i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp chuyên ngành NTTS, em đã được
tiếp xúc và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất giống nhân tạo. Em đã được
trực tiếp thực hiện các thao tác kỹ thuật trong quá trình ương giống cá chim vây vàng
giai đoạn từ cá hương lên cá giống.
Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp em đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ của quý thầy cô, các anh và các bạn ở trại thực nghiệm. Trước tiên cho em xin
chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường ĐH Nha Trang, Ban Chủ nhiệm Khoa
NTTS đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện đề tài.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ tận tình của thầy cô trong
khoa NTTS, đặc biệt là thầy Th.S Nguyễn Địch Thanh, thầy Th.S Ngô Văn Mạnh và
kỹ sư Đoàn Xuân Nam đã định hướng và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực
hiện đề tài.
Nhưng do kiến thức có hạn, nên báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Vậy em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để
em có thể tích lũy kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân để sau khi ra trường có
trình độ tay nghề cao hơn.
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ em trong
thời gian thực tập cũng như trong suốt khóa học vừa qua.
Nha Trang, tháng 6 năm 2010
Sinh viên thực tập
Trần Thị Hà
ii
MỤC LỤC
Trang
iii
DANH MỤC VIẾT TẮT
cm : Centimet
g : Gam
trở thành một ngành sản xuất kinh doanh quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của nhiều
quốc gia có biển. Trong 10 năm gần đây xuất khẩu các loài cá biển nuôi như: cá song,
cá giò, cá cam, cá măng, cá bơn, cá ngừ, vv…đã đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho các
nước như: Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Hồng Kông, Úc,
Na Uy…
Theo báo cáo của Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC)
sản lượng cá biển nuôi năm 1997 của Indonesia đạt 831,485 tấn, Philippin đạt
282,119 tấn, Malaysia đạt 11,757 tấn.
Na Uy là nước nhập khẩu công nghệ nuôi cá biển của Nhật Bản từ năm
1986, nhưng năm 1997 sản lượng cá biển nuôi đạt 600 nghìn tấn đứng đầu thế giới về
năng suất và sản lượng.
Trong năm 1975 sản lượng NTTS trên thế giới chỉ đạt 9 triệu tấn, chiếm
khoảng 10 % tổng sản lượng thủy sản (88 triệu tấn), nhưng trong năm 1995 sản lượng
NTTS thế giới đạt 31 triệu tấn, chiếm 25 % tổng sản lượng thủy sản, 124 triệu tấn.
Trung Quốc mới phát triển nuôi cá khoảng 10 năm gần đây nhưng đã đạt
nhiều thành tựu trong nghiên cứu và sản xuất. Đến cuối năm 1997 Trung Quốc đã
nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất giống của nhiều loài cá biển. Giống cá
biển từ các trại sản xuất nhân tạo đã được đưa vào nuôi trên 3 triệu lồng, sản lượng
năm 1997 đạt hàng chục ngàn tấn.
Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nuôi biển nói chung và nuôi cá nói
riêng. Do đặc điểm: Bờ biển dài 3.260 km, với nhiều eo, vũng vịnh kín gió, nhiều
đầm phá rộng lớn là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển NTTS, đặc biệt là
nuôi biển, trong đó nuôi cá biển ngày càng được chú trọng. Một số loài cá có giá trị
kinh tế đã và đang được nuôi hiện nay như: cá mú (Epinephelus spp), cá giò
(Rachycentron canadum), cá chẽm (Lates calcariper), cá cam (Seriola spp), cá hồng
(Lutijanus erythropterus)…Tuy nhiên nguồn giống chủ yếu thu từ tự nhiên và nhập
ngoại, số lượng và chất lượng không ổn định. Tính bền vững của việc cung cấp giống
trong sự phát triển dài hạn sẽ trở ngại lớn đối với nghề nuôi cá biển.
2
Đã từ lâu người dân Duyên hải Bắc Bộ truyền miệng rằng “chim, thu, nhụ,
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hà
3
PHẦN I. TỔNG QUAN
1.1Tình hình nuôi cá biển trên thế giới.
Nghề nuôi biển trên thế giới bắt đầu phát triển từ những năm 70, đối tượng
nuôi chủ yếu là cá hồi, cá cam, cá mú, cá chẽm… .Hầu hết các đối tượng trên đã sản
xuất được con giống nhân tạo, còn nhiều đối tượng vẫn chưa sản xuất được con
giống nên vẫn dựa vào nguồn giống khai thác từ tự nhiên. Lĩnh vực này đang phát
triển mạnh, trên thế giới chia thành 4 khu vực có nghề nuôi cá biển phát triển mạnh
nhất hiện nay; Tây Bắc Âu, Địa Trung Hải, Đông Á, Đông Nam Á [7].
1.1.1 Khu vực Tây Bắc Âu.
− Đây là khu vực đứng đầu thế giới về nuôi cá biển xuất khẩu cả về sản lượng,
trình độ khoa học công nghệ, hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Đặc điểm nổi
bật của nghề nuôi cá biển ở Tây Bắc Âu là chọn đúng đối tượng có nhu cầu cao và
luôn tăng lên không chỉ ở châu Âu mà còn trên phạm vi thế giới. Đó là cá hồi đại tây
dương (Salmo salar). Kết quả to lớn của các nước như Na Uy, Anh, Pháp, Đa
Mạch… thu được, đã cổ vũ nhiều quốc gia ở các khu vực khác học tập và phát triển
có hiệu quả.
− Năm 1981, sản lượng cá hồi ở Na Uy chỉ đạt 8.000 tấn. Năm 1998, chỉ tính
riêng sản lượng cá hồi đại tây dương đã đạt 340.000 tấn (Hject, 2000). Sự thành công
của nghề nuôi cá hồi công nghiệp ở Na Uy đã thúc đẩy nghề nuôi cá biển trên thế
giới
− Theo thống kê của FAO, giai đoạn từ năm 1988 - 1997 sản lượng cá nước mặn
và lợ trên toàn thế giới hàng năm tăng trên 10 %. Năm 1997 sản lượng đạt 2 triệu tấn,
trị giá 8 tỷ USD, trong đó sản lượng cá hồi đại dương chiếm ưu thế đạt 640.000 tấn
(Hambrey, 2000).
1.1.2 Khu vực Địa Trung Hải.
− Nghề nuôi cá vược xuất khẩu của Hy Lạp nhanh chóng thu được kết quả ngoài
mong đợi, châm ngòi cho sự bùng nổ lĩnh vực này ra toàn khu vực ven Địa Trung
hiện thực.
5
1.1.4 Khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
− Đây là khu vực có nghề nuôi cá biển sớm nhất và cho sản lượng lớn nhất (ước
tính khoảng 1 triệu tấn/năm). Các loài cá mú, cá hồng, cá giò, cá chẽm, cá măng, cá
tráp là những đối tượng nuôi phổ biến ở Thái Lan, Malaysia, Philippine, Ấn Độ, Đài
Loan, Trung Quốc và Việt Nam.
− Từ những năm 50 Trung Quốc và Đài Loan đã tiến hành nghiên cứu sinh sản
nhân tạo cá biển. Loài đầu tiên là cá đối, cá bơn, cá tráp đỏ. Từ những năm 80 đến
giữa những năm 90 họ đã cho sinh sản nhân tạo thành công trên 40 loài cá biển, trong
đó có 20 loài đã đạt trình độ sản xuất hàng loạt cung cấp con giống cho nuôi thương
phẩm. Hiện nay, một số nước trên thế giới có nền công nghiệp nuôi cá biển phát triển
như: Nhật Bản, Mỹ, Na Uy đạt năng suất và sản lượng nuôi rất lớn.
− Để hạn chế những tác động bất lợi của môi trường từ việc mở rộng diện tích
các hình thức nuôi trong ao, Đài Loan đã tập trung phát triển nuôi cá lồng trên biển.
Năm 2000, có khoảng 15.000 lồng với các kích cỡ khác nhau được đặt ở ven biển và
ngoài khơi, trong đó trên 80 % lồng để nuôi cá giò (Rachycentron canadum). Ngoài
ra, một số loài nuôi chính là cá mú chấm cam, cá hồng, cá tráp đỏ, cá chim vây vàng.
Năm 1990, sản lượng chỉ đạt 103 tấn, năm 1997 sản lượng tăng gấp 7 lần, đạt 873 tấn
và đến năm 1998 tăng gấp 3 lần, đạt 2.673 tấn, trong đó cá giò chiếm ½ tổng sản
lượng với trị giá từ 5 - 6 USD/kg, nghề nuôi cá giò ở Đài Loan đang có triển vọng
lớn và là nguồn thu ngoại tệ chính (M. S. SU và ctv, 2000).
− Thái Lan có nghề nuôi cá biển đã phát triển hơn 2 thập kỷ qua, sản lượng tăng
và ổn định. Đối tượng chính là cá chẽm và cá mú. Sản lượng cá chẽm và cá mú năm
1996 là 2.998 tấn và 723 tấn.
Ngoài ra, Australia có lịch sử nghề nuôi cá biển trên 2 thập kỷ qua và đã đạt
được những thành tựu đáng kể. Đối tượng nuôi chính là cá hồi đại dương và cá ngừ
vây xanh sản lượng 12.000 tấn, đạt khoảng 150 triệu USD hàng năm. Ngoài ra một
số loài cá hồi, cá hồng, cá tráp đen cũng đang được nuôi lồng trên biển với sản lượng
đạt 11,8 tấn năm 1998 (Gooley và ctv, 2000). Với tốc độ phát triển hiện nay, dự kiến
7
nghành kinh tế mũi nhọn, cần tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề như: con
giống, thức ăn, kỹ thuật nuôi, môi trường, đặc biệt là công nghệ sản xuất giống nhân
tạo.
1.3 Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sản xuất giống cá chim vây vàng.
1.3.1 Hệ thống phân loại.
Nghành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Carangidae
Giống: Trachinotus
Loài: Trachinotus blochii Lacepede, 1801
− Tên tiếng việt: cá chim vây vàng, cá sòng mũi hếch, cá chim trứng [2].
− Tên tiếng anh: Snub - noes pompano [13].
1.3.2 Đặc điểm hình thái.
Cơ thể hơi tròn, cao và bề bên dẹp chính giữa lưng hình vòng cung. Trên
đường bên vẩy sắp xếp khoảng 135 - 136 cái, chiều dài so với chiều cao 1,6 - 1,7 lần,
so với chiều cao đầu 3,5 - 4 lần, cuống đuôi ngắn và dẹp. Đầu nhỏ, chiều cao đầu lớn
hơn chiều dài, môi tù về phía trước. Lỗ mũi mỗi bên 2 cái gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ
hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục.
Hình 1.1: Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii)
8
Miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi, hàm trên và dưới có răng nhỏ hình lông,
răng phía sau dần thoái hóa, lưỡi không có răng. Rìa phía trước xương nắp mang hình
cung tương đối to, rìa sau cong. Bộ phận đầu không có vảy, cơ thể có nhiều vẩy tròn
nhỏ dính dưới da. Vây lưng thứ 2 và vây hậu môn có vẩy phía trước đường bên hình
cung cong tròn tương đối lớn, trên đường bên vảy không có gờ, vây lưng thứ một
hướng về phía trước, gai bằng và có 5 - 6 gai ngắn. Cá giống giữa các gai có màng
liền nhau, cá trưởng thành màng thoái hóa thành những gai tách rời nhau. Vây lưng
thứ 2 có 1 gai và 19 - 20 tia vây, phần trước của vây kéo dài hình như lưỡi liềm. Vây
nhỏ, tôm tép băm nhỏ, thức ăn tổng hợp [14]. Cá trưởng thành ăn tôm nhỏ và thức ăn
công nghiệp hoặc hoàn toàn thức ăn công nghiệp trong nuôi thương phẩm [6].Trong
điều kiện môi trường nước bình thường cá chim vây vàng có cường độ bắt mồi thay
đổi theo nhiệt độ nước (Lâm Cẩm Tôn, 1995). Những động vật thân mềm sống ở cát
và các loài động vật không xương sống khác là thức ăn tự nhiên chính của loài này
(Bianchi. G, 1985).
Theo Nur. Muflich Juniyanto, Syamsul Akbat and Zakimin (2008), thức ăn
cho các giai đoạn được sử dụng như sau: Giai đoạn nuôi vỗ cá bố mẹ được cho ăn cá
tạp, hỗn hợp thức ăn viên, vitamin E và vitamin tổng hợp. Khẩu phần cho ăn 3 - 5 %
khối lượng thân. Ấu trùng được cho ăn thức ăn tươi sống (luân trùng, nauplius
-Artemia) và thức ăn tổng hợp. Luân trùng được cho cá ăn vào ngày thứ 3 đến ngày
thứ 14, mật độ từ 5 - 15 con/mL, cho ăn ngày 3 lần (sáng, trưa, chiều). Từ ngày thứ
10 thức ăn viên được bổ sung vào cùng với luân trùng, cỡ hạt 200 – 300 µm.
Nauplius - Artemia được đưa vào ngày thứ 14 với mật độ 0,25 con/mL. Đến ngày thứ
15 dừng cho cá ăn luân trùng và lượng thức ăn viên được tăng dần (1 – 2h/lần). Ngày
10
18 lượng Artemia cũng phải được tăng lên 0,5 con/mL và dừng cho ăn ở ngày 22. Cá
giống sử dụng thức ăn viên kích cỡ hạt phụ thuộc vào cỡ miệng của cá. Tổng lượng
thức ăn viên được sử dụng trong 1 ngày là 1 kg/4,2 vạn cá, đặc biệt là ngày thứ 30 [17].
1.3.5 Đặc điểm sinh trưởng.
Cá chim vây vàng có kích thước tương đối lớn, kích thước có thể đạt 45 - 60
cm. Cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường 1 năm đạt 0,5 - 1 kg/con.
Từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm khối lượng tăng tuyệt đối là 1 kg.
Theo Trương Bang Kiệt (2001): Thử nghiệm ương nuôi cá giống, thời kỳ đầu
cá sinh trưởng chậm cá dài 2,6 cm với khối lượng 0,52 g. Qua 192 ngày nuôi cá dài
9,9 cm đạt khối lượng 20,53 g. Bình quân ngày khối lượng tăng 0,6 g và hệ số sinh
trưởng trung bình ngày 1,04 % [6]. Trong điều kiện nhân tạo cá 1 ngày tuổi có chiều
dài 0,2 cm, sau 30 - 35 ngày ương đạt chiều dài 3,4 cm [17].
1.3.6 Đặc điểm sinh sản.
Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau
so với mặt phẳng nằm ngang. Lúc đầu sự hình thành sắc tố không đồng
loạt: mắt, ống tiêu hóa, huyệt và vây đuôi trong suốt. Ba ngày sau khi nở noãn hoàng
hầu như được sử dụng hết và giọt dầu còn không đáng kể. Ở giai đoạn này miệng mở
ra và hàm bắt đầu cử động, luân trùng (Rotifer) đã được làm giàu làm thức ăn cho ấu
trùng cá Chim vây vàng, cung cấp vào bể ương từ cuối ngày thứ 2 sau khi cá nở.
Quan sát thấy rằng chỉ những cá hương khẻo mạnh (giai đoạn 20 - 30 ngày tuổi) mới
bơi lội cử động. Ở giai đoạn 30 - 60 ngày tuổi chiều dài trung bình của cá 2 - 5 cm.
Giai đoạn này cá đã gần hoàn thiện các cơ quan vây lưng, gai và tia vây….
1.4 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cá chim vây vàng trên thế giới và
Việt Nam.
1.4.1 Thế giới.
− Ở Đài Loan (1986): Lâm Liệt Đường đã thu gom 126 cá chim vây vàng có
kích cỡ không đồng đều nuôi chung với nhau. Năm 1989 bắt đầu thực nghiệm cho
sinh sản nhân tạo, qua 5 lần tiêm kích dục tố thì có 4 đợt cá đẻ, tổng số trứng thụ tinh
là 500 vạn. Qua nhiều hình thức thực nghiệm ương nuôi cuối cùng thu được 38,6 vạn
giống, kích cỡ 2 - 3 cm. Đây là lần đầu tiên sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng thành
công ( Lê Phúc Tổ, 2005).
Năm 1993 Trung tâm chuyển giao công nghệ ĐH Trung Sơn kết hợp với
Trạm nghiên cứu Thủy sản Quảng Đông - Trung Quốc cho sinh sản nhân tạo thành
công cá chim vây vàng, ương nuôi ấu trùng trong bể xi măng với quy mô nhỏ. Đến
năm 1998, Trung tâm kết hợp với công ty TNHH giống Thủy sản Thắng Lợi - Hải
Nam - Trung Quốc thành công sản xuất giống nhân tạo trên quy mô lớn, ương nuôi
ấu trùng trong ao đất.
12
Hiện nay, Trung tâm phát triển biển Batam (Indonesia) đã thành công việc cho
sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng. Đã chủ động về nguồn giống và không phụ
thuộc vào nguồn giống từ tự nhiên. Tỷ lệ nở 65 – 75 %, tỷ lệ sống từ lúc nở đến 22
ngày tuổi đạt 20 – 25 % [16], [17].
1.4.2 Việt Nam.
− Ở Việt Nam, năm 2006 - 2007 trại NTTS Thực nghiệm Yên Hưng (Trường
621,23 ± 2,55 g và NT2 (2,5 con/m
2
) cá có chiều dài trung bình đạt 29,24 ± 0,142 cm
13
và khối lượng đạt 593,37 ± 2,6 g. Kết quả ban đầu cho thấy không có sự khác biệt về
sinh trưởng và tỷ lệ sống giữa 2 mật độ nuôi (P ≥ 0,05). Cá chim vây vàng phàm ăn,
sống thành bầy đàn trong ao, sinh trưởng nhanh, ít bị bệnh và tỷ lệ sống cao [1].
− Hội đồng Khoa Học và Công Nghệ Khánh Hòa đã thông qua đề cương đề tài
“Thử nghiệm sản xuất giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)
tại Khánh Hòa” do PGS.TS Lại Văn Hùng (Trường ĐH Nha Trang) làm chủ nhiệm
đề tài. Đề tài thực hiện trong 24 tháng (2009 - 2011). Trường CĐ Thủy sản Bắc Ninh
đã thực hiện dự án “Nhập công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng” nhưng số
lượng con giống sản xuất ra còn ít, không đáp ứng đủ nhu cầu nuôi. Mặt khác công
nghệ sản xuất giống này còn khó kiểm soát dịch bệnh, môi trường nuôi nên tỷ lệ sống
của cá ương cũng sẽ không ổn định và khó áp dụng vào các trại sản xuất giống hải
sản mà không có hệ thống ao nuôi thức ăn tươi và ương cá giống [12]. Khánh Hòa có
điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất và phát triển nghề nuôi cá chim vây vàng.
Hiện nay nguồn giống cá chim vây vàng ở tỉnh Khánh Hòa phải nhập từ Trung Quốc
và Đài Loan nên giá cả đắt và không ổn định, tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi
thấp do ảnh hưởng của quá trình vận chuyển và không thích ứng được với môi trường
mới. Trên cơ sở sử dụng những biện pháp kỹ thuật tổng hợp, đề tài sẽ tiếp cận, kế
thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu về sinh học, kỹ thuật sản xuất giống cá
chim vây vàng trên thế giới và Việt Nam để nghiên cứu đề xuất 2 quy trình: Quy
trình sản xuất nhân tạo giống cá chim vây vàng, quy trình ương nuôi cá giống (đạt
kích thước 4 - 5 cm) phù hợp với điều kiện của Khánh Hòa. Kết quả nghiên cứu
thành công của đề tài sẽ giúp cho Khánh Hòa chủ động cung cấp giống cá chim vây
vàng cho người nuôi ở Khánh Hòa và các tỉnh lân cận.
Tóm lại cá chim vây vàng là loài mới được nghiên cứu ở Việt Nam có nhiều
ưu điểm như: rất háu ăn, tốc độ tăng trưởng nhanh, cá sống trong điều kiện rộng
muối (3 - 33 ppt), giá thương mại cao, thị trường xuất khẩu rộng…Do đó cá chim vây
quản lý
và chăm
sóc
Theo
dõi tốc
độ tăng
trưởng,
tỷ lệ
sống và
thu
hoạch
Kết luận và đề xuất ý kiến
15
Hình 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng và
tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn cá hương lên cá giống.
− Cá chim vây vàng được ương trong bể xi măng hình vuông có thể tích 4,5 m
3
.
Khi cá ương được 35 ngày tuổi thì tiến hành phân cỡ để lọc những con cá to đem
ương riêng, số cá nhỏ thì nuôi một bể khác.
− Thí nghiệm: Khi cá được 35 ngày tuổi tiến hành bố trí thí nghiệm gồm 3 nghiệm
thức, mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp, ương trong xô nhựa có thể tích 15 L nước, mật
độ 2 con/L. Chế độ chăm sóc và quản lý ở các nghiệm thức là như nhau. Định kỳ 7
ngày xác định tốc độ tăng trưởng 1 lần.
+ Nghiệm thức 1: Cho ăn hoàn toàn thức ăn tổng hợp NRD, ngày cho ăn 4 lần/ngày
(7h, 11h, 14h, 17h), tỷ lệ cho ăn là 10 % khối lượng thân.
+ Nghiệm thức 2: Cho ăn hoàn toàn cá tạp băm nhỏ, ngày cho ăn 3 lần/ngày (7h,
11h, 15h), tỷ lệ cho ăn là 50 - 60 % khối lượng thân.
Nghiệm
thức 1
0,01.
− Độ kiềm đo bằng test độ kiềm, chính xác đến 17 mgCaCO
3
/L.
− Độ mặn của nước đo bằng tỷ trọng kế, chính xác đến 1 ppt.
− pH được đo bằng test pH, chính xác đến 0,3.
Xác định một số chỉ tiêu nuôi cá.
− Cân khối lượng cơ thể cá bằng cân điện tử, chính xác đến 0,01 g.
− Đo chiều dài cơ thể cá bằng giấy kẻ ô ly kỹ thuật, chính xác đến 1 mm.
− Cân thức ăn bằng cân đồng hồ, chính xác đến 2 g..
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu.
− Tỷ lệ cho ăn (K):
K =
100
2
1
×
W
W
(%)
W1: Khối lượng thức ăn cho đàn cá sử dụng trong một ngày.
W2: Tổng khối lượng thân đàn cá.
- Tính hệ số thức ăn (FCR):
FCR =
WW
W
caca
t
12
−
L
1
: Chiều dài cá (cm) kiểm tra lần trước tại thời điểm t
1
.
L
2
: Chiều dài cá (cm) kiểm tra lần sau tại thời điểm t
2
.
- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình ngày về khối lượng của cá (DWG):
DWG =
12
12
tt
WW
−
−
(g/ngày)
W
1
: Khối lượng cá trung bình (g) lần kiểm tra trước tại thời điểm t
1
.
W
2
: Khối lượng cá trung bình (g) lần kiểm tra sau tại thời điểm t
2
.
− Tốc độ sinh trưởng tương đối của chiều dài cá tính theo ngày (SGR
−
−
tt
LnWLnW
(%/ngày)
W1: Khối lượng trung bình cá của lần kiểm tra tại thời điểm t
1
.
W2: Khối lượng trung bình cá của lần kiểm tra tại thời điểm t
2
.
18
− Tốc độ tăng trưởng tương đối % theo chiều dài cá (L
L
):
L
L
=
100
1
12
×
−
L
LL
(%)
L
1
: Chiều dài trung bình cá của lần kiểm tra tại thời điểm t
1
− Số liệu được xử lý dựa vào phương pháp thống kê sinh học, phần mềm Excel.
Giá trị trung bình của dãy số liệu: AVERAGE (Range).
Độ lệch chuẩn: STDEV ( Range).
Phương sai mẫu: VAR (Range).
− Sai số chuẩn:
SE =
n
S
S =
( )
∑
−
=
−
n
i
X
X
i
n
1
2
1
1
− Hệ số phân đàn (C
V
).
C
V
=
Hình 3.4: Sơ đồ bố trí xô thí nghiệm Hình 3.5: Thức ăn cá tạp