MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ V
DANH MỤC CÁC BẢNG VI
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ INTERNET VÀ LƯU LƯỢNG IP 3
1.1. Mạng Internet 3
1.1.1. Lịch sử phát triển của Internet 3
1.1.2. Tổ chức của mạng Internet 4
1.2. Tổng quan về lưu lượng IP 6
1.2.1. Các loại lưu lượng trên Internet 6
1.2.1.1. Lưu lượng thoại 6
1.2.1.2. Lưu lượng dữ liệu 7
1.2.2. Các gói tin, luồng lưu lượng IP 9
1.2.2.1. Khái niệm luồng lưu lượng IP 9
1.2.2.2. Cơ chế kết thúc luồng 11
1.2.3. Các thuộc tính của luồng lưu lượng IP 11
1.2.4. Sự cần thiết phải phân loại lưu lượng IP 16
1.3. Mô hình lưu lượng IP 17
1.4. Kết luận chương 17
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP BẮT GIỮ VÀ PHÂN TÍCH LUỒNG
LƯU LƯỢNG IP 18
2.1. Các phương pháp bắt giữ lưu lượng IP trên Internet 18
2.1.1 Đo lường thụ động 21
2.1.1.1 Tiến trình bắt giữ gói lưu lượng 22
2.1.1.2 Tiến trình phân tích thô dữ liệu gói bắt được 23
2.1.1.3 Đo lường mạng đường trục 26
2.1.1.4 Đo lường mạng nội bộ 27
2.1.1.5 Đo lường mạng quay số (Dial- up và ADSL) 28
2.1.2 Phương pháp nén dữ liệu đo và kỹ thuật lấy mẫu lưu lượng IP 29
Such that Thỏa mãn
∃
there exists Tồn tại
⇒
implies Nghĩa là, hàm ý
⇔
implies and is implied by Bao hàm và kéo theo bởi
{ }
i
x
the set whose elements are
i
x
Tập gồm các phần tử là
i
x
∈
belonging to Thuộc
¥
the set of all natural integers Tập các số tự nhiên nguyên
¢
the set of all integer numbers Tập các số nguyên
¡
the set of all real numbers Tập các số thực
( )f t
The value of
(.)f
at t Giá trị của
(.)f
tại thời điểm t
RTT Round Trip Time Trễ từ phía phát -> phía thu-> phát
TTL Time To Live Thời gian sống của gói tin trên
mạng
IV
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1-1. Ví dụ về một mạng ISP 5
Hình 1-2: Cấu trúc gói tin UDP (UDP packet) 9
Hình 1-3: Cấu trúc gói tin TCP 10
Hình 2.1: Đồ thị log-log CCDF của các phân bố vệt dài 42
Hình 2-2: thuật toán mô phỏng 2 LCO DTMCS thoả mãn điều kiện (2.10) và
(2.11) 45
Với điều kiện (2.10) và (2.11), thuật toán được nêu ở hình 2.2 mô phỏng 2 LCO
DTMCS X và Y, để có X ≤lc Y. Điều kiện (2.11) bảo đảm trước khi Y đạt giá
trị lớn nhất, tình trạng X mà dựa trên đó X chuyển tiếp. Vì vậy, khi X và Y bắt
đầu từ 1 mức chung, thủ tục này dẫn đến, Xn ≤ Yn n ≤ inf {m € : Ym = sup I}
và cũng dẫn đến kết quả X ≤lc Y. 45
Hình 2-3: thuật toán mô phỏng LCO SMPS với vector xác suất sinh p thoả
mãn điều kiện (2.12) và (2.13) 46
Hình 2-4: Thuật toán mô phỏng 2 LCO CTMCS với vector sinh xác suất p
thoả mãn điều kiện (2.14) và (2.15) 49
Hình 3-1: Sơ đồ mô hình đề xuất 62
Hình 3-2: Đầu dữ liệu vàolà các thiết bị như switch, router, network card, 63
Hình 3-3: Các gói tin được bắt giữ và lấy mẫu dựa theo IP Header trước khi
đưa vào phần phân loại và phân tích luồng theo cơ chế học tự động. 63
Hình 3-4: Các ứng dụng có thể lấy dữ liệu trực tiếp từ các gói được bắt giữ,
hoặc lấy dữ liệu từ các luồng thu thập, hoặc lấy kết quả từ khâu phân loại
luông và học tự động. 64
V
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1-1: Các thuộc tính chung của các luồng 12
• Điều khiển truy nhập: giúp giải quyết tình trạng tắt nghẽn mạng cũng
như đảm bảo việc phân bố tài nguyên mạng dễ dàng, hợp lý.
Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu các phương pháp xây dựng mô hình bắt
giữ, phân tích và nhận dạng các luồng lưu lượng trên Internet để từ đó làm cơ sở
1
cho việc xây dựng mô hình tự động nhận dạng và phân chia lưu lượng theo các
nhóm ứng dụng khác nhau.
Về bố cục, luận văn gồm có 3 chương chính với các nội dung như sau:
Chương 1: Tổng quan về Internet và lưu lượng IP.
Chương 2: Các phương pháp bắt giữ và phân tích luồng lưu lượng IP.
Chương 3: Mô hình tự động nhận dạng, phân loại lưu lượng IP trên Internet
và đề xuất ứng dụng.
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tâm và
sự giúp đỡ tận tình của TS Nguyễn Gia Thái. Tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ quý
báu của Khoa Quốc tế và Đào tạo sau Đại học Học viện Công nghệ Bưu chính-Viễn
thông, của các đồng nghiệp của tôi ở Viễn thông Thừa Thiên-Huế.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Gia Thái, người thầy trực tiếp
hướng dẫn tôi viết bản luận văn này, đã dành cho tôi nhiều thời gian và những chỉ
dẫn vô cùng quý báu bằng cả một tấm lòng của một người thầy. Tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến thầy giáo chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo trong khoa Khoa Quốc tế
và Đào tạo sau Đại học, Học viện Công nghệ Bưu chính-Viễn thông đã quan tâm
truyền đạt giảng dạy kiến thức và các kỹ năng cơ bản, đến đồng chí Giám đốc và
các đồng nghiệp trong Viễn thông Thừa Thiên-Huế đã tạo điều kiện cho tôi được
học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng gửi tới gia đình tôi, bạn bè thân thiết đã dành cho tôi
nhiều tình thương, sự ưu ái và nâng đỡ tôi trong những khó khăn để tôi hoàn thành
luận văn.
Với mục đích tìm hiểu và triển khai trong thực tế những kết quả nghiên cứu
được, tuy nhiên do hạn chế về thời gian cũng như khả năng của bản thân nên những
kiến thức trình bày trong luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tôi mong nhận được
(National Science Foundation) đã tạo ra mạng NSFNET, kết nối 5 trung tâm siêu
máy tính khu vực với nhau để cung cấp một mạng xương sống tốc độ cao toàn quốc
trên khắp Hoa Kỳ. Các máy tính nhanh và mạnh nhất thế giới được đưa vào sử dụng
3
cho cộng đồng các giáo sư đại học và các nhà khoa học. Mạng NSFNET đã dựa trên
kiến trúc TCP/IP của ARPANET. Lúc này, một người dùng ngồi tại đầu cuối ở
trường đại học Standford ở California có thể nối máy tới các máy tính chủ kết nối
vào Internet và truy cập tới bộ sưu tập đa dạng của các kho lưu trữ tại MIT
(Massachusets Institute of Technology). Các máy chủ trên NSFNET còn cung cấp
các Gateway tới các mạng khu vực và nội hạt khác.
Tập hợp các mạng được kết nối với nhau này được gọi một cách đơn giản là
“Internet”. Các máy tính chủ của mạng đã dùng (và cho tới nay vẫn dùng) bộ giao
thức TCP/IP. Trong khoảng thời gian đó, công việc nghiên cứu về Internet đã thay
thế vai trò của mạng ARPANET và vào năm 1990, ARPANET chính thức ngừng
hoạt động.
Nói một cách tổng quát [7], Internet là mạng diện rộng (WAN), bao gồm
hàng nghìn các mạng máy tính trải rộng khắp thế giới, giúp cho hàng triệu người sử
dụng trên trái đất có thể thông tin, trao đổi với nhau. Các học viện đào tạo, các thư
viện, các cơ quan chính phủ, các trung tâm nghiên cứu, các dịch vụ trực tuyến và
các doanh nghiệp đại diện cho các loại mạng khác nhau đã được kết nối với nhau
trên khắp hành tinh để hình thành nên Internet. Sự phát triển nhanh như vũ bão của
Internet mà hiện tại cứ tháng này lại tăng gấp đôi so với tháng trước, đã dẫn đến cái
gọi là “Xa lộ thông tin” (Information Super Highway). Ngoài ra, nó còn là những
nguồn tài nguyên vô giá cho các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục, các quan chức
chính phủ, các thủ thư, Internet đã trở thành một công cụ thiết yếu cho mọi cá thể
đang sử dụng thư điện tử, đang nghiên cứu và thực tế là mọi hoạt động liên quan
đến việc thu thập thông tin.
1.1.2. Tổ chức của mạng Internet
Mạng Internet bao gồm các mạng LAN (Local Area Networks) và mạng
MAN (Metropolitan Area Networks) được liên kết với nhau bởi một mạng đường
trong Erlang tương ứng với thời gian sử dụng tài nguyên trên một khoảng thời gian.
Phân bố thống kê đối với các xuất hiện cuộc gọi được coi là phân bố Poisson với
thời gian giữa các lần xuất hiện tuân theo phân bố mũ. Giả sử hệ thống có số lượng
kênh hạn chế, do lưu lượng được hỗ trợ lớn nhất có thể nhỏ hơn lưu lượng dự kiến
nên có thể hệ thống sẽ không gán kênh khi một khách hàng muốn thực hiện cuộc
gọi. Xác xuất của nó gọi là xác xuất khóa cuộc gọi hoặc mức dịch vụ. Đối với lưu
lượng dự kiến là A erlang, số các kênh đồng thời cần thiết cho hệ thống là N phụ
thuộc vào mức dịch vụ đưa ra. Có hai cách để tính xác xuất khóa cuộc gọi phụ
thuộc vào đáp ứng hệ thống khi nhận được yêu cầu thực hiện cuộc gọi khi tất cả các
kênh đều bận. Trường hợp thứ nhất là từ chối ngay yêu cầu và người sử dụng nhận
được chỉ thị không thành công và có thể thử lại nếu muốn. Nó được mô hình hóa
bởi công thức Erlang B thu được từ hệ thống hàng đợi M/M/c/c như là xác suất tất
cả các server đều bận. trường hợp thứ hai là hệ thống yêu cầu đưa vào hàng đợi và
cho phếp đợi một thời gian (trễ). Nếu thời gian đợi vượt quá một ngưỡng, yêu cầu
sẽ bị loại bỏ và người sử dụng nhận được chỉ thị không thành công và có thể thử lại
nếu muốn. Cơ chế này được gọi là trễ cuộc gọi khóa và mức dịch vụ đo kiểm được
định nghĩa như là xác suất thời gian đợi vượt quá độ trễ cho phép. Nó được mô hình
hóa bởi công thức Erlang C thu được từ hệ thống hàng đợi M/M/c. Các công thức
này cho phép tính toán trực tiếp tham số GoS và lưu lượng dự kiến A là những biến
độc lập và phải tính toán số các kênh yêu cầu N để phục vụ hệ thống. Đây là vấn đề
của định cỡ.
6
Mô hình Erlang B: Xác suất không có server (hệ thống bận)[2]:
0
!
!
N
k
N
k
−
=
+ −
÷
∑
(1.2)
Trong đó:
T = Độ trễ lớn nhất cho phép trước khi cuộc gọi mới bị khóa.
τ = Thời gian giữ cuộc gọi trung bình.
A = Tổng lưu lượng mà hệ thống có thể hỗ trợ.
N = Tổng số kênh.
GOS = Xác xuất cuộc gọi mới bị khóa.
1.2.1.2. Lưu lượng dữ liệu
Đối với liên kết lưu lượng, một số các tham số điển hình được sử dụng để
đặc tính hóa nguồn lưu lượng như tốc độ dữ liệu đỉnh, tốc độ dữ liệu trung bình, lưu
lượng bùng nổ [1]. Các biến được định nghĩa như sau:
- Tốc độ dữ liệu đỉnh: tốc độ dữ liệu lớn nhất được tạo ra bởi một nguồn
lưu lượng trong khoảng thời gian điển hình.
- Tốc độ dữ liệu trung bình: số dữ liệu tạo ra từ nguồn trong một khoảng
thời gian nhất định, thường là bps hoặc packet per second. Việc tính toán
thường được diễn ra trong khoảng thời gian dài.
- Burstiness: Mô tả nguồn gửi lưu lượng không thường xuyên. Công thức
đơn giản tính toán như sau:
PeakDataRate
Burstiness=
AverageDataRace
(1.3)
7
1.2.2.1. Khái niệm luồng lưu lượng IP
Một trong những định nghĩa sơ khởi nhất về luồng lưu lượng Internet đó là:
"chuỗi các gói liên tục truyền bởi một ứng dụng hoặc dịch vụ nào đó trên Internet".
Cụm từ "liên tục" ở đây phản ánh mong muốn xử lý các luồng lưu lượng một cách
đồng nhất về thời gian nhằm đáp ứng hai mục đích quan trọng: thứ nhất (i) người ta
muốn làm cho khái niệm luồng lưu lượng có càng nhiều ý nghĩa vật lý càng tốt theo
đó chúng có thể đại diện cho việc truyền tải một tài liệu hay một đối tượng TCP
hoặc các pha hoạt động của các kết nối âm thanh/ hình ảnh của UDP và thứ hai (ii)
là các luồng lưu lượng được định nghĩa phải cung cấp đủ thông số đầu vào cho các
mô hình hiệu suất.
0 16 31
Source Port(Cổng nguồn) Destination Port(Cổng đích)
Length(độ dài) Checksum
User Data(dữ liệu người dùng)
User Data(dữ liệu người dùng)
….
Hình 1-2: Cấu trúc gói tin UDP (UDP packet)
Khi nghiên cứu về hoạt động của các ứng dụng chạy trên giao thức TCP, người
ta thường định nghĩa luồng lưu lượng là tập hợp các gói truyền giữa hai ứng dụng
trên mạng Internet và nằm trong khoảng giữa hai cờ SYN/RESET và FIN, thể hiện
thời điểm bắt đầu và kết thúc một kết nối TCP. Hay khi nghiên cứu về các đặc tính
lưu lượng của một ứng dụng cụ thể trên Internet, như http hay ftp, người ta lại sử
dụng định nghĩa luồng lưu lượng là tập hợp các gói thuộc một phiên làm việc cụ thể
của giao thức ứng dụng tương ứng.
9
0 16 31
Source port Destination port
Sequence number
Acknowledgment number
Offse
dẻo, theo đó có thể xác định luồng lưu lượng là tập hợp các gói trao đổi trên các
mức khác nhau. Ngoài ra nó cũng giúp giải quyết các vấn đề gặp phải khi định
nghĩa luồng lưu lượng theo giao thức truyền dẫn (TCP) hay theo phiên làm việc của
ứng dụng, như vấn đề các gói thuộc một luồng nhưng lại đi theo các tuyến đường
khác nhau hay vấn đề mất gói vv…
Luồng lưu lượng IP đề cập trong luận văn này có khoá bao gồm các thông số:
địa chỉ IP nguồn, địa chỉ IP đích, cổng ứng dụng nguồn, cổng ứng dụng đích và chỉ
số nhận dạng giao thức TCP. Ngoài ra hai gói liên tiếp được xem là thuộc cùng một
luồng nếu chúng không cách nhau quá một khoảng thời gian cho trước gọi là thời
gian time-out. Nếu không một luồng mới sẽ được tạo ra.
1.2.2.2. Cơ chế kết thúc luồng
Trong quá trình phân tích luồng, ngoài việc định nghĩa khoá, cũng cần phải xác
định các cơ chế bắt đầu và kết thúc của một luồng lưu lượng. Thực tế hiện nay các
nhà nghiên cứu hay sử dụng ba phương pháp cơ bản để xác định sự kết thúc của
một luồng lưu lượng, bao gồm: phương pháp dựa trên cơ chế hoạt động của giao
thức, phương pháp thời gian Time-out cố định và phương pháp thời gian Time-out
thích ứng.[5] Với phương pháp dựa trên hoạt động của giao thức, người ta xác định
trạng thái của một luồng lưu lượng bằng cách quan sát một số bản tin đặc biệt của
giao thức (ví dụ các cờ SYN, FIN hoặc RST trong giao thức TCP). Còn trong
phương pháp thời gian Time-out cố định, luồng lưu lượng được xem là kết thúc khi
thời gian từ lúc nhận được gói cuối cùng vượt quá một giá trị ngưỡng cho trước là
thời gian time-out. Trong phương pháp thời gian time-out thích ứng thì việc xác
định giá trị time-out của luồng là một cơ chế phức tạp hơn nhiều, theo đó thời gian
time-out thay đổi theo từng luồng và được tính dựa trên tốc độ gói quan sát được
của luồng tương ứng.
1.2.3. Các thuộc tính của luồng lưu lượng IP
11
Để mô tả nguồn lưu lượng, chúng ta sử dụng các thuộc tính đặc trưng của nó.
Ngoài mục đích đặc tính hoá các luồng lưu lượng, việc định nghĩa tập thuộc tính
của nó còn cho phép đưa ra phương pháp đo lường phù hợp.
(gói có phần tải tin #0)
Liên tục
6. Hướng một
số gói đầu
Xác định hướng truyền của một số gói đầu
tiên của luồng (≤10)
Chuỗi 10 giá
trị rời rạc lấy
12
1: hướng từ nút khởi tạo luồng đến nút đáp
ứng
-1: theo hướng ngược lại
giá trị -1
hoặc1
7. Tỷ lệ dữ
liệu
Tỷ lệ giữa tổng số byte dữ liệu (chỉ tính phần
tải tin) truyền bởi phía khởi tạo luồng và bởi
phía đáp ứng luồng
Liên tục
8. Phân bố
I.A.T gói
Phân bố rời rạc khoảng thời gian giữa các thời
điểm đến (I.A.T) của các gói thuộc luồng, thể
hiện bởi một chuỗi 9 bin giá trị liên tục. Giá
trị của mỗi bin nằm giữa 0 và 1 thể hiện tỉ lệ
tương đối các gói có I.A.T nằm trong bin đó
chuỗi 9 giá
trị liên tục
9. Phân bố
trong luồng lưu lượng
Liên tục
Bảng 1-2: Các thuộc tính trên mỗi hướng của luồng
ST
T
Thuộc tính Mô tả Kiểu giá trị
1 Phân bố Phân bố rời rạc thể hiện bằng chuỗi 9 giá trị Chuỗi 9 giá trị
13
I.A.T gói
liên tục, là các khoảng giá trị của các khoảng
thời gian giữa các thời điểm đến của các gói
trên hướng đang xét. Giá trị trong mỗi bin
nằm trong khoảng 0 và 1 thể hiện tỉ lệ tương
đối các gói nằm trong bin đó
liên tục
2
Phân bố tải
tin
Phân bố rời rạc chiều dài phần tải tin của các
gói, thể hiện bởi một chuỗi 23 giá trị liên
tục. Các giá trị liên tục này thực ra là các bin
giá trị của chiều dài phần tải tin của mỗi gói.
Giá trị trong mỗi bin nằm trong khoảng 0 và
1
Chuỗi 23 giá trị
liên tục
3 Số byte
Tổng số byte truyền (bao gồm cả các byte
phần tiêu đề lớp mạng và lớp vận chuyển)
trên hướng xét
13 Các thuộc tính thể hiện phiên làm việc kiểu tương tác dòng lệnh
αdl Dấu hiệu thể hiện sự thay đổi về thời lượng
giữa các lần phát gói (đối với các gói dòng
Liên tục
14
lệnh)
βdl Dấu hiệu tương tác dựa trên tỷ lệ các gói nhỏ Liên tục
γdl
Dấu hiệu về sự xuất hiện liên tục của các gói
nhỏ
Liên tục
δdl Dấu hiệu về kiểu truyền kết hợp Liên tục
εdl
Dấu hiệu về sự không bình thường (đồng bộ)
của thời lượng giữa các gói của các gói nhỏ
liên tiếp
Liên tục
19
Các thuộc tính thể hiện phiên làm việc kiểu truyền file
αdl
Dấu hiệu thể hiện sự thay đổi về thời lượng
giữa các lần phát gói trong quá trình truyền
file
Liên tục
βdl
Dấu hiệu về kiểu truyền dữ liệu dựa trên tỷ
lệ gói lớn
Liên tục
γdl
Dấu hiệu về sự xuất hiện liên tục của các gói
tỉa tin của các gói
Liên tục
28 αptb
Dấu hiệu thể hiện mức độ gần với trị trung
tâm của độ dài phần tải tin của các gói (thể
hiện tính không đổi của độ dài phần tải tin)
Liên tục
15
1.2.4. Sự cần thiết phải phân loại lưu lượng IP
Lưu lượng Internet tăng không ngừng do sự phát triển của các ứng dụng và
các thuê bao mới. Những nguyên nhân dẫn đến yêu cầu phải hiểu và đo được các
mẫu và đặc tính lưu lượng:
- Để hiểu được tầm vĩ mô cấu trúc của toàn bộ mạng, phục vụ cho việc quy
hoạch mạng và tối ưu mạng:
+ Thiết kế, vận hành và quản lý lưu lượng mạng, nghĩa là cân bằng tải
lưu lượng và hiệu suất sử dụng tài nguyên mạng để tương thích tốt nhất với cấu
hình mạng hiện có, loại bỏ các vấn đề như sự xung đột và các vấn đề tương tự.
+ Phát hiện và loại bỏ các giao thức không cần thiết, làm tăng hiệu
quả mạng IP.
+ Phát hiện các định tuyến không tối ưu.
+ Định giá và tính cước.
- Để cung cấp QoS phù hợp cho các ứng dụng (từ tầm vĩ mô tới các luồng
lưu lượng, các phiên truyền và các kết nối):
Cấu hình mạng có thể rất linh động và tự thích ứng tốt; các tài nguyên mạng
có thể phân chia lại để cung cấp QoS phù hợp cho các ứng dụng trong các trường
hợp như: tốc độ truyền dẫn, độ trễ, jitter, mất gói và các nguyên nhân tương tự. Việc
đo đạc và điều khiển thời gian thực rất cần thiết để đáp ứng QoS theo yêu cầu.
- Phát hiện những yếu tố bất thường ảnh hưởng đến an ninh mạng:
Nhiệm vụ này bao gồm việc phát hiện những nguy hiểm tiềm năng ảnh
hưởng đến lưu lượng mạng, chỉ ra vị trí, nguyên nhân của sự cố, thực hiện các thao
hiện tại không thể đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi cho việc giám sát chính
xác QoS của các ứng dụng IP. Do đó, luận văn nêu bật yêu cầu cần phải phát triển
những phương thức và mô hình giám sát lưu lượng mạng IP mới.
17
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP BẮT GIỮ VÀ PHÂN TÍCH LUỒNG
LƯU LƯỢNG IP
2.1. Các phương pháp bắt giữ lưu lượng IP trên Internet
Có rất nhiều lý do phải thực hiện thu thập lưu lượng Internet và đo lường các
thông số liên quan của nó. Tuy nhiên, có thể tóm tắt theo 3 mục tiêu chính là:
- Phục vụ việc nghiên cứu đặc tính và sự biến thiên của lưu lượng.
- Giám sát hiệu suất hoạt động và chất lượng dịch vụ của mạng.
- Điều khiển truy nhập tài nguyên và cung cấp chất lượng dịch vụ (QoS)
mạng.
Hai mục tiêu sau liên quan chặt chẽ với nhau và chỉ khi khác nhau trên
phương diện thang thời gian của phép đo. Bảng 2-1 dưới đây trình bày các phép đo
điển hình trong mạng Internet và ứng dụng tương ứng của chúng.
Bảng 2-1: Một số phép đo điển hình trên mạng Internet
Ứng dụng
đối với:
Phép đo Mục đích
Nhà cung
cấp dịch
vụ
(ISP/IXP)
• Hệ số sử dụng băng thông
• Số lượng gói /giây
• RTT(round trip time)
• Biến thiên RTT
• Tỉ lệ mất gói
• Khả năng kết nối
(ứng dụng)
• Thoả thuận mức dịch
vụ
• Thiết lập mức chất
lượng
• Tối ưu hoá việc phân
phát nội dung
• Lập kế hoạch sử dụng
Nhà sản
xuất thiết
bị mạng
• Lấy mẫu lưu lượng
• Phân tích log file
• Phân bố kích thước gói,
cụm, luồng, lưu lượng và
phiên làm việc
• Phân ATI gói, luồng và
phiên làm việc
• Cải thiện thiết kế và
cấu hình thiết bị
• Cho phép giải quyết sự
cố thiết bị thời gian
thực
Một cách tóm tắt, có thể phân loại các thông số cần đo của mạng Internet thành
4 nhóm như sau:
- Các thông số đo lường hệ số sử dụng mạng, bao gồm: số lượng gói, số lượng
byte, lưu lượng đỉnh, phân bố lưu lượng giữa các ứng dụng và giao thức.
- Các thông số đo lường hiệu suất, như: RTT (trên các khớp khác nhau), tỉ lệ
huỷ gói, hay tỉ lệ gói va chạm trong các mạng cấu hình bus.
- Các thông số về hệ sẵn sàng, bao gồm độ sẵn sàng đường đi, độ sẵn sàng của