Công nghệ sản xuất giống cá chép - Pdf 14

1
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHÉP V1

Cá chép V1 là kết quả của chương trình chọn giống cá chép và lưu giữ nguồn gen
thuỷ sản, do Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Mai Thiên ngun Viện trưởng chủ trì và tập
thể cán bộ cơng chức Viện Nghiên cứu Ni trồng Thuỷ sản I thực hiện.

Cá chép V1 đã tập hợp được những đặc điểm di truyền q : Chất lượng thịt
thơm ngon, khả năng chống chịu bệnh tốt của cá chép Việt Nam. Thân ngắn và cao
cùng tốc độ tăng trọng nhanh của cá chép Hungary, đẻ sớm và trứng ít dính của cá
chép Inđơnêxia.

Ni vỗ cá bố mẹ
Cá đưa vào ni vỗ có ngoại hình đẹp, khoẻ mạnh khơng có biểu hiện mắc bệnh.
Cá đực từ 0,8 kg/cá thể trở lên, cá cái từ 1,0 kg/cá thể trở lên. Cá đực và cá cái được
ni riêng ở các ao khác nhau với mật độ 1 kg/4 - 5m
2
.

Thời gian ni vỗ:
Cá được ni vỗ từ cuối tháng 9 năm trước, đến tháng 2 năm sau cá có thể bắt
đầu sinh sản.

Chăm sóc:
Liều lượng thức ăn chiếm 3 - 5% trọng lượng quần đàn. Ni vỗ tích cực hàm
lượng thức ăn được giảm dần từ 5 - 3% tuỳ thuộc vào thể trạng cá qua kiểm tra định
kỳ (1 tháng một lần). Ni vỗ thành thục thường trước khi cho cá đẻ từ 30 - 45 ngày
đối với chính vụ và 10 - 15 ngày với cá đẻ tái phát. Trong thời gian ni vỗ thành
thục cần cho cá ăn thêm mầm thóc.

Chọn cá cho đẻ

phút kiểm tra độ dính của trứng, nếu trứng không dính lại với nhau là được.

Ấp trứng
Trứng đã khử dính, rửa sạch được ấp trong bình vây có thể tích 300 lít với mật
độ tối đa 40.000 trứng/lít.
Lượng nước qua bình khoảng 4 lít/giây. Trong quá trình ấp trứng cần vệ sinh
mạng tràn thường xuyên, nhất là khi trứng nở.

Ương nuôi cá bột lên cá hương
Cá bột được ương nuôi trong ao với mật độ 100 - 150 cá thể/m
2
. Dùng bột đậu
tương nghiền mịn trong 7 ngày đầu, 7 ngày tiếp theo sử dụng thức ăn dạng bột mịn.

PHÂN HEO
MỘT LOẠI PHÂN BÓN AO CÓ HIỆU QUẢ TRONG
HỆ THỐNG NUÔI GHÉP CÁC LOÀI CÁ CHÉP Giới thiệu
Nuôi trồng thuỷ sản bền vững là xây dựng hệ thống nuôi gắn với bảo vệ môi
trường sinh thái và có hiệu quả kinh tế. Việc tái sử dụng các chất thải hữu cơ trong
nuôi cá đáp ứng cả hai mục đích là làm sạch môi trường và giảm chí phí để sử dụng
phân hoá học (thông thường chiếm khoảng hơn 50% tổng chi phí). Tuy nhiên, việc sử
dụng tuỳ tiện các loại phân bón trong ao hồ nuôi cá có thể gây ô nhiễm môi trường.
Bởi vậy, người nuôi cần phải biết các tiêu chuẩn sử dụng chất thải này qua các thông
số hoá lý của nước ao hồ để đảm bảo tỷ lệ sống và tăng trưởng cao của cá

Nguyên liệu và các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software

và cá chép thường trong ao được bón phân ở mức 18 tấn/ha/năm cũng lớn nhanh,
nhưng cá trắm cỏ lại lớn nhanh hơn trong ao nuôi đối chứng với ao có bón phân.

Chuẩn bị bể
: Thí nghiệm được thực hiện với bể xi măng diện tích 20m
2
, độ sâu 1m.
Dưới đáy các bể có một lớp đất mỏng. Tất cả các bể được lắp đặt đường ống cấp
nước và thải nước.

Bón phân cho bể
: Phân lợn được sử dụng ở mức 18 (PM18) và 36 (PM36) t/ha/năm,
tương ứng với mức 34,5 và 69,0 g/m
2
/tuần trong suốt quá trình thử nghiệm. Cá được
nuôi theo hai cách. Cách thứ nhất là cho ăn đối chứng, không bón phân vào ao và cá
được cho ăn thêm thức ăn chứa 50% cám gạo và 50% bánh dầu mù tạc đã khử dầu ở
mức chiếm 2% sinh khối cá. Cả hai phương pháp bón phân và đối chứng được tiến
hành 3 lần.

Thả giống: Mỗi bể nuôi thả các loài cá bột khác nhau (2 con/m
2
): số cá thả gồm 8 cá
Catla (Catla catla), 10 cá trôi ấn (Labeo rohita), 8 Mrigal (Cirrhinus cirrhosus), 8 cá
chép thường (Cyprinus carpio) và 6 cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus) vào tháng
9 năm 1997. Trọng lượng của các loài cá tại thời điểm thả giống là cá Catla: 3,5-5,0
g; cá trôi ấn: 5,0-12.0 g; cá Mrigal: 2,5-3.0 g; cá chép: 2,0-2,7 g và cá trắm cỏ: 2,2-
2,7 g.
Quan sát số liệu: Hằng tháng nước trong
bể được phân tích vào khoảng 7-8 giờ sáng

C. Sự biến động
của các thông số lý - hoá của nước tại các ao nuôi khác nhau thể hiện trong bảng sau:

Các hình thức ao nuôi

Các thông số
Ao đối chứng Ao bón phân
lợn ở mức 18
T/ha/năm
Ao bón phân lợn
ở mức 36
T/ha/năm
Nhiệt độ (
o
C) 23.30 2.39
a
(13-35)
22.80 2.36
a
(12-35)
22.80 2.38
a
(12-35)
pH 8.61 0.13
a
(8.10-9.20)
8.61 0.14
a
(8.03-9.24)
8.47 0.11

(0-120)
59.80 13.36
a
(0-100)
Ðộ kiềm metyl- da cam
(mg/l)
201.00 15.56
a
(136-268)
187.80 15.32
a
(128-264)
177.70 17.54
a
(100-265)
Tổng độ kiềm (mg/l) 279.30 19.32
a
(156-350)
266.90 19.98
a
(144-331)
237.60 22.15
a
(140-347)
Nitrat- nitơ (mg/l) 1.32 0.22
a
(0.44-2.45)
1.06 0.18
a
(0.70-2.45)

Ngoài ra, lượng thực vật nổi trong ao PM36 là cao nhất, tiếp đó là ao PM18 và
cuối cùng là ao đối chứng, nhưng sự khác biệt không nhiều lắm.

Năng suất sinh học của bất kỳ cơ thể thuỷ sinh nào cũng được đánh giá chung
qua chất lượng và số lượng của sinh vật phù du vốn là thức ăn tự nhiên của cá. Chất
thải động vật làm tăng khả năng sinh học của ao hồ qua các cách khác nhau dẫn tới sự
tăng sản lượng cá. Trong nghiên cứu này, các thông số sinh học của nước bao gồm
các sinh vật phù du và các nhóm tảo lam và tảo lục (riêng tảo Silic ít hơn nhiều trong
ao có bón phân) và lượng phù du động vật trong ao bón phân lợn cao hơn nhiều trong
ao đối chứng. Ðiều này có thể do lượng photphat có trong phân lợn hoà tan trong
nước cao hơn. Tuy nhiên, không có sự khác biệt lớn về sức sản xuất của ao hồ giữa
hai mức bón phân lợn. Sức sản xuất của phù du sinh vật trong các hồ tái sử dụng
phân lợn cao góp phần tạo năng suất của ao tiếp tục cao trong một thời gian dài. Phân
lợn cung cấp cho phù du động vật nguồn thức ăn bổ sung từ vi khuẩn có từ nguồn
phân hữu cơ. Thành phần của phân lợn ảnh hưởng tới cấu trúc quần thể sinh vật phù
du, trong số thực vật phù du, tảo lam là nhóm chiếm ưu thế, tiếp theo là tảo lục, còn
tảo silic có rất ít. Trong số phù du động vật, luân trùng là nhóm nhiều nhất, theo sau
là lớp phụ chân chèo và lớp râu ngành ở tất cả các loại hình nuôi.
Mức tăng trưởng của các loài cá nuôi khác nhau như sau: Ðối với cá Catla và cá trôi
ấn, mức TWG, SGR ở ao sử dụng phân lợn PM18 và PM36 cao hơn nhiều so với
nuôi trong ao đối chứng. Trong khi đó đối với cá Mrigal (Cirrhinus cirrhosus) và cá
chép thường (Cyprinus carpio) mức TWG và SGR trong ao đối chứng lại cao hơn
nhiều và ao PM18 cao hơn ao PM36. Sức tăng trưởng cao của các loại cá chép này
trong ao bón phân lợn có thể là do trong các ao này có nhiều nguồn thức ăn hơn.
Ngoài ra, một vài loại cá chép thậm chí còn nuốt thẳng các mảnh không tiêu hoá
được có lẫn trong các loại phân bón. Các mảnh thức ăn này tuy có giá trị dinh dưỡng
thấp nhưng các vi sinh vật bám vào chúng lại có lượng protein cao. Hơn nữa, việc
cho ăn trực tiếp phân lợn có thể làm cho cá chép tăng trưởng mạnh hơn vì hơn 70%
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

cái. Cá cái được kích thích sinh dục uốn mình vật vã làm cho trứng phọt ra ngoài. Vỏ
trứng cá chép có chất dính nên bám vào cỏ cây, rong, bèo. Ðồng thời lúc đó, cá đực
phun ngay tinh dịch, tinh trùng bơi trong nước gặp trứng làm cho trứng thụ tinh. Dựa
vào tập tính sinh đẻ của cá chép trong tự nhiên, người ta đã nghiên cứu cho cá chép
đẻ theo ý muốn bằng cách tạo ra những hoàn cảnh thuận lợi tương tự.
Yêu cầu của phương pháp cho cá chép đẻ tự nhiên: Vào đầu mùa xuân phải
tuyển chọn trong ao nuôi vỗ cá chép bố mẹ những cá đạt tiêu chuẩn sau:
- Cá bố mẹ phải béo khoẻ, toàn thân trơn bóng, không rách vây, không trớt
vảy, không bệnh. Có đủ cá đực và cá cái.
- Trứng cá phải căng tròn và rời. Sẹ cá phải trắng và đặc (vuốt xuôi hai bên
bụng cá, thấy sẹ
trắng chảy ra như sữa).
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
7
Thời vụ cho cá chép đẻ tốt nhất vào mùa xuân. Trứng cá vụ xuân thường nhiều
và tốt, nên nhân dân thường cho cá chép đẻ vào vụ xuân là chính (vụ thu chỉ tranh thủ
cho đẻ những cá tái phát dục).
Những trạm trại cá giống thường ít quan tâm đến kế hoạch sản xuất cá chép
giống, vì sản xuất vài chục triệu cá bột mè, trôi, trắm không khó, nhưng để sản xuất
vài triệu cá chép bột trong một vụ lại không dễ, vì số lượng trứng của cá chép ít, phải
nuôi vỗ một lượng khá lớn cá bố mẹ, gây tốn kém và mất nhiều diện tích ao. Vì thế,
các hộ gia đình nuôi cá ở địa phương nên nắm vững kỹ thuật cho cá chép đẻ tự nhiên
để chủ động sản xuất giống cá nuôi.

2. Cho cá đẻ tự nhiên:
* Chọn thời tiết thích hợp:
Nhiệt độ cho cá chép đẻ thích hợp nhất từ 18- 25oC. Trời lạnh dưới 18oC cá
chép không đẻ. Trước khi cho cá đẻ, phải nghe dự báo thời tiết để tránh những đợt có
gió mùa đông bắc sắp tràn về. Tốt nhất là những ngày đầu xuân, hôm nào trời ấm áp,


* Chọn ruộng cho cá chép đẻ: Nhiều nơi ở miền núi phía Bắc đã có tập quán cho cá
chép đẻ tự nhiên ngoài ruộng. Ruộng cho cá chép đẻ thường có diện tích 150- 200m2,
đáy đất pha cát, có thể lấy nước vào dễ dàng và luôn giữ được nước. Ruộng cho cá
chép đẻ phải được cày bừa san phẳng và phơi nắng mấy ngày cho se cứng đáy (không
được nứt nẻ). Bờ ruộng đắp cao hơn mức nước, cao nhất khoảng 50 - 60cm, có máng
dẫn nước và cống tiêu nước thuận tiện. Cửa cống dẫn nước phải chắn phên để ngăn
cá tạp theo vào ruộng. Trước khi cho cá đẻ, tháo nước vào ruộng sâu khoảng 40 -
50cm. Nếu ruộng đó còn dùng để ương trứng, nên đào sẵn ở góc ruộng một cái hố
khoảng 4m2, sâu 0,6m và có xẻ mương sâu 0,2m làm đường cho cá đi lại lên xuống
kiếm ăn. Mặt hố có che lá cọ hoặc làm giàn trồng mướp, bầu, bí để che nắng cho cá.

4. Chuẩn bị ổ đẻ:
Thường chọn các loại xơ mềm có nhiều lông tơ nhỏ để làm ổ cho cá chép đẻ
trứng cá dễ bám, như: bèo tây, xơ dừa, sợi nilông. Phổ biến nhất là dùng bèo tây, nếu
dùng bèo phải chọn loại rễ bánh tẻ. Bỏ hết rễ bèo thối, rửa sạch đất, cặn bám ở rễ và
sát trùng bằng nước muối 5% (0,5kg muối ăn pha trong 10 lít nước) hoặc xanh
malachit nồng độ 3mg/lít ngâm 15 phút rồi vớt ra thả vào ổ đẻ. Dùng cây nứa quây
bèo thành khung hình chữ nhật, để khi cá vật đẻ không làm bèo tản mát. Kết quả
nghiên cứu của Viện nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I cho thấy: Số lượng trứng của
mỗi cá mẹ tỷ lệ thuận với khối lượng cá. Cá nặng 1kg thường đẻ 120.000 - 140.000
trứng; cá nặng 1,5kg đẻ 180.000 - 210.000 trứng. Tỷ lệ trứng nở thành cá bột thường
đạt 30- 40% (100 trứng nở được 30 - 40 con cá bột). Một khung bèo rộng 1m2
thường có khoảng 180 cây bèo. Mỗi cây bèo thường có 700 trứng bám, vậy cứ 1 con
cá cái cỡ 1kg cho đẻ cần 1m2 khung bèo. Bèo thả kín vào khung, khung đặt cách bờ
ít nhất 1m ở chỗ nước sâu để khi cá vật đẻ không làm nước bị đục.

5. Thành lập nhóm cá đẻ:
Sau khi kiểm tra cá thấy trứng, sẹ đạt yêu cầu cho đẻ, chuẩn bị xong ao và ổ
cho cá đẻ, nếu thời tiết thuận lợi thì bắt cá cho vào nơi vật đẻ. Trước khi cho cá đẻ,

Có thể ước tính số cá bột thu được bằng 30- 40% số trứng, để quyết định diện tích
trứng ương thành cá bột.

(Phạm Văn Trang)

(Viện nghiên cứu NTTS I) Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status