuất và chế biến cho tới khi
thành phẩm nhập kho. Chính vì vậy các sản phẩm của Việt Nhật được phép xuất khẩu sang các
thị trường lớn và có tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Hiệ
n nay, Việt Nhật cũng đang xây dựng và thực
hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 22.000 nhằm đảm bảo chất lượng của toàn bộ sản phẩm
Việt Nhật sản xuất ra đạt chất lượng cao nhất.
Việt Nhật là một trong số ít các doanh nghiệp có tàu đánh bắt và thu mua thuỷ hải sản
ngoài biển nên có lợi thế không chỉ về nguồn cung nguyên liệu mà còn cắt giảm được chi phí sản
xuất, nâng cao sức cạnh tranh, đảm bảo chất lượng nguyên liệu đầu vào
Ngoài việc giám sát chất lượng của Bộ phận Quản lý chất lượng, Việt Nhật còn có phòng
Lab được trang bị thiết bị kiểm nghiệm, xác định kết quả vi sinh, kháng sinh nguyên liệu đầu vào
trước khi đưa vào sản xuất và kiểm tra lại thành phẩm nhằm đáp ứng đủ và đúng theo yêu cầu
của nước nhập khẩu và đảm bảo tối đa an toàn của sản phẩm tránh được những rủi ro gây thiệt
hại về vật chất cũng như uy tín của Việt Nhật.
Có thể thấy, Việt Nhật tuy là doanh nghiệp thuộc ngành thủy sản nhưng khác với các
doanh nghiệp khác chủ yếu xuất khẩu cá tra, cá basa, tôm, mực đông lạnh; sản phẩm của Việt
Nhật chủ yếu là sản phẩm chế biến và đồ hộp xuất khẩu. Đây là những sản phẩm mang lại giá trị
gia tăng cao và xu hướng chung của ngành cũng chuyển dần từ các sản phẩm đông lạnh sang sản
phẩm chế biến.

¾ Triển vọng phát triển của Công ty:
Về mặt vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Việt Nam có nhiều thuận lợi và tiềm năng trong
việc phát triển ngành thủy hải sản.
Trong năm 2009 sản lượng thủy sản ước tính đạt 4.847,6 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm
2008, trong đó cá đạt 3.654,1 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm đạt 537,7 nghìn tấn, tă

 Ghẹ 34.374 160.000 194.000
 Tôm 29.548 44.000 48.000
 Bạch tuộc 13.326 34.000 38.000
 Thực phẩm 1.524 12.000 15.000
 Cá hộp 85.000 106.000
 Thủy hải sản khác 866 1.000 1.000
Lợi nhuận trước thuế 10.789 41.400 52.000
Lợi nhuận sau thuế (LNST) 9.151 37.700 47.500
LNST/ Doanh thu thuần 11,49% 11,22% 11,82%
Chỉ tiêu
Thực hiện
năm 2009
Năm 2010 Năm 2011
LNST/ Vốn điều lệ 11,41% 43,43% 54,72%
Cổ tức 9% 10% 15 %
Nguồn: Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật
− Năm 2010, Công ty TNHH Đồ hộp Phú Nhật đã đi vào hoạt động nên kết quả kinh doanh
của Việt Nhật từ năm 2010 bao gồm kết quả kinh doanh của Việt Nhật và Công ty TNHH
Đồ hộp Phú Nhật
− Dự kiến năm 2010, Việt Nhật cũng sẽ tăng vốn điều lệ từ 80,23 tỷ lên 86,8 tỷ đồng
− Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho Việt Nhật và Phú Nhật được hưởng
các chính sách về ưu đãi miễn giảm đối với các doanh nghiệp thủy sản.

¾ Kế hoạch sản xuất kinh doanh để hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận và cổ tức nêu trên:
− Với sự tăng trưởng về doanh thu cũng như tốc độ phát triển của ngành thủy sản trong
những năm qua, Việt Nhật xác định đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng giá
trị gia tăng cao. Ngoài thị trường và các khách hàng truyền thống của Mỹ, Nhật, Châu
Âu, Việt Nhật vẫn luôn chú trọng việc tìm kiếm khách hàng tại các thị trường mới như
Singapore, Malaysia, Ai Cập, Trung Đông, Australia, Cananda… Đồng thời Việt Nhật
đang chuẩn bị kế hoạch từng bước thâm nhập thị trường nội địa, cung ứng sản phẩm cho

Ngành thủy sản là ngành cần nguồn nhân lực lớn. Sự biến động về nguồn cung ứng lao
động luôn luôn diễn ra ở mức độ cao. Vì vậy, Công ty luôn có chính sách lương phù hợp
cho đội ngũ công nhân sản xuất và các ưu đãi về chế độ phúc lợi, tạo điều kiện ổn định
cuộc sống cho công nhân của nhà máy.
- Rủi ro về thị trường tiêu thụ: Thị trường các nước nhập khẩu sản phẩm của Việt Nhật luôn
có quy định rất khắt khe về tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Những tiêu chuẩn này có
thể thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau. Hiện tại, quy trình sản xuất của Công ty luôn tuân
thủ về chất lượng sản phẩm trong suốt quá trình từ thu mua nguyên vật liệu đến lúc sản
xuất ra thành phẩm và bảo quản. Việt Nhật đã đạt được tiêu chuẩn HACCP của Mỹ, đạt
tiêu chuẩn xuất vào thị trường EU, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc với mã số Code DL193.
- Rủi ro về trong hoạt động xuất khẩu: Đối với việc kinh doanh thủy sản xuất khẩu, các rủi
ro có thể xảy ra khi có sự thay đổi hành vi của người tiêu thụ ở các nước nhập khẩu thủy
sản của Việt Nam. Bên cạnh đó, các chính sách bảo hộ người nuôi cá ở các nước nhập khẩu
đã diễn ra qua các vụ kiện chống bán phá giá, cũng như sự thay đổi ngày càng khắt khe về
các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn về chất lượng, về kiểm dịch, thuốc,
hóa chất sử dụng trong quá trình chăn nuôi và chế biến thủy sản là những nhân tố có thể
làm thu hẹp thị trường xuất khẩu và làm ảnh hưởng tới doanh thu và l
ợi nhuận của Công ty.
- Rủi ro về tỷ giá: Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật là một trong những công ty hoạt
động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, các biến động về chính sách tỷ giá hối đoái có thể ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Việt Nhật. Trong trường hợp Chính phủ điều
hành chính sách tỷ giá theo hướng hỗ trợ xuất khẩu, Việt Nhật sẽ có nhiều cơ hội gia tăng
lợi nhuận và ngược lại, nếu Chính phủ điều hành chính sách tỷ giá theo hướng hỗ trợ nhập
khẩu, Việt Nhật có thể sẽ bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, Công ty còn chịu một số rủi ro chung như rủi ro về tình hình kinh tế, luật pháp và
các rủi ro tai nạn trên đường vận chuyển; các tai nạn, rủi ro mang tính bất khả
kháng khác.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status