NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MAN TRÊN NỀN MẠNG VIỄN THÔNG BƯU ĐIỆN NGHỆ AN - Pdf 14

=1=
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Sự phát triển chóng mặt của công nghệ viễn thông đang mang lại những bước
đột phá trong nghành thông tin liên lạc đặc biệt là sự hội tụ giữa công nghệ thông
tin và viễn thông – Giao thức Internet (Internet Protocol) đang bùng nổ trong lĩnh
vực thông tin tại các nước phát triển và đang phát triển. Việc tích hợp đa dịch vụ
trên một mạng thống nhất là xu hướng tất yếu nhằm đem lại cho khách hàng những
dịch vụ với tiện ích “3 trong 1” Triple play: Voice-Data-Video. Để có thể chuyển
tải những gói dịch vụ “khổng lồ” nêu trên, người ta đã phải suy nghĩ đến việc xây
dựng những xa lộ thông tin cao tốc. Vì vậy, việc nghiên cứu công nghệ mạng và
dịch vụ băng rộng hiện đang trở thành cao trào tại nhiều quốc gia phát triển và đang
phát triển. Với những đặc điểm ưu việt, tiên tiến, dịch vụ băng rộng mang lại rất
nhiều tiện ích , đáp ứng hợp lý nhu cầu sử dụng của từng đối tượng khách hàng
như: Cá nhân, doanh nghiệp, nhà nước, Tuy nhiên, để có thể triển khai công nghệ
mạng và dịch vụ băng rộng, mạng viễn thông hiện hữu không thể đáp ứng mà cần
có sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mạng lõi – mạng truy nhập thích hợp theo xu
hướng tích hợp công nghệ, tiến tới xây dựng mạng NGN trong khu vực và toàn
quốc.
Với những tiền đề nêu trên, học viên quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu ứng
dụng công nghệ MAN trên nền mạng viễn thông Bưu điện Nghệ An” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp với hy vọng đóng góp một phần trong việc triển
khai mạng đô thị trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008-2010.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Luận văn gồm 4 chương bắt đầu bằng việc giới thiệu về xu hướng phát triển
thị trường, dịch vụ và công nghệ MAN, tiếp đến là phân tích nêu ưu, nhược điểm,
khả năng ứng dụng và so sánh giữa các công nghệ, cuối cùng là đề xuất xây dựng
một mạng MAN của tỉnh Nghệ An cho giai đoạn 2008-2010, các đề xuất, khuyến
nghị của đề tài và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo.
=2=
Chương I giới thiệu về xu hướng phát triển thị trường, dịch vụ, công nghệ

(MAN-METROPOLITAN AREA NETWORK)
1.1. Xu hướng phát triển thị trường mạng đô thị
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh về kinh tế, xã hội và văn hoá
trong môi trường các đô thị và thành phố lớn nên nhu cầu trao đổi thông tin là rất
lớn, đa dạng cả về loại hình dịch vụ, tốc độ. Với sự hình thành và phát triển bùng nổ
các tổ hợp văn phòng, khu công nghiệp, công nghệ cao, các khu chung cư thêm
vào đó các dự án phát triển thông tin của chính phủ, của các cơ quan, các công ty
làm cho nhu cầu trao đổi thông tin như trao đổi tiếng nói, dữ liệu, hình ảnh, truy
nhập từ xa, truy nhập băng rộng, tăng dẫn đến nhiều vấn đề cần phải giải quyết.
Các mạng nội bộ LAN (Local Area Network) chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu
trao đổi thông tin với phạm vi địa lý rất hẹp (trong khoảng vài trăm mét). Trong khi
đó nhu cầu kết nối với mạng bên ngoài (truy nhập Internet, truy nhập cơ sở dữ liệu,
kết nối chi nhánh văn phòng, ) là rất lớn. Điều này dẫn đến việc cơ sở hạ tầng
thông tin hiện tại với công nghệ TDM (chuyển mạch kênh PSTN, công nghệ SDH)
sẽ rất khó đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin rất lớn như vậy cả về loại hình dịch vụ
và cường độ lưu lượng trao đổi thông tin. Do vậy việc tìm kiếm công nghệ để xây
dựng một cơ sở hạ tầng mạng đô thị (MAN) đáp ứng được yêu cầu trao đổi thông
tin nói trên là công việc cấp thiết đối với những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông
trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Trong vài năm trở lại đây các nhà khai thác mạng viễn thông có khuynh
hướng tập trung đầu tư xây dựng mạng đường trục (backbone) để đáp ứng yêu cầu
băng thông truyền tải cho lưu lượng bùng nổ của Internet. Hiện nay khuynh hướng
phát triển mạng đã có sự thay đổi, người ta tập trung sự chú ý đến việc xây dựng
mạng nội vùng, nội hạt nói chung và mạng MAN tại các đô thị, thành phố nói riêng,
nơi cần thiết phải đầu tư xây dựng, tổ chức lại để có thể đáp ứng được nhu cầu đa
dạng hoá dịch vụ của người sử dụng, đưa dịch vụ đến gần với khách hàng hơn, đảm
bảo việc kết nối với khách hàng “mọi nơi, mọi lúc, mọi giao diện”.
=4=
Không giống như mạng đường trục, nơi có khuynh hướng hội tụ các loại hình
lưu lượng truyền tải về loại hình giao thức truyền tải phổ biến nhất là IP/MPLS

xây dựng trên cơ sở các giải pháp sử dụng hệ thống truyền dẫn SONET và SDH với
các cấu trúc mạng đặc thù là các cấu trúc Ring. Do giải pháp công nghệ truyền dẫn
SONET/SDH không hiệu quả đối với số liệu dạng gói và không có những chức
năng quản lý băng thông một cách mềm dẻo nên hiệu suất sử dụng băng thông là
không cao và khó triển khai một số chức năng định tuyến cũng như một số dịch vụ
cơ sở được kiến tạo trong công nghệ chuyển mạch gói. Một giải pháp công nghệ
mạng điển hình hiện nay là phương thức truyển tải lưu lượng dạng
IP/ATM/SDH/WDM. Theo phương thức này thì công nghệ IP và ATM có thể đưa
lại cho nhà khai thác dịch vụ những khả năng thiết lập dịch vụ và điều khiển băng
thông khá mềm dẻo và hiệu suất sử dụng băng thông cao nhưng chi phí cho việc
xây dựng mạng là khá cao, phức tạp về mặt quản lý.
Nói tóm lại, việc xây dựng mạng MAN dựa trên cơ sở các công nghệ truyền
thống sẽ không có khả năng cung cấp các dịch vụ, băng thông cho khách hàng một
cách đa dạng, linh hoạt và mềm dẻo cũng như không đáp ứng được những yêu cầu
về hiệu suất khai thác và tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng mạng như nhà khai thác
mạng mong muốn.
1.2. Xu hướng phát triển công nghệ và dịch vụ của mạng đô thị
Xu hướng các công nghệ được lựa chọn áp dụng để xây dựng mạng MAN thế
hệ mới chủ yếu tập trung vào 6 loại công nghệ chính, đó là:
- IP/ATM
- SONET/SDH-NG.
- Ethernet/Giagabit Ethernet (GbE).
- RPR.
- WDM.
- Chuyển mạch kết nối MPLS/GMPLS.
Các công nghệ nói trên này được xây dựng khác nhau cả phạm vi và các
phương thức mà chúng sẽ được sử dụng. Trong một số trường hợp, các nhà cung
=6=
cấp cơ sở hạ tầng lại triển khai cùng một công nghệ cho các ứng dụng khác nhau.
Ví dụ, GbE có thể được sử dụng để cung cấp năng lực truyền tải cơ sở hoặc để cung

+ Extranet
+ LAN kết nối đến các tài nguyên mạng (các thành viên của mạng LAN có thể
truy nhập trung tâm dữ liệu từ xa).
1.3. Kết luận
Là một thị trường mới, MAN đang là một mảnh đất tiềm năng đối với các nhà
khai thác và cung cấp mạng. Trong đó, sự phát triển về lưu lượng số liệu và kết nối
băng rộng, và sự hội tụ dịch vụ là những yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển của
mạng MAN. Tuy nhiên, mạng MAN hiện nay đang có xu hướng ngày càng khó
quản lý do sự thay đổi theo hướng chuyển từ lưu lượng định hướng kênh sang lưu
lượng định hướng gói trong các mạng ngày nay.
Để giải quyết những khó khăn hiện nay của mạng MAN cũ được xây dựng
trên nền SONET/SDH, đáp ứng những nhu cầu về phát triển dịch vụ, các nhà cung
cấp cơ sở hạ tầng mạng đã tìm đến những giải pháp công nghệ mới. Đó là:
SONET/SDH-NG, Ethernet, RPR, WDM/DWDM, chuyển mạch MPLS/GMPLS.
Tất cả các các công nghệ mới này đều rất khác nhau cả về phạm vi và các phương
thức mà chúng sẽ được sử dụng. Các nhà khai thác mạng có xu hướng kết hợp một
số loại công nghệ trên cùng một mạng của họ và phần lớn các trường hợp được tổng
kết đã sử dụng các kiến trúc hỗn hợp, ít nhất là trong giai đoạn chuyển đổi nhằm:
Cắt giảm các chi phí, giảm thời gian cung cấp, đối phó với sự tăng nhanh chóng lưu
lượng gói, tăng lợi nhuận từ các dịch vụ mới, đẩy mạnh hiệu suất khai thác mạng.
Bên cạnh việc tìm kiếm những giải pháp công nghệ mới, các nhà cung cấp
cũng không ngừng phát triển các sản phẩm mạng, trong đó chú ý nhất hiện này là
công nghệ MSPP. MSPP tích hợp các công nghệ SDH, Ethernet, MPLS, VPN, IP
và băng rộng để cung cấp các dịch vụ dữ liệu khác nhau một cách kinh tế và hiệu
quả nhất [ICT news].
=8=
CHƯƠNG II
CÁC CÔNG NGHỆ SỬ DỤNG TRONG MẠNG ĐÔ THỊ
2.1. Công nghệ truyền dẫn
2.1.1. Công nghệ IP/ATM-MAN

kênh chuyển mạch ảo (SVC) linh hoạt, tất cả nằm trong luồng ảo (VP). Hoặc cũng
có thể sử dụng phương pháp ghép kênh thống kê cho phép người sử dụng có thể
truy cập băng tần phụ trong một khoảng thời gian ngắn. Điều này đảm bảo băng tần
tùy ý và cố định từ 1Mbps đến vài trăm Mbps cho các khách hàng khác nhau. Ngoài
ra, với tính hạt mịn của băng tần có thể cho phép các bộ định tuyến IP kết nối logic
dạng Mesh một cách dễ dàng, do trễ được giảm thiểu giữa các bộ định tuyến trung
gian. Một lợi điểm khác của việc sử dụng giao thức ATM là khả năng thực hiện các
hợp đồng lưu lượng khác nhau với nhiều mức chất lượng dịch vụ tùy theo ứng dụng
yêu cầu. Đối với lưu lượng IP (thực chất là phi kết nối) mạng ATM sẽ chủ yếu sử
dụng hợp đồng lưu lượng UBR (tốc độ bit không xác định). Tuy nhiên, nếu các ứng
dụng IP nào đó yêu cầu mức QoS riêng, đặc biệt với các ứng dụng thời gian thực
cần sử dụng năng lực chuyển giao khác như tốc độ bit không đổi (CBR) hoặc VBR-
rt. Tuy nhiên khi sắp xếp các gói IP có độ dài biến thiên vào các tế bào ATM có độ
dài cố định chúng ta phải cần đến phần mào đầu phụ (do gói một gói IP có thể cần
đến nhiều tế bào ATM), và đây được gọi là thuế tế bào. Sự khác biệt về kích thước
cũng tạo ra yêu cầu lấp đầy khoảng trống trong các tế bào mà có phần mào đầu phụ.
Một giải pháp để ngăn chặn yêu cầu trên là sắp xếp các gói trực tiếp liền kề nhau,
nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc tăng rủi ro mất hai gói liền nhau khi tế
bào bị mất.
=10=
OADM
OADM
OADM
OADM
ATM
switch
IP
router
IP
router

Diễn đàn ATM đã định nghĩa một tập hợp đầy đủ các nội dung liên quan đến
lưu lượng ATM trong khi ITU-T cũng đã định nghĩa năng lực lưu lượng và phân
lớp QoS của ATM. Do có những đặc tính như vậy nên công nghệ ATM trở thành lý
tưởng cho mạng đa dịch vụ. Tuy nhiên, hiện có một trở ngại đó là ứng dụng ATM
=11=
cho PC rất hiếm cũng giống như những ứng dụng hỗ trợ trực tiếp từ ATM. Ngày
nay, phần lớn PC và các ứng dụng đều hỗ trợ IP nên cần sắp xếp giữa IP và các địa
chỉ ATM, giữa IP và CoS hoặc QoS ATM.
2.1.1.5. Đánh giá ưu nhược điểm và khả năng ứng dụng của công nghệ
IP/ATM
a. Ưu điểm
- Phương thức chuyển mạch gói, các giao thức định tuyến áp dụng trong công
nghệ IP cho phép truyền tải lưu lượng với hiệu suất cao, tận dụng băng thông truyền
tải, do đó tiết kiệm được dung lượng kênh truyền dẫn.
- Phần lớn các phần mềm ứng dụng thực hiện trao đổi dữ liệu mạng liên kết
trong các sản phẩm máy tính cá nhân, máy chủ, các thiết bị định tuyến đều được
thiết kế để có thể chạy trên nên mạng IP. Đây là một lợi thế rất lớn của công nghệ
này.
- Các thuật toán định tuyến ứng dụng trong công nghệ IP cho phép trao đổi dữ
liệu trong mạng liên kết một cách mềm dẻo, linh hoạt.
- Công nghệ IP có khả năng tích hợp đa dịch vụ, dựa trên nền tảng giao thức
IP, người sử dụng có thể kiến tạo rất nhiều các ứng dụng, các loại hình dịch vụ khác
nhau và các dịch vụ gia tăng trên nền tảng của các ứng dụng cơ bản được cung cấp
bởi mạng IP.
- ATM thực hiện chuyển mạch/ghép kênh thống kê do đó đạt được hiệu suất
sử dụng băng thông truyền tải lớn.
- Công nghệ ATM có khả năng tích hợp truyền tải nhiều loại hình dịch vụ có
đặc tính lưu lượng khác nhau để truyền tải trên cùng một tiện ích truyền dẫn.
- ATM có khả năng đảm bảo chất lượng dịch vụ theo yêu cầu đối với các ứng
dụng đòi hỏi chất lượng dịch vụ nghiêm ngặt

2,5 Gbps hoặc 10Gbps và có thể tích hợp tới 100 bước sóng trên một sợi quang cho
phép truyền dẫn dung lượng hàng trăm Gigabit trên một sợi quang. Các hệ thống
WDM tốc độ Terabits ghép trên một sợi quang đã được thử nghiệm trong các phòng
thí nghiệm trên thế giới và hứa hẹn nhiều ứng dụng trong thực tế. Có thể thấy rằng
=13=
giải pháp truyền dẫn kết hợp kỹ thuật WDM và TDM cho phép nâng hiệu suất sử
dụng băng tần sợi quang và dung lượng hệ thống lên rất cao, có thể đáp ứng được
nhu cầu về băng tần của hệ thống hiện tại cũng như trong tương lai với hiệu quả
cao. Do đó công nghệ ghép kênh theo bước sóng (WDM) đã trở thành một trong
những nhân tố chính góp phần đáp ứng sự đòi hỏi ngày càng lớn về băng tần của
các dịch vụ mạng và được sử dụng làm công nghệ mạng truyền dẫn chủ yếu của các
quốc qia trên thế giới.
Mạng WDM có thể thiết lập các cấu hình điểm nối điểm, ring và mesh. Việc
chuyển đổi hay nâng cấp giữa các cấu hình tương đối linh hoạt.
Để tối ưu hóa việc truyền tải số liệu dạng gói trên các tuyến WDM, có hai
phương pháp chủ yếu được áp dụng hiện nay là sử dụng IP/SDL trực tiếp trên
WDM và IP/Gigabit Ethernet/WDM.
2.1.2.2. Giải pháp IP/SDL trực tiếp trên WDM
Tuyến số liệu đơn giản (SDL) là một phương pháp lập khung do Lucent đề
xuất. So với HDLC, khung SDL không có cờ phân ranh giới thay vì đó nó sử dụng
trường độ dài gói tại điểm bắt đầu khung. Điều này rất thuận lợi ở tốc độ bit cao khi
thực hiện đồng bộ (rất khó thực hiện đối với dãy cờ). Định dạng SDL có thể đưa
vào trong tải SDH cho truyền dẫn WDM hoặc thiết bị SDH. Định dạng này cũng có
thể được mã hóa trực tiếp trên các sóng mang quang: SDL định rõ tính năng tối
thiểu đủ để thực hiện điều này.
SDL sử dụng 4 byte mào đầu gồm độ dài gói như biểu diễn trong hình 2.2, gói
có thể dài tới 65.535 byte. Các mã kiểm tra lỗi phụ (CRC-16 hoặc CRC-32) có thể
tùy lựa chọn sử dụng cho gói và nó có thể bị thay thế sau mỗi gói. Tất cả các bit trừ
mào đầu được trộn theo bộ trộn x
48

gian” có độ dài khung nhỏ nhất (chẳng hạn 512 bit đối với 10 Base-T và 100 Base-
T). Nếu tốc độ bit là 1Gbps mà sử dụng độ dài khung nhỏ nhất là 512 bit thì mạng
Ethernet chỉ đạt chừng 10m vì thế độ dài khung tối thiểu trong trường hợp này được
=15=
định nghĩa bằng 4096 bit cho Gigabit Ethernet. Điều này làm giới hạn kích thước
mạng trong phạm vi 100m. Tuy nhiên, kiểu hoàn toàn song công vẫn hấp dẫn trong
môi trường Gigabit Ethernet.
Khi Gigabit Ethernet (1000Base-X) sử dụng kiểu song công, nó trở thành một
phương pháp tạo khung và bao gói đơn giản, tính năng CSMA-CD không còn được
sử dụng. Chuyển mạch Ethernet cũng được sử dụng để mở rộng topo mạng thay thế
cho các tuyến điểm-điểm.
Hình 2.3 thể hiện quá trình truyền tải IP trên vòng ring WDM bằng khung
Gigabit Ethernet là 1500 byte nhưng có thể mở rộng lên đến 9000 byte (khung
Jumbo) trong tương lai. Tuy nhiên, kích thước tải lớn sẽ khó tương hợp với các
chuẩn Ethernet trước đây và hiện tại cũng chưa có chuẩn cho vấn đề này.
Hình 2.3: Mô hình mạng áp dụng giải pháp truyền Gigabit Ethernet trên WDM
Phần trống
12
Phần mào đầu 7
Phân định ranh giới bắt đầu 1
Địa chỉ đích 6
Địa chỉ nguồn 6
Độ dài khung 2
Trường điều khiển tuyến logic + tải tin
(độ dài tối đa 1500 byte)
.
.
Dãy kiểm tra khung 4
Tổng số mào đầu 38
Bảng 2.1: Phân bổ số lượng byte trong khung Gigabit Ethernet

=17=
tuyến IP và nó sẽ không ứng tác khi các phương pháp khác khôi phục lưu lượng
khác có kết quả trong phân vùng mạng. Khái niệm EtherChannel của Cisco bao
hàm phương pháp bảo vệ mà có khả năng khôi phục tính theo giây.
Sai hỏng nút WDM: Nếu trong trường hợp nút WDM sai hỏng và lại không có
phần dự phòng cho nút Ethernet thì dịch vụ sẽ bị mất. Để không gây gián đoạn dịch
vụ thì nút Ethernet cần được kết nối đồng thời tới một nút WDM khác. Các Host
gắn với nút Ethernet có thể được bảo vệ cũng theo cách giống như trường hợp đứt
cáp nếu OSMP không được sử dụng. Nếu sai hỏng thiết bị trong nút WDM thì nên
sử dụng bảo vệ OCh.
Bên cạnh đó tính năng P&R cho lớp Ethernet cũng áp dụng cho Gigabit
Ethernet, các bộ chuyển mạch định tuyến có chức năng khôi phục như các bộ định
tuyến gốc nhờ các giao thức định tuyến như RIP, OSPF và BGP.
2.1.2.4. Khả năng cung cấp dịch vụ của mạng dựa trên cơ sở công nghệ
WDM
Khả năng cung cấp dịch vụ của mạng WDM về thực chất dịch vụ cung cấp bởi
lớp mạng WDM sẽ là dịch vụ cung cấp các bước sóng để truyền tải mạng thông tin
giữa các nút thiết bị với các giao diện cụ thể (các giao diện quang hoặc giao diện
điện). Việc các thiết bị nút mạng sử dụng giao thức truyền tải nào để truyền tải
thông tin là phụ thuộc vào công nghệ áp dụng phía trên của lớp mạng WDM như đã
mô tả ở trên. Do đó các loại hình dịch vụ triển khai tới khách hàng sẽ quyết định bởi
công nghệ đó. Tuy nhiên mạng triển khai trên cơ sở công nghệ WDM sẽ có khả
năng cung cấp những dịch vụ có tính chất đặc thù. Trong số các dịch vụ được ứng
dụng, hai ứng dụng cơ bản nhất của công nghệ DWDM trong mạng MAN là trong
các lĩnh vực mạng SAN và mở rộng từ hạ tầng các mạng SONET/SDH.
2.1.1.5. Đánh giá ưu nhược điểm và khả năng ứng dụng của công nghệ
WDM
a. Ưu điểm
- Cung cấp các hệ thống truyền tải quang có dung lượng lớn, đáp ứng được
các yêu cầu bùng nổ lưu lượng của các loại hình dịch vụ.

=19=
+ Các lưu lượng truyền dữ liệu quảng bá: Trong các Ring SONET/SDH, việc
truyền các dữ liệu quảng bá chỉ có thể thực hiện được khi phía phát và tất cả các
điểm thu đều đã được xác lập kết nối logic. Các gói tin quảng bá được sao chép lại
thành nhiều bản và gửi đến từng điểm đích dẫn tới việc phải truyền nhiều lần cùng
một gói tin trên vòng ring. Điều này gây lãng phí lớn đối với băng thông của mạng.
+ Lãng phí băng thông cho việc bảo vệ mạng: Thông thường đối với các mạng
SONET/SDH 50% băng thông của mạng được dành cho việc dự phòng cho mạng.
Mặc dù việc dự phòng này là hết sức cần thiết nhưng các công nghệ SONET/SDH
truyền thống không cung cấp khả năng cho phép nhà cung cấp dịch vụ lựa chọn
lượng băng thông sử dụng cho việc dự phòng các sự cố.
Ngoài ra, khi sử dụng mạng SONET/SDH truyền thống để truyền các lưu
lượng Ethernet, ngoài các hạn chế trên thì còn có một yếu tố nữa là tốc độ của
Ethernet không tương đương với SONET/SDH. Điều này dẫn đến phải thiết lập các
tuyến kết nối của mạng SONET/SDH có tốc độ cao hơn so với của Ethernet, đó lại
là nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng băng thông của mạng lưới.
Ethernet SONET SDH
Tốc độ
truyền
Hiệu suất sử dụng băng
thông
10Mbps STS-1 VC-3 48,4Mbps 21%
100Mbps STS-3c VC-4 150Mbps 67%
1Gbps STS-28c VC-4-16c 2,4Gbps 42%
Bảng 2.2: Hiệu suất sử dụng băng thông khi truyền dịch vụ Ethernet qua mạng
SONET/SDH
Hình 2.4: Kết nối trong mạng SONET/SDH: a. Điểm nối điểm; b.Cấu hình mesh
=20=
2.1.3.2. Những đặc trưng của NG SONET/SDH.
Nhu cầu truyền tải các loại dịch vụ như IP, Ethernet, Fiber Channel,

ID
Informa
-
tion
Padding
FCS
01111110
11111111
00000011
1 or 2
bytes
Variable
Variable
2 or 4
bytes
PPP
Flag
01111110
Hình 2.5. Ngăn giao thức và khung POS
POS không sử dụng chức năng ghép kênh của SDH. Kết nối nhiều container
với nhau tạo ra một container đơn (mà tải được sắp xếp trong đó) và tốc độ giao
diện cao. Sự sắp xếp này cũng được biết dưới một tên gọi khác, đó là “kết chuỗi” tải
SDH.
b. Khả năng mở rộng
POS cung cấp kết nối hoàn toàn song công điểm-điểm giữa hai giao diện bộ
định tuyến, sử dụng khung SDH. Khả năng mở rộng không phải là vấn đề: liên kết
giữa hệ thống SDH và WDM là tuyệt vời và không có giới hạn thuộc bản chất về số
lượng nút. Tuy nhiên, có hai điểm cần quan tâm:
- Đối với các bộ định tuyến có giao diện SDH tốc độ bit cao hơn 155 Mbps,
các container ảo thường được kết chuỗi và truyền qua mạng SDH truyền thống sẽ

quang
Sai hỏng nút 4.3 ms 7.3 ms
Sai hỏng tín hiệu song hướng 5.2 ms 8.2 ms
Sai hỏng tín hiệu đơn hướng 5.8 ms 8.8 ms
Thăng giáng tín hiệu đơn hướng 7.7 ms 13.7 ms
Bảng 2.3. Thời gian chuyển mạch bảo vệ trong ring 7 nút
Trong kịch bản này, lớp IP chỉ thực hiện chức năng định tuyến. Ứng với các
tiêu chuẩn POS, các gói IP được thích ứng để truyền tải trong lớp SDH nhờ giao
thức PPP và khung tương tự như HDLC.
Lớp SDH có thể phân theo tính năng thành hai lớp: Lớp luồng và Lớp đoạn
(bao gồm Lớp đoạn ghép kênh và Lớp đoạn lặp). Do đó có hai lựa chọn thực thi:
- Mạng SDH thực sự với sự hiện diện của cả hai tính năng Lớp đoạn và Lớp
luồng.
=23=
- SDH xuất hiện chỉ với giao diện bộ định tuyến và do đó chỉ có tính năng lớp
đoạn được sử dụng.
Trong trường hợp đầu tiên, SDH cũng có thể thực hiện định tuyến luồng qua
thiết bị ADM hoặc DXC. Trường hợp này có thể áp dụng khi mạng SDH được xem
như lớp chủ cho mạng client khác và IP chỉ là một trong số chúng.
Trong trường hợp thứ hai, vai trò của SDH chỉ là cung cấp truyền dẫn điểm -
điểm các gói IP giữa các bộ định tuyến, do đó phải cần đến tính năng Lớp đoạn và
SDH bị bó trong các giao diện bộ định tuyến, nghĩa là không có thiết bị thuần tuý
SDH lắp đặt trong mạng. Trường hợp này điển hình cho mạng trục được tối ưu để
truyền tải IP. Trong mạng IP đường trục toàn bộ đoạn STM-n được sử dụng để
truyền tải băng rộng nhờ việc kết chuỗi các VC (VC-4c hoặc VC-16c).
e. Hỗ trợ VPN và QoS
Với một cấu trúc khung đơn giản dựa trên việc cân chỉnh byte, giảm thiểu byte
mào đầu nên GFP không có chức năng hỗ trợ cho VPN cũng như QoS.
GFP kết hợp với VCAT không thay làm đổi bản chất điểm-điểm của
SONET/SDH truyền thống. Đối với kết nối mesh của tín hiệu client yêu cầu

- Các giao diện truyền dẫn đã được chuẩn hóa và tương thích với nhiều thiết bị
trên mạng.
- Thuận tiện cho kết nối truyền dẫn điểm - điểm.
- Quản lý dễ dàng.
- Công nghệ đã được chuẩn hóa.
- Thiết bị đã được triển khai rộng rãi.
b. Nhược điểm
- Công nghệ SDH được xây dựng nhằm mục đích tối ưu cho truyền tải lưu
lượng chuyển mạch kênh, không phù hợp với truyền tải lưu lượng chuyển mạch gói.
- Do cấu trúc ghép kênh phân cấp nên cần nhiều cấp thiết bị để ghép tách,
phân chia giao diện đến khách hàng.
- Khả năng nâng cấp không linh hoạt và giá thành nâng cấp là tương đối đắt.
=25=
- Không phù hợp với tổ chức mạng theo cấu trúc Mesh.
- Khó triển khai các dịch vụ ứng dụng Multicast.
- Dung lượng băng thông giành cho bảo vệ và phục hồi lớn.
- Phương thức cung cấp kết nối phức tạp, thời gian cung ứng kết nối dài.
c. Khả năng ứng dụng.
Khả năng cung cấp dịch vụ của mạng SDH-NG về thực chất là cung cấp các
tuyến kết nối truyền dẫn quang giữa các nút mạng (sử dụng các giao diện quang
hoặc giao diện điện). Việc các thiết bị nút mạng sử dụng giao thức truyền tải nào để
truyền tải thông tin là phụ thuôc vào công nghệ áp dụng phía trên lớp mạng SDH
như đã mô tả ở trên (xem hình 2.6). Do đó các loại hình dịch vụ triển khai tới khách
hàng sẽ quyết định bởi công nghệ đó. Tuy nhiên mạng triển khai trên cơ sở công
nghệ SDH-NG có những khả năng cung cấp những dịch vụ có tính chất đặc thù.
Cụ thể, mạng truyền tải dựa trên công nghệ SDH-NG có thể cung cấp các loại
hình dịch vụ như đối với mạng SDH truyền thống, ngoài ra mạng tại các ADM của
thiết bị SDH-NG có thể cho phép cung cấp nhiều loại hình giao diện với tốc độ
khác nhau để kết nối với các thiết bị mạng NGN, chẳng hạn như: 622 Mbps (STM-
4), 2,5 Gbps (STM-16), 10 Gbps (STM-64), 40 Gbps (STM-128)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status