NGHIÊN CỨU PHƯƠNG ÁN TRIỂN KHAI DỊCH VỤ IPTV TRÊN MẠNG VIỄN THÔNG VNPT - Pdf 14

NGUYỄ
N THỨC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

NGUYỄN THỨC KIÊN
K

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG ÁN TRIỂN KHAI DỊCH VỤ
IPTV TRÊN MẠNG VIỄN THÔNG VNPT
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
2
0
HÀ NỘI
2008
HÀ NỘI – 2008
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

NGUYỄN THỨC KIÊN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG ÁN TRIỂN KHAI DỊCH VỤ
IPTV TRÊN MẠNG VIỄN THÔNG VNPT
CHUYÊN NGÀNH : KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ
MÃ SỐ:23.060.52.704.3898
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học : TS NGUYỄN KIM LAN
HÀ NỘI - 2008
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1

3.2 Giải pháp kỹ thuật cung cấp dịch vụ IPTV trên mạng viễn thông của VNPT 38
3.2.1 Nguyên tắc tổ chức 38
3.2.2 Cấu trúc tổng quát 40
3.2.3 Yêu cầu về QoS 42
3.3 Giải pháp triển khai dịch vụ IPTV giai đoạn 1 42
3.3.1 Cấu trúc mạng 42
3.3.2 Mô hình hoạt động 44
3.3.3 Yêu cầu về băng thông 47
3.3.4 Yêu cầu tính năng thiết bị, các giao thức cần hỗ trợ 48
3.3.5 Tính toán băng thông 49
3.4 Giải pháp triển khai dịch vụ IPTV giai đoạn 2 51
3.4.1 Cấu trúc mạng 51
3.4.2 Mô hình hoạt động 52
3.4.3 Yêu cầu băng thông 55
3.4.4 Phương án giảm tải mạng core và mạng gom 56
3.4.5 Yêu cầu tính năng thiết bị, các giao thức cần hỗ trợ 58
3.4.6 Tính toán băng thông 59
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
3
TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ATM Asynchronous Transfer Mode
BTV Broadcasting Television
BRAS Broadband Remote Access Server
CATV Cable Television
CDN Content Distribution Network
DSL Digital Subscriber Line
DTV Digital Television
DSLAM Digital Subscriber Line Access Multiplexer
EPG

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng II.1 Khoảng cách và tốc độ truyền tải của VDSL 13
Bảng II.2 Tính năng chia tần (HAM band notching) 14
Bảng II.3 Tốc độ luồng xuống VDSL bất đối xứng 14
Bảng II.4 Tốc độ luồng lên VDSL bất đối xứng 15
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình I.1. Nguyên lý hoạt động của dịch vụ IPTV quảng bá 5
Hình I.2.Nguyên lý hoạt động của dịch vụ IPTV (VoD) 6
Hình II.1 Cấu trúc tổng quát mạng IPTV 8
Hình II.2: TCP/IP đóng gói trong một LAN header 20
Hình II.3: IPv4 Header 21
Hình II.4: TCP và UDP header 22
Hình II.5: IPTV được phát qua truyền dẫn quảng bá và video theo yêu cầu unicast 23
Hình II.6 RTP version 2 header 24
Hình III.1 Mạng đường trục của VNPT 32
Hình III.2: Mô hình kết nối từ mạng lõi đến mạng gom/mạng truy nhập 34
tại các tỉnh thành 34
Hình III.3 Mạng truy nhập và mạng gom tại các tỉnh thành chưa triển khai MEN 36
Hình III.4 Mô hình mạng gom và mạng truy nhập tại các tỉnh thành đã tiến hành triển khai
MEN 37
Hình III. 5 Sơ đồ tổng quát hệ thống cung cấp dịch vụ IPTV 41
Hình III. 6 Mô hình đấu nối hệ thống cung cấp dịch vụ IPTV 43
Hình III. 7: Mô hình S-VLAN trong mạng truy nhập giai đoạn 1 45
Hình III. 8. Truy nhập đầu cuối và địa chỉ IP giai đoạn 1 46
Hình III. 9 Lưu lượng multicast giai đoạn 1 47
Hình III. 10: Mô hình đấu nối giai đoạn 2 52
Hình III. 11 Truy nhập đầu cuối và địa chỉ IP – giai đoạn 2 54
Hình III.12 Lưu lượng Multicast – giai đoạn 2 54
5
MỞ ĐẦU

những chương trình truyền hình thu lại từ hệ thống truyền hình mặt đất, truyền hình
cáp, truyền hình vệ tinh hoặc kênh truyền hình riêng, thông qua STB. Đối với dịch
vụ Video theo yêu cầu (VoD), người xem lựa chọn các video (phim, đoạn video)
trực tiếp từ thư viện của nhà cung cấp để hiển thị trên TV của họ. Thư viện đó có
tính năng tìm kiếm, hiển thị danh sách và miêu tả các nội dung của video. Dịch vụ
VoD còn có các tính năng ghi hình, tạm dừng, chạy tiếp, chuyển nhanh về phía
trước, chuyển nhanh về phía sau, chạy nhanh lên (x) lần, khoá chương trình, loại
phim hoặc nội dung không dành cho trẻ em, giới thiệu chi tiết về các bộ phim. Dịch
vụ xem phim trả tiền, là dịch vụ dựa trên dịch vụ xem phim theo yêu cầu, nhưng chỉ
giới hạn ở một số loại phim trong một thời gian nhất định. Đồng thời, IPTV còn có
thể cung cấp hàng loạt các dịch vụ và ứng dụng khác như: Nhắn tin qua TV, “Vườn
thông tin”, gửi nhận mail qua TV, Trò chơi theo yêu cầu, dịch vụ bình chọn, dịch vụ
cá cược, mua sắm qua TV
Để triển khai thành công dịch vụ IPTV trên mạng viễn thông VNPT, cần có
những nghiên cứu chi tiết, các giải pháp và lộ trình triển khai đúng đắn. Chính vì
vậy:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp: tập trung nghiên cứu về giải
pháp triển khai khả thi dịch vụ IPTV trên mạng VNPT.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: chỉ tập trung vào giải pháp kỹ thuật.
Kết quả của luận văn: là giải pháp khả thi để có thể triển khai được dịch vụ
IPTV trên mạng viễn thông VNPT.
Công cụ và phương pháp nghiên cứu: để hoàn thành luận văn tôi đã dựa
trên nhưng khảo sát thực tế từ đó có những phân tích dựa trên các kết quả khảo sát
và lý thuyết về cấu trúc mạng IPTV để đưa ra cấu trúc mạng. Từ đó có những tính
toán về băng thông trên cơ sở dự báo về số thuê bao dịch vụ, có được giải pháp khả
thi để triển khai dịch vụ IPTV trên mạng viễn thông VNPT.
2
Với mục đích, phạm vi và kết quả nghiên cứu cần đạt được đề ra ở trên, bố
cục của luận văn bao gồm 3 chương và phần kết luận với những nội dung chính
như sau:

IPTV - Internet Protocol TV - là mạng truyền hình kết hợp chặt chẽ với
mạng viễn thông. Nói rộng hơn IPTV là dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng mạng băng
rộng IP phục vụ cho nhiều người dùng (user). Các user có thể thông qua máy vi tính
PC hoặc máy thu hình phổ thông cộng với hộp phối ghép set topbox để sử dụng
dịch vụ IPTV.
IPTV có 2 đặc điểm cơ bản là: dựa trên nền công nghệ IP và phục vụ theo
nhu cầu. Tính tương tác là ưu điểm của IPTV so với hệ thống truyền hình cáp
CATV hiện nay, vì truyền hình CATV tương tự cũng như CATV số đều theo
phương thức phân chia tần số, định trước thời gian và quảng bá đơn hướng (truyền
từ một trung tâm đến các máy tivi thuê bao). Mạng CATV hiện nay chủ yếu dùng
cáp đồng trục hoặc lai ghép cáp đồng trục với cáp quang (HFC) đều phải chiếm
dụng tài nguyên băng tần rất rộng. Hơn nữa kỹ thuật ghép nối modem cáp hiện nay
đều sản sinh ra tạp âm. So với mạng truyền hình số DTV thì IPTV có nhiều đổi mới
về dạng tín hiệu cũng như phương thức truyền bá nội dung. Trong khi truyền hình
số thông qua các menu đã định trước (thậm chí đã định trước hàng tuần, hoặc hàng
tháng) để các user lựa chọn, thì IPTV có thể đề cao chất lượng phục vụ có tính
tương tác và tính tức thời. Người sử dụng (user hoặc viewer) có thể tự do lựa chọn
chương trình TV của mạng IP băng rộng. Với ý nghĩa đúng của phương tiện truyền
thông (media) giữa server và user.
So với VoD (video theo yêu cầu) IPTV có ưu thế là:
1. Sử dùng dễ dàng, hiển thị trên tivi hiệu quả cao hơn màn máy vi tính, thao
tác trên hộp ghép nối + bàn phím đơn giản, thực hiện chuyển đổi nhanh
luồng cao tốc/chương trình.
2. Dễ quản lý, dễ khống chế, sử dụng hộp kết nối làm đầu cuối nhà cung cấp
dịch vụ để tiến hành định chế đối với hộp kết nối không cần đến nghiệp vụ
an toàn và kiểm tra chất lượng. Đây cũng là cơ sở kỹ thuật để dễ thu phí.
IPTV có thể thực hiện các dịch vụ multimedia. Căn cứ vào sự lựa chọn của người
dùng, IPTV cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ. Sử dụng hộp kết nối với tivi, chủ
nhân ngồi trước máy ấn phím điều khiển có thể xem các tiết mục video đang hoạt
động, thực hiện đàm thoại IP có hình, nghe âm nhạc, tra tìm tin tức du lịch trên

3. EGP cho biết địa chỉ của server cần tìm
4. Thuê bao gửi yêu cầu tới server đó.
5. Server dựa theo yêu cầu của thuê bao mà cung cấp nội dung.
Trên đây chỉ là một thí dụ đơn giản nhất. Hiện nay các nhu cầu nghiệp vụ của IPTV
rất đa dạng nên cấu trúc mạng phức tạp hơn nhiều. Chúng ta sẽ phân tích cấu trúc
cơ bản và hoạt động tổng thể của mạng IPTV trong chương II.
Hình I.2.Nguyên lý hoạt động của dịch vụ IPTV (VoD)
6
CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC TỔNG THỂ MẠNG IPTV, CÁC YÊU CẦU
KỸ THUẬT
2.1 Mô hình tổng thể mạng IPTV
Sơ đồ khối biểu thị các chức năng của nghiệp vụ IPTV như hình II.1. Từ
nguồn nội dung tới đầu cuối người dùng có thể chia làm: nghiệp vụ cung cấp và
giới thiệu các nội dung, nghiệp vụ chuyển tải, nghiệp vụ tiếp nối đầu cuối và nghiệp
vụ quản trị.
2.1.1. Mạng nội dung
Mạng này cung cấp và giới thiệu nội dung gồm xử lý nội dung truyền hình
trực tiếp/truyền hình VoD (theo điểm) và xử lý, giới thiệu các ứng dụng gia tăng
(phục vụ tin tức, điện thoại có hình, email, nhắn tin ). Nguồn nội dung truyền hình
trực tiếp/truyền hình VoD không qua hệ thống xử lý nội dung được mã hóa để phù
hợp với luồng media theo yêu cầu qua mạng chuyển tải đưa các luồng này cung cấp
tới các người dùng đầu cuối.
2.1.2. Mạng truyền tải
Đây là mạng cáp IP. Đối với luồng media có hình thức nghiệp vụ không
giống nhau có thể dùng phương thức chuyển đa hướng (multicast) cũng có thể
chuyển theo phương thức đơn kênh. Thông thường, truyền hình quảng bá BTV
truyền đa hướng tới user đầu cuối, truyền hình theo yêu cầu VoD thông qua mạng
cáp phân phát nội dung CDN (Content Distribution Network) tới địa điểm người
dùng đầu cuối.
2.1.3. Mạng đầu cuối (còn gọi là mạng cáp gia đình)

phụ tải toàn cục (GSLB). Trong quá trình truyền đưa multimedia IPTV có thể dùng
khóa mật mã đảm bảo độ an toàn của nội dung truyền dẫn.
IPTV áp dụng các khuyến nghị quốc tế về tiêu chuẩn, như khuyến nghị về
truyền dẫn thời gian thực (RTP), khuyến nghị về khống chế thời gian thực
(RTCP)
IPTV cũng cùng làm việc với máy tính dùng hệ điều hành UNIX, VIC/VAT,
Apple và Quick Time. Hiện nay cách thức mã hóa video của luồng chủ của IPTV
theo MPEG-2, MPEG-4, H.264/AVC; Real Microsoft UWMV-9. Trong đó, MPEG-
2 và MPEG-4 được phát triển mạnh. H.264 là luật mã hóa thị tần của ITU-T đề xuất
thích hợp cho các hệ thống công cộng. Do đó H.264 có khả năng thành cách mã hóa
chính của IPTV.
Như đã nêu ở trên, mạng IPTV mục đích chính là phục vụ cho các hộ gia
đình. Phương thức tiếp nhập băng rộng tới gia đình thường dùng phương pháp truy
nhập ADSL, nhưng vì IPTV thiết lập tới user nghiệp vụ multimedia thời gian thực
và tương tác nên ADSL không thỏa mãn các yêu cầu của IPTV. Cáp quang truyền
dẫn tới tận nhà FTTH được công nhận là phương thức chuyển tải tối ưu. Cáp quang
có băng tần rất rộng và có khả năng truyền dẫn hai hướng đối xứng đảm bảo được
yêu cầu truyền hình ảnh động theo hai hướng với chất lượng cao.
Thiết bị đầu cuối IPTV trong gia đình có 2 loại: một là máy vi tính PC, hai là
máy TV + hộp kết nối STB. Hộp STB thực hiện 3 chức năng sau:
a. Nối tiếp vào mạng băng tần rộng, thu phát và xử lý số liệu IP và luồng
video.
b. Tiến hành giải mã luồng video MPEG-2, MPEG-4, WMV, Real đảm bảo
video VoD hiển thị lên màn hình ti vi các số liệu
c. Phối hợp với bàn phím đảm bảo HTML du lịch trên mạng, tiến hành gửi
nhận email. Hộp STB đảm nhiệm các nhiệm vụ trên chủ yếu dựa vào bộ vi
xử lý.
Để kết luận ta thấy IPTV ứng dụng kỹ thuật streaming media, thông qua
mạng băng rộng truyền dẫn tín hiệu truyền hình digital đến các thuê bao. Các thuê
9

không thể đạt được băng thông cần thiết thông qua việc sử dụng ADSL. Vậy nên
10
các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng FTTN kết hợp với công nghệ ADSL2+ để cung
cấp dịch vụ IPTV cho khách hàng.
2.2.1 Công nghệ ADSL
Chuẩn ADSL đã được đưa ra bởi ITU trong khuyến nghị G.992.1 Theo như
chuẩn đó, sự hoạt động tại tốc dộ tải dữ liệu lên tới 8Mbps và đường lên là 768kbps
cho công ty điện thoại được hỗ trợ với khoảng cách lên tới 5000 m. Trong ADSL,
kênh thoại chiếm khoảng 4KHz, không ảnh hưởng tới các kênh dữ liệu, bởi sử dụng
các khối tần số xa tần số từ 0-4KHz sử dụng cho thoại. Vì tốc độ dữ liệu là cân
xứng với băng thông, băng tần tải xuống là rộng hơn rất nhiều so với băng tần
đường lên.
Điều chế : Có 3 phương thức điều chế được sử dụng bởi ADSL cho việc mã hoá dữ
liệu: điều chế biên và pha không sóng mang (CAP), điều chế đa âm rời rạc DMT,
và một công nghệ đơn giản hoá DMT được sử dụng bởi thiết bị đi kèm với chuẩn
G.lite. Điều chế CAP có thể được coi như một phiên bản không chuẩn của điểu chế
biên vuông góc (QAM). Trong QAM, một tín hiệu sóng mang khử nhiễu ở hai mặt
băng tần được xây dựng từ hai tín hiệu điều biên xung đa cấp (PAM) vuông pha
với nhau CAP có kết quả như cùng một định dạng của tín hiệu QAM. Tuy nhiên,
nó không yêu cầu các thành phần vuông góc và pha của sóng mang được sinh ra
đầu tiên. CAP đã là một chuẩn phổ biến của ADSL sử dụng cho tới tận giữa những
năm 1990 khi mà việc sử dụng DMT tăng, và bây giờ trở thành phương thức điều
chế ưa chuộng. Trong DMT, băng tần đường lên và đường xuống được chia thành
các dải tần nhỏ liên tiếp nhau khoảng 4KHz và được coi là các kênh phụ. Các bít dữ
liệu được điều chế sử dụng QAM ở mỗi kênh phụ, lên tới 15 bit cho một kênh phụ
được mã hoá khi truyền trên một đường âm lượng tốt. Bởi DMT cho phép băng
thông truyền được phân chia thành các kênh phụ liên tiếp nhau mà có thể hoặc
không thể được sử dụng phụ thuộc vào chất lượng của đường dây. Kỹ thuật điều
chế này cho phép các đặc tính khác biệt của mỗi đường dây có một tốc độ truyền
lớn nhất. cả học viện các tiêu chuẩn quốc gia Mỹ (ANSI) và ITU đều chỉ định rõ

xuống gần gấp đôi tại khoảng cách lên đến 1000 m, với việc tăng tốc độ dữ liệu
đường xuống của ADSL2+ , độ dài của mạch nội bộ cũng tăng lên.
Thêm vào đó, việc tăng băng thông lên tới 2.2MHz, ADSL2+ bao gồm một
chế độ lựa chọn vận hành mà có thể sử dụng hai lần băng thông đường lên. Tuy
nhiên, vì việc lướt web và sử dụng IPTV dẫn tới các yêu cầu đường lên nhỏ đi cùng
với dữ liệu đường xuống truyền lớn, sự lựa chọn này có thể không quan trọng đối
với hầu hết các thuê bao ADSL2+.
12
2.2.4. Công nghệ VDSL
VDSL là công nghệ mới và có sức mạnh nhất trong họ xDSL, cung cấp cho
người dùng tốc độ truyền tải lên đến 50Mbps trên đường truyền dây xoắn trong
trong khoảng cách ngắn, từ 300m ~ 1300m. Các phiên bản của VDSL hỗ trợ cả
công nghệ truyền đối xứng và bất đối xứng, rất thích hợp cho các ứng dụng truyền
tải hai chiều mang tính chất cân bằng. VDSL hỗ trợ tốc độ truyền tải dữ liệu khác
nhau, tốc độ này phụ thuộc vào khoảng cách truyền tải, được minh hoạ như bảng
II.1 dưới đây:
Bảng II.1 Khoảng cách và tốc độ truyền tải của VDSL
Tốc độ truyền tải (Mbps)
Đường xuống/Đường lên
Khoảng cách truyền tải (m)
(Sử dụng dây đồng 26-AWG)
52/30
54/13
26/26
22/13
13/13
10/10
6/6
16/1
300

Tần số đầu band (kHz) Tần số cuối band (kHz)
1810
3500
7000
10100
2000
3800 (ETSI); 4000 (ANSI)
7100 (ETSI); 7300 (ANSI)
10150
Chính nhờ những những ưu điểm trên mà VDSL đã là sự lựa chọn hàng đầu
cho các nhà cung cấp dịch vụ khi cung cấp các dịch vụ đòi hỏi tốc độ cao như:
IPTV, Internet tốc độ cao, video theo yêu cầu, đào tạo từ xa Mặc dù như chúng ta
đã biết tốc độ và khoảng cách truyền tải luôn tỉ lệ nghịch với nhau, tuy nhiên ở
khoảng cách truyền tải khoảng 13,5km VDSL vẫn đáp ứng được tốc độ cần thiết để
cung cấp các dịch vu trên.
Chính nhờ tính ứng dụng cao, VDSL đã được ANSI phát triển thêm một số
phiên bản có tốc độ cao, có tính ứng dụng cao hỗ trợ cả SONET và SDH.
Bảng II.3 Tốc độ luồng xuống VDSL bất đối xứng
14
Khoảng cách Tốc độ bit (MBps) Tốc độ baud (MBd)
Khoảng cách ngắn
300m
51.84
38.88
29.16
25.92
12.96
12.96
9.72
12.96

3.24
0.81
0.81
0.81
Khoảng cách trung bình
1000m
3.24
2.43
1.68
0.405
0.405
0.405
15
Khoảng cách dài
1350m
3.24
2.43
1.62
0.405
0.405
0.405
Về các phương pháp điều chế sử dụng trong họ công nghệ xDSL nói chung
và VDSL nói riêng, bao gồm 2 phương pháp chính: thứ nhất là sự kết hợp giữa
phương pháp điều biên pha không sử dụng sóng mang và phương pháp điều biên
cầu phương (CAP/QAM), thứ hai là phương pháp đa âm rời rạc (DMT).
DMT sử dụng đa sóng mang trong việc điều chế, áp dụng vào VDSL DMT
sử dụng phương pháp điều chế số FFT với số lượng sóng mang lên tới 4096. Bên
cạnh đó nhờ các cơ chế đặc biệt và linh hoạt trong việc điều chỉnh công suất, điều
chỉnh số bit dùng để điều chế và cơ chế quản lý chất lượng tín hiệu thông qua hệ số
tạp âm/nhiễu (S/N) mà DMT mang lại thông lượng truyền tải và chất lượng tín hiệu

truyền tải của VDSL lên đến 1.3km
c. Fiber-to-the-neighborhood (FTTN)
Cấu hình này tương tự với cấu hình FTTB, tuy nhiên lúc này các đường cáp
quang có thể truyền dẫn đến gần với khách hàng hơn, cho phép hệ thống có thể
cung cấp cho khách hàng các dịch vụ cao cấp hơn như là DHTV theo yêu cầu hoặc
các dịch vụ tương tự.
d. Fiber-to-the-curb (FTTC)
Cấu hình này tốt hơn so với FTTN do cáp quang có thể kéo gần đến người sử
dụng hơn. Tuy nhiên, cấu hình có thể dẫn đến việc phải sử dụng các giải pháp như
chôn cáp khi chạy cáp quang qua các khu vực đường giao thông.
e. Fiber-to-the-building (FTTB)
Trong cấu hình này, cáp quang chạy trực tiếp tới các toà nhà lớn. Để đảm
bảo hiệu năng về mặt kinh tế, cấu hình này chỉ nên áp dụng cho những khu nhà nằm
ở vùng ngoại ô và là những tổ hợp gồm nhiều khu nhà.
f. Fiber-to-the-home (FTTH)
Đây là cấu hình cuối cùng và là cấu hình cung cấp dịch vụ chất lượng nhất
của VDSL. Cáp quang chạy truẹc tiếp tới nhà hoặc các công sở sẽ cung cấp một
băng thông rất lớn cho người sử dụng, có thể lên đến 155Mbps. Tuy nhiên, do hạn
17
chế về cơ sở hạ tầng nên trong thực tế người ta chỉ triển khai các đường truyền có
tốc độ tối đa từ khoảng 10 ~ 40Mbps.
2.2.5 Mạng cáp quang
Mặc dù mạng cáp quang thụ động (PON) đã được phát minh tại các phòng
thí nghiệm viễn thông của Anh vào năm 1982, nhưng cho tới tận năm 1987 nó mới
sớm được thử nghiệm. Năm 1993, Deutsche Telecom bắt đầu việc lắp đặt cấu trúc
mạng PON trên diện rộng. Việc sử dụng một mạng PON dẫn tới việc lắp đặt các
thành phần quang thụ động mà hướng các luồng thông tin dựa trên việc phân chia
các công suất của bước sóng quang tới các điểm cuối. Nhà cung cấp dịch vụ bỏ
được các thành phần chủ động, giảm được giá thành khai thác vận hành.
Các loại hình chung của các mạng cáp quang thụ động:

bao, khả năng làm việc của thiết bị định tuyến đầu ra của thuê bao và chủng loại
công nghệ mạng gia đình mà thuê bao đó sử dụng.
2.3. Bộ giao thức TCP/IP và IPTV, các giao thức sử dụng trong mạng IPTV
Trong phần này, chúng ta xem xét hai vấn đề. Đầu tiên chúng ta sẽ xem xét
các đặc tính chính của bộ giao thức TCP/IP. Sau đó sẽ xem xét cách thức truyền
video trên môi trường IP.
2.3.1 Bộ giao thức TCP/IP
Nói đến việc truyền video thì có hai loại là loại thời gian thực và loại phát
lại. Loại thời gian thực yêu cầu một bộ đệm jitter để giảm hẳn sự biến động trễ khi
chúng truyền qua mạng IP. Loại phát lại thì sẽ được lưu giữ và xem lại sau trên máy
tính, iPod hay thiết bị khác không yêu cầu sử dụng bộ đệm jitter. Ở đây chúng ta sẽ
tìm hiểu về bộ giao thức TCP/IP cũng như kiến trúc của nó.
Bộ giao thức TCP/IP không còn gì xa lạ với kỹ thuật hiện nay. Nó là giao
thức phân lớp như mô hình OSI. Tuy nhiên, nó chỉ có năm lớp, được minh hoạ
trong hình II.2, tương ứng với mô hình OSI.
19
Hình II.2: TCP/IP đóng gói trong một LAN header
Segment và datagram
Đây là các thuật ngữ được sử dụng để chỉ các tiêu đề được thêm vào trước
khối dữ liệu ứng dụng. Tiêu đề TCP thêm vào trước khối dữ liệu ứng dụng được gọi
là segment TCP. Tiêu đề UDP thêm vào trước khối dữ liệu ưng dụng là datagram
UDP. Cả thông tin của segment TCP lẫn datagram UDP đều xảy ra ở tầng vận
chuyển của bộ giao thức TCP/IP. Nhìn vào hình II.2 ta cũng thấy khi thêm một tiêu
đề IP vào trước segment TCP hay datagram UDP sẽ được một datagram IP. Các
tiêu đề TCP và UDP nhận dạng ứng dụng được truyền qua sử dụng số cổng đích
cũng như nhânj dạng dữ liệu được truyền đi bởi một datagram IP và bên khởi đầu
và bên nhận datagram. Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng mà ta sử dụng TCP hay
UDP. Khi cần độ tin cậy và theo tuần tự thì dùng TCP. Còn khi không yêu cầu độ
tin cậy và tuần tự thì sử dụng UDP. Trong thực tế, với các ứng dụng internet truyền
thống người ta sử dụng giao thức truyền tải là TCP, tuy nhiên nó lại không phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status